DanLuat 2015

xin luật sư tư vấn giúp ! tôi xin cảm ơn.

Chủ đề   RSS   
  • #359447 28/11/2014

    phuonghunter

    Sơ sinh

    Thái Nguyên, Việt Nam
    Tham gia:22/11/2014
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    xin luật sư tư vấn giúp ! tôi xin cảm ơn.

    Tôi năm nay 35 tuổi kết hôn với vợ tôi năm 2004, năm nay vợ tôi 32 tuổi.

    chúng tôi có 1 con chung năm nay cháu được 9 tuổi. Khi con tôi được 1 tháng tuổi vợ tôi nói với tôi rằng ở nhà nội toàn đàn ông (gồm cha mẹ tôi và 3 chú em chưa ai lập gia đình) mẹ tôi thì ốm đau nên cô ấy muốn vợ chồng tôi chuyển vào nhà bố mẹ đẻ cô ấy ở tạm (hai gia đình cách nhau chưa đầy 1 km ) để các chị gái cô ấy giúp chăm sóc 2 mẹ con mới sinh cho tiện , tôi thấy hợp lý và nghe theo

    . Thế rồi ở lâu thành 1 năm , sau đó chúng tôi lại ở nhờ trông nhà hộ ông anh trai vợ , anh này bị mắc tệ nạn xã hội và đã bỏ vợ.

    Năm 2008  bố mẹ vợ tôi cho vợ  tôi mảnh đất ngay sát nhà ông bà. Chúng tôi đã xây nhà trên mảnh đất này  và ở đó từ đó đến nay.

    Cách đây 1 năm vợ chồng tôi cãi nhau và cô ấy vứt quần áo tôi ra đường và đuổi tôi, vì sĩ diện tôi đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ nhưng hàng ngày vẫn về ngủ với vợ con, nhưng cách đây 6 tháng cô ấy nhất quyết không cho tôi vào nhà tôi đã nhiều lần xin lỗi và mong hàn gắn nhưng cô ấy không nghe và đòi ly hôn và chúng tôi ly thân từ đó đến nay, tôi nghĩ vợ giận nên mới dọa thế nên tôi tạm lánh đẻ cô ấy nguôi ngoai thì sẽ quay về xin lỗi.

    Nhưng gần đây cô ấy hay nhắn tin gọi điện cho người khác nên tôi nghĩ cô ấy đã có người khác. Tuy rằng lỗi của tôi rất nhiều và tôi vẫn còn rất yêu cô ấy nhưng tôi không cho phép mình tiếp tục sống với người đã thay lòng đổi dạ nên tôi đã đòng ý ly hôn.

    Tôi xin luật sư tư vấn giùm tôi phải làm gì để giành được quyền nuôi con vì nói muốn sống với tôi cháu ghét mẹ vì cú nhất quyết đói ly hôn trong khi bố thì lám hết sức để hàn gắn. Còn về tài sản thì tôi có được hưởng gì không ?

    Tôi nghĩ đất thì chắc chắn bố mẹ cô ấy cho riêng cô ấy vì tôi không phải ký giấy tờ nhà đất gì. Nhưng còn cái nhà và xe máy tôi cũng đã bỏ ra bao nhiêu công sức  và đóng ghóp. Vậy mà bây giờ cô ấy nói tôi khong có gì và không chịu chia tài sản.

    Tôi thuê luật sư thì có tiện không và chi phí hết bao nhiêu ?  Tôi xin trân thành cảm ơn

     
    2154 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #359481   28/11/2014

    trunghieu6592
    trunghieu6592
    Top 150
    Male
    Lớp 2

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2014
    Tổng số bài viết (401)
    Số điểm: 3627
    Cảm ơn: 33
    Được cảm ơn 126 lần


    Căn cứ luật hôn nhân gia đinh:

    Điều 92. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

    1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

     

    Căn cứ Nghị quyết số 02/200/NQ-HĐTP

     

    11. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92). 

    Khi áp dụng quy định tại Điều 92 cần chú ý một số điểm sau đây: 

    a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. 

    Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con. 

    b. Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý. 

    c. Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. 

    d. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai. 

    Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác.

     

    Do đó việc nuôi con phải dựa trên lợi ích giữa 2 bên đồng thời ý muốn của đứa tre trong trường hợp của bạn. Tôi thấy bạn có lợi về mặt pháp lý hơn vợ bạn. Hãy nhẫn mạnh điều này tại tòa để dành được quyền nuô con nhé. 

    về tài  sản: Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

    1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

    2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

    a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

    3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

     

    Nếu tài sản nào bạn có công sức đóng góp đều được chia phù hợp. 

