DanLuat 2015

Xin hỏi về việc đất đai bị lấn chiếm

Chủ đề   RSS   
  • #503283 27/09/2018

    cuongtrananh19

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/09/2018
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin hỏi về việc đất đai bị lấn chiếm

    Gia đình có bán giấy tay cho hộ dân với diện tích 15x25 vào năm 1993, sau đó hộ dân này tách ra thành 2 lô dt 7x25 và 8x25, trong quá trình sử dụng thì 2 hộ trên đã cơi nới sử dụng lấn chiếm thành 7x27 và 8x27. Khi gia đình phát hiện có yêu cầu địa chính phường giải quyết nhưng địa chính phường chỉ xuống xem thôi ko giải quyết. Sau đó hộ dân 7x27 có đơn xin sửa chữa nhà, gia đình yêu cầu sửa nhà đúng diện tích đã mua 7x25, không được xây thêm phần lấn chiếm và có phản ảnh phường thì phường nói rằng phường tạo điều kiện cho người dân sửa chữa nhà, gia đình đồng ý nhưng phải chừa ra phần lấn chiếm, nhưng không hiểu vì sao hộ này canh ngày Chủ Nhật lợp luôn mái tôn phần lấn chiếm.

    Sau đó gia đình có gửi phản ảnh lên quận, thì cán bộ địa chính phường chụp hình nhà "sau khi sửa xong" báo cáo lãnh đạo quận là nhà này có hiện trạng từ trước, nên gia đình khiếu nại là vô căn cứ.

    Sau đó gia đình phản ảnh lần 2 lên quận thì phường trả lời về nguồn gốc đất của 2 hộ này, có 1 hộ có giấy xác nhận của phường là đất được mua từ năm 1982, và phường xã ký đóng dấu vào năm 1992, trong khi gia đình bán nguyên lô 15x25 duy nhất 1 tờ giấy tay năm 1993, việc phường xã ký đóng mộc vào năm 1992 là vô lý vì ký trước khi gia đình bán năm 1993, việc phường xã ký xác nhận khống và hộ dân kê khai sai sự thật như vậy nên có gửi phản ảnh lên quận và quận không trả lời

    Sau đó thì phường có tổ chức hòa giải, hòa giải lần 1 thì 2 hộ dân kia không đi dự (cố tình vắng mặt), hòa giải lần 2 thì cũng cố tình vắng mặt, sau đó phường ra thông báo "Thông Báo Về Việc Giải Quyết Tranh Chấp" có nội dung như sau:

    "Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; Quyết định số 06/2018/QĐ-UBND ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quy định về giải quyết tranh chấp đất đai và cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực thi hành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân phường đã có Thông báo số 235/TB-UBND ngày 19 tháng 9 năm 2018 về việc giải quyết tranh chấp đất gửi cho ông"

    Phường giải thông báo trên và không giải thích gì thêm, khi hỏi phường thì phường trả lời "cầm văn bản này kiện ra tòa" hoặc "khiếu nại lên cấp trên" ở phường chỉ giải quyết hòa giải, không có chức năng xử lý tranh chấp đất đai 

    Xin hỏi luật sư thuvienphapluat thì phường trả lời như vậy đúng chưa? Và bước tiếp theo của việc khiếu nại tranh chấp đất lấn chiếm sau khi hòa giải 2 lần không thành như vậy thì bước tiếp theo gia đình nên làm gì để xử lý vụ lấn chiếm từ 15 x25 thành 15x27 này ạ?  Xin luật sư tư vấn. Xin cám ơn

     
    523 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #503362   27/09/2018

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1253)
    Số điểm: 7022
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 343 lần
    Lawyer

    Với câu hỏi trên, Luật sư giải đáp như sau:

    Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

    “1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

    2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

    4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp…”.

    Và Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

    “Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

    1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

    2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

    a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

    b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

    3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

    a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

    b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

    4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.

    Căn cứ vào các quy định trên thì phường trả lời "cầm văn bản này kiện ra tòa" hoặc "khiếu nại lên cấp trên" ở phường chỉ giải quyết hòa giải, không có chức năng xử lý tranh chấp đất đai là đúng với quy định của pháp luật.

    Theo thông tin bạn đã cung cấp thì bạn đã phản ánh tình trạng đến UBND cấp

    Huyện tuy nhiên vẫn chưa được giải quyết, do vậy, trong trường hợp này, bạn nên khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

    Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

0 Thành viên đang online
-