DanLuat 2015

vu khống

Chủ đề   RSS   
  • #363691 19/12/2014

    vu khống

    Cho hỏi khi chưa có cơ quan chức năng phán quyết mà nói mình có tội(lời nói của xếp em).Cho hỏi có phải là vu khống không,tội đó sự nặng không,theo điều mấy khoản mấy và phạt tiền gì không

    em xin cám ơn

     
    2530 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #363745   20/12/2014

    nguoitruongphu
    nguoitruongphu
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2014
    Tổng số bài viết (1090)
    Số điểm: 9134
    Cảm ơn: 87
    Được cảm ơn 294 lần


    trangcanhbinh2001 viết:

    Cho hỏi khi chưa có cơ quan chức năng phán quyết mà nói mình có tội(lời nói của xếp em).Cho hỏi có phải là vu khống không,tội đó sự nặng không,theo điều mấy khoản mấy và phạt tiền gì không

    em xin cám ơn

    Chỉ có Tòa Án mới có quyền kết tội Công dân ...QĐ của TA mới có giá trị pháp luật....

    Căn cứ khoản 1 Điều 122 Bộ luật hình sự quy định về Tội vu khống thì: “Vu khống là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền”.

    Như vậy, theo quy định trên, một người chỉ bị coi là phạm tội vu khống khi và chỉ khi có một trong các hành vi sau đây:

     Hành vi thứ nhất: Bịa đặt

    Theo Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 Phần các tội phạm của thạc sỹ luật học Đinh Văn Quế - Chánh án Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao thì: “Bịa đặt là đưa ra những thông tin không đúng sự thật, tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có với người khác như: không tham ô thì bảo là tham ô, không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ…”. Hình thức đưa ra những thông tin nói trên có thể dưới những dạng khác nhau như: truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác… Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết những thông tin mình đưa ra là không đúng sự thật nhưng đã thực hiện nhằm mục đích xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

    Hành vi thứ hai: Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt.

    Người phạm tội tuy không bịa đặt nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng v.v... Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết. Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

    Hành vi thứ ba: Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    Đây là dạng hành vi đặc biệt của hành vi phạm tội vu khống. Là hành vi tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền (Công an, Viện kiểm sát…) về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực. Trong trường hợp này, cần lưu ý là người phạm tội biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố giác họ.

    Căn cứ khoản 1 Điều 122 BLHS thì Tội vu khống có khung hình phạt là: “phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

    Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 122 BLHS quy định người thực hiện hành vi phạm tội vu khống thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm: “a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Đối với nhiều người; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình; đ) Đối với người thi hành công vụ; e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”.

     

    Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị “phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” (Khoản 3 Điều 122 BLHS)

    Cho dù em có xem anh là kẻ thù !Anh vẫn xem em là bạn ,bởi vì nếu không có em ( tức kẻ thù) ,thì lấy ai đâu ...để anh vượt qua thử thách?

    nguoitruongphu

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguoitruongphu vì bài viết hữu ích
    ntdieu (20/12/2014)