Xử lý trường hợp lao động mang thai không đáp ứng được yêu cầu công việc

Chủ đề   RSS   
  • #553852 31/07/2020

    linhtrang123456
    Top 50
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/12/2017
    Tổng số bài viết (990)
    Số điểm: 6750
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 148 lần


    Xử lý trường hợp lao động mang thai không đáp ứng được yêu cầu công việc

    Đối với trường hợp này thì sẽ có 02 trường hợp xảy ra là cho nghỉ việc hoặc chuyển vị trí công tác khác so với hợp đồng lao động.

    Về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải đảm bảo theo Điều 38
    Bộ luật Lao động 2012:

    "Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

    1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

    a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

    b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

    Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

    c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

    d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này."


    Nếu không đáp ứng được công việc, không hoàn thành thì cần phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Căn cứ vào đó để xác định không hoàn thành công việc mới có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng.

    Thứ hai, về điều chuyển công việc khác theo Điều 31 Bộ luật lao động 2012:

    "Điều 31. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

    1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

    2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động."


    Chỉ theo các trường hợp trên mới được điều chuyển công việc khác.

    Do đó, trong trường hợp nêu trên thì nên thỏa thuận với người lao động có thể thỏa thuận cho họ nghỉ, hoặc thỏa thuận chuyển sang công việc khác (ký lại hợp đồng mới hoặc ký phụ lục hợp đồng thay đổi nội dung công việc mới).

     
    138 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận