DanLuat 2015

Xin hỏi về Nguyên đơn dân sự? (trong vụ án hình sự)

Chủ đề   RSS   
  • #303527 21/12/2013

    hasosa
    Top 100
    Male
    Lớp 5

    Quảng Ninh, Việt Nam
    Tham gia:09/03/2010
    Tổng số bài viết (472)
    Số điểm: 6693
    Cảm ơn: 153
    Được cảm ơn 127 lần


    Xin hỏi về Nguyên đơn dân sự? (trong vụ án hình sự)

    Trong vụ án hình sự có một “người tham gia tố tụng” gọi là Nguyên đơn dân sự.

    Theo Điều 52 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Nguyên đơn dân sự có thể là tổ chức và phải có đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.

    Tôi có thắc mắc tại sao vừa qua doanh nghiệp nơi người bạn tôi làm việc vẫn được Tòa triệu tập trong 01 vụ án xét xử hình sự sơ thẩm với tư cách là Nguyên đơn dân sự trong khi doanh nghiệp đó không hề có “đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại(do doanh nghiệp đó không hề bị thiệt hại. Sự vụ của doanh nghiệp đó là  do bị mất trộm ô tô nhưng phát hiện được ngay và ngăn chặn kịp thời).

    Mong các luật sư và các bạn cho ý kiến tư vấn để mình hiểu được vấn đề hơn!

    Xin cảm ơn!

     

    Điều 52. Nguyên đơn dân sự

    1. Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    2. Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:

    a) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

    b) Được thông báo về kết quả điều tra;

    c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

    d) Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;

    đ) Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn;

    e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

    g) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại.

    3. Nguyên đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại.

    3 điều làm nên giá trị con người: Siêng năng – Chân thành – Thành đạt

     
    27209 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #303532   21/12/2013

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4082)
    Số điểm: 31556
    Cảm ơn: 917
    Được cảm ơn 1887 lần


    Chào bạn hasona.

    Căn cứ vào luật tố tụng hình sự :

    Điều 74. Vật chứng

    Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.

    Điều 75. Thu thập và bảo quản vật chứng

    1. Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

    Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản.

    2. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn và hư hỏng. Việc niêm phong, bảo quản vật chứng được thực hiện như sau:

    a) Đối với vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong phải được tiến hành theo quy định của pháp luật và phải lập biên bản để đưa vào hồ sơ vụ án;

    b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc các cơ quan chuyên trách khác;

    c) Đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;

    d) Đối với vật chứng là hàng hoá mau hỏng hoặc khó bảo quản nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 76 của Bộ luật này thì cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại kho bạc nhà nước để quản lý;

    đ) Đối với vật chứng đưa về cơ quan tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan thi hành án có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

    3. Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng, phá huỷ niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại vật chứng của vụ án, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 310 của Bộ luật hình sự; trong trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 300 của Bộ luật hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Điều 76. Xử lý vật chứng

    1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

    2. Vật chứng được xử lý như sau:

    a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

    b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

    c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

    d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

    đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

    3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

    4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

    Do đó, chiếc xe ô tô bị mất trộm và đang là vật chứng, dù vật chứng đang được giao cho doanh nghiệp quản lý. Việc giao trả lại chiếc xe ô tô cho chủ sở hửu là đương nhiên, nhưng phải được xem xét trong quá trình xét xử và ghi rỏ trong bản án.

    Muốn chính thức nhận lại chiếc xe ô tô thì doanh nghiệp phải tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự và yêu cầu nhận lại xe.

    Trân trọng. 

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    hasosa (21/12/2013)
  • #303536   21/12/2013

    hasosa
    hasosa
    Top 100
    Male
    Lớp 5

    Quảng Ninh, Việt Nam
    Tham gia:09/03/2010
    Tổng số bài viết (472)
    Số điểm: 6693
    Cảm ơn: 153
    Được cảm ơn 127 lần


    Cảm ơn bạn nhiều!

    Mình muốn hỏi thêm bạn trường hợp doanh nghiệp đó không tham dự phiên tòa đó và không có đơn yêu cầu gì đó thì liệu có bị tòa xử lý vật chứng (là chiếc ô tô) theo hướng không trả lại cho doanh nghiệp hay không?

