DanLuat 2015

Về vấn đề bỏ tiền cọc phòng trọ

Chủ đề   RSS   
  • #411151 26/12/2015

    knightpt

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/12/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Về vấn đề bỏ tiền cọc phòng trọ

    Tôi có thuê 1 phòng trọ với giá 2tr2 , chủ nhà yêu cầu cọc 1 tháng và đóng tiền nhà trước khi vào ở nữa. nhưng tôi ứng trước 1tr2 tiền cọc, 2 bên chưa làm hợp đồng gì với nhau. Nhưng mới ở được vài ngày, nhà ở nảy sinh nhiều vấn đề tôi không thể chấp nhận được. Tôi đã nói với chủ nhà, cảm thấy không được nên tôi muốn dọn đi, và có ý muốn lấy lại tiền cọc nhà, thì chủ nhà nói không được, phải tìm người cho chủ nhà thì mới đưa lại 1 phần cọc. Sau đó 2 ngày chủ nhà nói với bạn tôi là muốn đi thì phải trả thêm 1tr tiền cọc còn thiếu nữa. Bây giờ nếu tôi kiên quyết dọn đi, thì chủ nhà có quyền giữ tài sản của tôi lại không? Vì hôm qua tranh luận, chủ nhà yêu cầu tôi phải đóng thêm 1tr để đúng 1 tháng tiền cọc là 2tr2. Và trả lại tiền internet cho cổ , vì chúng tôi mới lắp chung internet cáp quang FTTH đóng trước 6 tháng với giá 1tr2, mỗi bên chịu 600k. Cô bảo tôi đi thì trả cổ 500k tiền mạng nữa. Vì quá bức xúc nên giờ tôi muốn dọn đi ra thì chủ nhà có quyền giữ tôi lại không? nếu chủ nhà giữ đồ đạc tôi lại không cho tôi đi thì phải làm sao ? Phường có quyền giúp tôi hoặc chủ nhà xử lý vấn đề này không?

     
    1949 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #444687   02/01/2017

    Chào bạn,
     
    Trong bài viết của mình ngày 26/12/2015, bạn đề cập về việc bạn đã thuê một phòng trọ nhưng chưa thể hiện bằng văn bản và theo thoả thuận của hai bên, bạn phải đặt cọc 2.200.000 đồng để đảm bảo việc giao kết hợp đồng thuê nhà, bạn đã đóng 1.200.000 đồng. Bạn cũng đã thoả thuận với chủ nhà về việc lắp đặt Internet, mỗi bên chịu 600.000 đồng, bạn chưa thanh toán cho chủ nhà số tiền này. Bạn có thắc mắc về việc nếu muốn dọn đi khỏi phòng trọ thì chủ nhà có quyền giữ tài sản của bạn hay không. Vì việc đặt cọc và thuê nhà của bạn, theo bạn cung cấp, là vào năm 2015, do đó, các giao dịch này được điều chỉnh bởi BLDS 2005. Cụ thể về các vấn đề mà bạn thắc mắc, dựa trên các thông tin mà bạn cung cấp cùng các quy định pháp luật, tôi có một số ý kiến như sau:
     
    1. Bạn muốn dọn đi thì chủ nhà có quyền giữ tài sản của bạn không?
        Thứ nhất, đối với hợp đồng đặt cọc, theo điều 358, BLDS 2005 thì phải lập thành văn bản:
     
    “Điều 358. Đặt cọc
    1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.
    Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.”
     
    Và do vậy, căn cứ khoản 2, Điều 122, vì pháp luật đã có quy định về điều kiện hình thức của việc đặt cọc, do đó hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu  lực của giao dịch, hay nói cách khác, đối với hợp đồng đặt cọc, nếu hai bên không lập thành văn bản thì có khả năng bị vô hiệu nếu một trong hai bên có quyền yêu cầu toà án tuyên hợp đồng vô hiệu.
     
     “Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
    2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”
     
    Điều này cũng có nghĩa rằng, nếu các bên không yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, thì hợp đồng đặt cọc giữa bạn và chủ nhà có hiệu lực. 
     
    Ở đây, bạn và chủ nhà thoả thuận về việc bạn phải đặt cọc trước một khoản tiền để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng thuê nhà. Và theo thông tin bạn cung cấp, tuy hợp đồng thuê nhà giữa hai bên chưa thể hiện ra bằng văn bản nhưng thực tế hai bên đã đồng ý giao kết hợp đồng thuê nhà, thể hiện ở chỗ: bạn đã vào ở được vài ngày, và chủ nhà vào thời điểm bạn chuyển đến, cũng đã đồng ý cho bạn vào ở nhà mà bạn đã thuê. Như vậy, hợp đồng thuê nhà giữa hai bên đã được giao kết, do đó, căn cứ Khoản 2, Điều 358, “Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; trừ trường hợp có thoả thuận khác.” 
     