    Việc cuối cũng là thuê luật sư... vấn đề này mình nghĩ là nên tại vì họ có kinh nghiệm trong giải quyết tranh châp như thế này. bạn sẽ đỡ tốn thời gian đồng thời quyền lợi của bạn sẽ được đảm bảo hơn. 

    chi phí còn tùy vào khả năng tài chính của bạn.... nhưng xin nhở răng "Luật sư không phải chỉ bào chữa cho người có tiền bạn nhé" 

    chúc bạn thành công 

     
    Báo quản trị |  
  • #359495   28/11/2014

    Anlhk33-DLU
    Anlhk33-DLU
    Top 50
    Male
    Lớp 6

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/05/2011
    Tổng số bài viết (834)
    Số điểm: 7856
    Cảm ơn: 215
    Được cảm ơn 331 lần


    Chào anh

    Về trường hợp của anh tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất: Về ly hôn

    Nếu hai bên đều đồng thuận ly hôn - tức là thuận tình ly hôn thì vợ anh, hoặc anh có thể làm đơn ly hôn sau đó hai bên ký vào đơn ly hôn. Việc thuận tình ly hôn thì tòa án sẽ tiến hành giải quyết nhanh hơn so với việc đơn phương ly hôn. Trong trường hợp không có yêu cầu chia tài sản thì đây là việc dân sự theo quy định tại điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngược lại nếu không thống nhất hoặc tranh chấp về tài sản thì đây là vụ án dân sự theo điều 28 Bộ luật TTDS thì Thời gian giải quyết tương đối lâu. 

    Khi ly hôn tòa sẽ xem xét căn cứ cho ly hôn dựa trên những cơ sở sau:

    Khoản 1, Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn.

    - Tại Khoản 1, Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về căn cứ cho ly hôn do tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa án quyết định cho ly hôn.

    - Theo điểm a, mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định rõ thêm tình trạng vợ, chồng trầm trọng khi: Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.

    Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như: Thường xuyên đánh đập hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. Vợ chồng không chung thủy với nhau như: Có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

    Thứ hai: Về việc chia tài sản sau khi ly hôn

    Việc chia tài sản chung của 2 vợ chồng sẽ tuân theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau:

    “1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết...

    2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

    a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình...”

    Theo đó, trong trường hợp của bạn thì tài sản chung là ngôi nhà sẽ được chia đôi, có tính đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.

    Để chứng minh được anh đã đóng góp công sức nhiều hơn hoặc ngang bằng để đươc chia phần tài sản xứng đáng với công sức của mình thì anh phải đưa ra các dẫn chứng để chứng minh mình đóng góp công sức  vào ngôi nhà của 2 vợ chồng anh Ví dụ đóng góp tiền và công sức trong những lần sửa chữa, tu bổ nhà, hay đóng góp nhiều tiền hơn khi mua nhà…

    Đồng thời Tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

    Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

    Tài sản riêng của vợ, chồng

    Theo khoản 1, Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

    Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1, Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

    Nếu thửa đất đó mà bố vợ bạn chỉ tặng cho vợ bạn thì quyền sử dụng đất khi ly hôn sẽ không được chia. Ngược lại sau khi tặng cho vợ bạn đồng ý nhập vào khối tài sản chung thì sau khi ly hôn tòa án sẽ tiến hành chia đôi thửa đất

    Tại điểm b, Mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định cụ thể về việc giải quyết trường hợp có tranh chấp tài sản như sau:

    Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng.

    Nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1, Điều 32. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3, Điều 27  tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

    Theo quy định tại Điều 79 Bộ Luật tố tụng dân sự, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp; Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh; Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

    Tòa án sẽ đánh giá khách quan, toàn diện các chứng cứ gồm: giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp, lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định… để xác định ngôi nhà do người chồng đứng tên trên Giấy chứng nhận là tài sản riêng của chồng hay là tài sản chung của vợ chồng.

    Thứ ba: Về quyền nuôi con

    Theo Điểm d mục 11 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định cụ thể về vấn đề trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

    “d. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai.

    Như vậy, trường hợp của anh, tùy thuộc vào việc người con sẽ lựa chọn sống với bố hoặc  mẹ. Đồng thời Tòa sẽ xem xét vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần để quyết định người nuôi con

    Trân trọng!

     

    Cập nhật bởi Anlhk33-DLU ngày 28/11/2014 10:06:59 SA Lỗi

    Hãy theo đuổi đam mê, thành công sẽ đến với bạn.

    Hotline: 0989.422.798. Luật sư - Hãng luật Hai Nguyen & Cộng Sự. Lya BuilDing, phòng 12 A, Chung cư Viện chiến lược Bộ Công An, Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Website: http://lamchuphapluat.vn/

    Tư vấn luật miễn phí: http: http://duongleuocan.blogspot.com/

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-