    Câu hỏi tiếp theo có liên quan là Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đó có thể ủy quyền cho một nhân viên trong doanh nghiệp đó thay mặt mình tham dự phiên tòa hay không? Việc ủy quyền thực tế các Tòa có yêu cầu khắt khe không (giấy ủy quyền phải đúng mẫu, hay phải đủ các nội dung cần thiết…)?

    Mong bạn cũng như các luật sư, thành viên khác trên diễn đàn này tư vấn giúp.

    Trân trọng!

    3 điều làm nên giá trị con người: Siêng năng – Chân thành – Thành đạt

     
    Báo quản trị |  
  • #303549   22/12/2013

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4082)
    Số điểm: 31556
    Cảm ơn: 917
    Được cảm ơn 1887 lần


    Chào bạn.

    Điều 52. Nguyên đơn dân sự

    1. Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    Như vậy, nếu không có có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì về nguyên tắc họ không phải là nguyên đơn dân sự. Nên không cần và không có tư cách nguyên đơn dân sự để tham gia tố tụng, việc người đó tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn dân sự có thể là vi phạm tố tụng.

    Tuy nhiên, họ vẫn phải có mặt tại phiên toà với tư cách là người làm chứng nếu TA thấy cần thiết.

    Điều 52. Nguyên đơn dân sự

    2. Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:

    …..

    …..

    Như vậy họ có quyền tham gia tố tụng thông qua người đại diện hợp pháp : người giám hộ hoặc người nhận uỷ quyền.

    Đối với tài sản là xe ô tô mà bạn nói thì nếu chủ xe không có yêu cầu thì TA sẽ có quyền không xem xét và đề nghị giải quyết trong một vụ án dân sự khác.

    Tuy nhiên, trong thực tế không ai lại tự gây rắc rối và không hợp tác như bạn đã giả định vì công dân có trách nhiệm giúp đở cơ quan tố tụng đấu tranh chống lại người gây thiệt hại cho mình chứ.:'(

    Trân trọng.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    hasosa (22/12/2013)
  • #369619   29/01/2015

    Bạn có thể tham khảo bài viết này của Th.S Đinh Văn Quế nhé!

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự thì Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    Nếu căn cứ vào quy định trên thì nguyên đơn dân sự, nếu là cá nhân cũng giống như người bị hại, vì người bị hại cũng là người bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra. Vậy tiêu chí nào để phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự là cá nhân ? Thực tiễn xét xử rất ít trường hợp cá nhân bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra mà Toà án lại xác định là nguyên đơn dân sự, vì hầu hết họ đã là người bị hại. Nếu nguyên đơn dân sự đồng thời là người bị hại thì Toà án chỉ xác định họ là người bị hại mà không cần phải xác định họ là nguyên đơn dân sự nữa vì quyền của người bị hại đã bao gồm cả quyền của nguyên đơn dân sự. Ví dụ: Nguyễn Văn K bị Hoàng Văn B cố ý gây thương tích có tỷ lệ thương tật là 62%, tuy K tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại, nhưng K vẫn có quyền yêu cầu B hoặc người đại diện hợp pháp của B ( nếu có) bồi thường những thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn có cá nhân là nguyên đơn dân sự. Ví dụ: A có chiếc xe máy Dream cho B mượn, nhưng B lại bị C dùng vũ lực cướp chiếc xe này trong khi B đang đi trên đường và đem bán lấy 10 triệu đồng ăn tiêu hết. Khi vụ án bị phát hiện, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định chiếc xe bị chiếm đoạt là của A, nên đã đưa A vào tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự, còn B là người bị hại.

    Người bị hại dù có đơn yêu cầu hay không thì họ cũng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là người bị hại, nhưng nguyên đơn dân sự mà không có đơn yêu cầu thì cơ quan tiến hành tố tụng không được xác định họ là nguyên đơn dân sự. Đây là tiêu chí để phân biệt cá nhân là nguyên đơn dân sự với người bị hại, nhưng cũng là tiêu chí để cơ quan tiến hành tố tụng xác định nguyên đơn dân sự là cơ quan, tổ chức. Thực tiễn xét xử có trường hợp cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, theo quy định của pháp luật thì họ đúng là nguyên đơn dân sự nhưng họ không có đơn yêu cầu, thậm chí họ cho rằng họ không phải là nguyên đơn dân sự nên từ chối tham gia tố tụng.