    Như vậy, trong trường hợp hai bên đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc giao két hợp đồng và hợp đồng thuê nhà đã được giao kết thì chủ nhà có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền mà bạn đã đặt cọc, trừ trường hợp tại thời điểm thoả thuận việc đặt cọc, hai bên có thoả thuận khác.
     
    Lưu ý là cung như hợp đồng đặt cọc, hợp đồng thuê nhà cũng buộc phải lập thành văn bản theo quy định tại điều 492, Bộ luật dân sự.
     
    "Điều 492. Hình thức hợp đồng thuê nhà ở
    Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
     
    Do đó, hợp đồng thuê nhà sẽ có hiệu lực, trừ trường hợp một trong hai bên yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì vi phạm quy định về hình thức theo quy định tài khoản 2 Điều 122, điều 492 Bộ luật dân sự 2005.
     
    Lưu ý là các bên chỉ có quyền yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu vì vì không tuân thủ điều kiện về hình thức trong thời hạn 2 năm kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập theo khoản 1 Điều 136:
     
    “Điều 136. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
    1. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.”
     
    Trường hợp không bên nào yêu cầu toà án tuyên hợp đồng thuê nhà vô hiệu, bạn có nghĩa vụ thực hiện đúng các thoả thuận giữa hai bên, như về nghĩa vụ đóng tiền nhà cho chủ nhà. Ở đây, bạn có đề cập đến việc chủ nhà yêu cầu đóng tiền nhà trước khi vào ở và bạn cũng đã vào ở được mấy ngày, nhưng chưa nói rõ bạn đã đóng tiền nhà hay chưa. Giả sử bạn chưa đóng tiền nhà, chủ nhà có quyền  yêu cầu bạn thực hiện nghĩa vụ, nếu bạn không thực hiện, chủ nhà có quyền cầm giữ tài sản của bạn vì lý do này. Giả sử bạn đã đóng tiền nhà, chủ nhà chỉ có quyền cầm giữ tài sản của bạn vì lý do bạn không trả tiền internet đã thoả thuận lắp đặt và chia đôi nghĩa vụ tài chính.  
     
    Thứ hai, về khoản tiền mà bạn chung với chủ nhà lắp internet cáp quang, về mặt pháp lý, thỏa thuận về lắp đặt internet cáp quang có thể thỏa thuận bằng miệng vẫn có hiệu lực. Do đó, bạn đã thỏa thuận với chủ nhà lắp đặt hệ thống và chịu mỗi người một nửa nghĩa vụ tài chính nên bạn có nghĩa vụ thực hiện như đã thỏa thuận. 
     
    Tuy nhiên, chủ nhà không có quyền cầm giữ tài sản trong phòng trọ của bạn vì lý do bạn chưa trả tiền lắp internet, vì tài sản của bạn trong phòng trọ không phải là đối tượng của hợp đồng giữa bạn và chủ nhà về việc lắp đặt internet. Cụ thể điều 416, BLDS quy định:
     
    “Điều 416. Cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ
    1. Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận.”
     
     2.  Trường hợp chủ nhà giữ đồ đạc của bạn lại không cho bạn đi thì phải làm thế nào?
     
    Như đã nói trên, vì hợp đồng thuê nhà đã được giao kết nên (trừ trường hợp một trong hai bên yêu cầu toà án tuyên hợp đồng thuê nhà vô hiệu hoặc hai bên có thoả thuận khác), bạn được nhận lại số tiền mình đã đặt cọc. Hay nói cách khác, chủ nhà không có quyền giữ bạn lại vì lý do không nộp đủ tiền đặt cọc. Và chủ nhà cũng không có quyền cầm giữ tài sản của bạn vì lý do bạn chưa trả tiền theo hợp đồng lắp đặt Internet.
     
    Như vậy, trường hợp chủ nhà giữ tài sản của bạn lại không cho bạn đi vì lý do chưa nộp đủ tiền đặt cọc, hoặc chưa thanh toán đủ tiền theo thoả thuận lắp đặt internet, bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp.
     
    Trên đây là ý kiến chia sẻ của chúng tôi, hy vọng rằng đã giúp bạn phần nào giải đáp thắc mắc của mình. Việc đưa ra các góp ý trên dựa vào nội dung mà bạn cung cấp và chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp có nhầm lẫn hoặc cần tư vấn trực tiếp vui lòng liên hệ công ty Luật Việt im từ chúng tôi theo địa chỉ bên dưới.
    Cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc ý kiến, góp ý của chúng tôi!
                                                       Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Thị Trà
     

    BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM

    M: (+84-4) 32.123.124; (+84-4) 32.899.888 - E: cle.vietkimlaw@gmail.com; luatvietkim@gmail.com - W: www.vietkimlaw.com

    Ad: Trụ sở chính - Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN | VPGD - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-