    Tình huống 1: Ngân hàng Y cho Công ty X do Nguyễn Văn A phó giám đốc đại diện vay 900 triệu. Đến hạn không thấy Công ty X trả mới biết sau khi vay được tiền Nguyễn Văn A đã chiếm đoạt toàn bộ 900 triệu đồng và bỏ trốn. Sau khi bắt được A, Cơ quan điều tra mời Đại diện ngân hàng Y tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự nhưng đại diện của ngân hàng Y cho rằng ngân hàng cho Công ty X vay thì Công ty X phải có nghĩa vụ trả nợ ngân hàng chứ không yêu cầu A phải bồi thường. Khi xét xử Toà án vẫn xác định ngân hàng Y là nguyên đơn dân sự và quyết định buộc Nguyên Văn A phải bồi thường cho ngân hàng Y 900 triệu đồng. 

    Câu hỏi: Việc Toà án xác định ngân hàng Y là nguyên đơn dân sự và quyết định buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ngân hàng 900 triệu đồng có đúng không ?

    Đáp: Việc Toà án xác định ngân hàng Y là nguyên đơn dân sự là chính xác, vì tuy ngân hàng không yêu cầu Nguyễn Văn A bồi thường nhưng đã có yêu cầu Công ty X bồi thường. Trong trường hợp này Toà án xác định người phải có trách nhiệm bồi thường là Nguyễn Văn A chứ không phải là Công ty X. Việc Toà án quyết định trong bản án buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ngân hàng 900 triệu đồng là chính xác.

    Tình huống 2: Giả thiết trong ví dụ trên, ngân hàng Y không làm đơn yêu cầu Nguyễn Văn A bồi thường mà khởi kiện Công ty X ra Toà  kinh tế và yêu cầu Công ty X phải bồi thường cho ngân hàng Y 900 triệu. Khi xét xử vụ án hình sự Toà án không xác định ngân hàng Y là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và không buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ngân hàng Y.

    Câu hỏi: Việc Toà án không xác định ngân hàng Y là nguyên đơn dân sự và không quyết định buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ngân hàng 900 triệu đồng có đúng không ?

    Đáp: Việc Toà án không xác định ngân hàng Y là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và không buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ngân hàng là đúng. Tuy nhiên, trong bản án của Toà án phải nhận định (xét thấy) rằng, trong vụ án này nguyên đơn dân sự là ngân hàng Y và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án này là Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ngân hàng Y 900 triệu, nhưng vì ngân hàng Y không có đơn yêu cầu bồi thường mà khởi kiện Công ty X ra Toà kinh tế nên Toà án không xét. Tất nhiên, khi xét xử vụ án kinh tế, Toà án kinh tế sẽ bác yêu cầu của ngân hàng Y. Ngân hàng Y chỉ có thể khởi kiện Nguyễn Văn A ra Toà dân sự để yêu cầu A bồi thường cho mình.

    Thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra bao gồm những thiệt hại do người phạm tội trực tiếp gây ra và những thiệt hại do người phạm tội gián tiếp gây ra. Ví dụ: A tham ô số tiền là 500.000.000 đồng và do hành vi tham ô này của A nên đã gây thiệt hại cho Công ty không hoàn thành kế hoạch sản xuất, nợ ngân hàng quá hạn không trả phải chịu lãi suất cao tính ra thiệt hại do việc A tham ô lên tới 200.000.000 đồng, Công ty có đơn yêu cầu Toà án buộc A phải bồi thường 500.000.000 đồng A tham ô và 200.000.000 đồng là thiệt hại gián tiếp do hành vi tham ô của A gây ra.

    Đối với trường hợp thiệt hại do người có hành vi phạm tội trực tiếp gây ra nhưng thiệt hại về vật chất đó không phải là hậu quả của tội phạm do người có hành vi phạm tội thực hiện mà đó chỉ là thiệt hại do hành vi thực hiện một tội phạm khác gây ra, thì theo chúng tôi người bị thiệt hại cũng được coi là nguyên đơn dân sự. Ví dụ: Một số người gây gổ đánh nhau trong rạp hát, trong lúc đánh nhau đã dùng gạch đá ném làm một số người bị thương nhẹ phải nằm bệnh viện điều trị và không xác định được ai đã gây ra thương tích cho những người này. Các người gây gổ đánh nhau bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng, còn đối với những người bị thương nhẹ đều có đơn yêu cầu phải bồi thường thiệt hại do hành vi gây rối trật tự công cộng gây ra, những người này cũng là nguyên đơn dân sự.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-