DanLuat 2015

Ủy quyền ký hợp đồng mua bán trong công ty

Chủ đề   RSS   
  • #57785 12/08/2010

    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Ủy quyền ký hợp đồng mua bán trong công ty

    Thưa luật sư,

    Công ty em là công ty TNHH 2 thành viên vốn trong nước. Do đặc thù kinh doanh, nên mỗi ngày công ty phải ký nhiều hợp đồng mua bán với nhiều khách hàng (giá trị hợp đồng khoảng 50 triệu đồng trở xuống). 

    Để tiện lợi trong công việc, Tổng giám đốc (có tên trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) viết giấy ủy quyền để ủy quyền cho một nhân viên bộ phận kinh doanh ký hợp đồng mua bán trực tiếp với khách hàng. Công ty em làm như vậy có được không? Nghe nói là phải uỷ quyền cho Phó giám đốc hoặc trưởng phòng ký hợp đồng mới đúng quy định. Em tìm quy định mà không thấy.

    Nhờ luật sư giúp đỡ. Chân thành cám ơn.

    Cập nhật bởi nguyenbuibahuy ngày 10/09/2010 07:54:25 PM

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    66813 | Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn Maiphuong5 vì bài viết hữu ích
    longlam (14/12/2012) vptpharmaco (03/06/2011) caytrongthanhhoa (15/04/2011)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

4 Trang 1234>
Thảo luận
  • #57879   13/08/2010

    lsbuicongthanh
    lsbuicongthanh
    Top 75
    Male
    Lớp 3

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/11/2009
    Tổng số bài viết (619)
    Số điểm: 4004
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 165 lần


    Chào bạn, Trong trường hợp điều lệ của công ty không có quy định nào khác thì Giám đốc (Tổng giám đốc) có quyền ủy quyền cho người khác là các trưởng các bộ phận trong công ty được ký thay các loại văn bản thuộc lĩnh vực do bộ phận đó phụ trách. Trân trọng chào bạn.
    Cập nhật bởi admin ngày 27/08/2010 07:46:38 PM
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn lsbuicongthanh vì bài viết hữu ích
    longlam (14/12/2012)
  • #57945   14/08/2010

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Cám ơn Luật sư đã trả lời.

    Em đã đọc lại Điều lệ thì không có quy định về việc ủy quyền trong công ty.

    Như vậy, em có thể hiểu rằng Tổng giám đốc công ty em không được quyền ủy quyền cho nhân viên của Phòng kinh doanh ký hợp đồng, mà phải ủy quyền cho Trưởng phòng kinh doanh ký.

    Em thấy thắc mắc vì khoản 1 Điều 43 Bộ luật dân sự không hạn chế đối tượng được ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Tổng giám đốc), vậy hạn chế này được quy định ở đâu.

    Mong Luật sư giúp đỡ thêm.

    Trân trọng.
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 03:02:59 PM

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
  • #58017   16/08/2010

    nguyenbuibahuy
    nguyenbuibahuy
    Top 100
    Male
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (469)
    Số điểm: 3155
    Cảm ơn: 72
    Được cảm ơn 64 lần


           Nếu Tổng giám đốc ủy quyền trực tiếp cho nhân viên kinh doanh thì có thuộc trường hợp bị cấm không?
           Mong Ls giải đáp cho em được rõ?

    Nguyễn Bùi Bá Huy - nguyenbuibahuy@gmail.com

    Công Ty Luật TNHH Sài Gòn Á Châu - www.saigon-asialaw.com

     
    Báo quản trị |  
  • #58030   16/08/2010

    lsbuicongthanh
    lsbuicongthanh
    Top 75
    Male
    Lớp 3

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/11/2009
    Tổng số bài viết (619)
    Số điểm: 4004
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 165 lần


    Bạn có thể tham khảo tại Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 về công tác văn thư. Trân trọng chào bạn.
    Cập nhật bởi LawSoft04 ngày 17/08/2010 02:12:33 PM
     
    Báo quản trị |  
  • #260191   09/05/2013

    GODFATHER_NBH
    GODFATHER_NBH
    Top 200
    Male


    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:25/03/2010
    Tổng số bài viết (271)
    Số điểm: 1795
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 145 lần


    lsbuicongthanh viết:
    Bạn có thể tham khảo tại Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 về công tác văn thư. Trân trọng chào bạn.

    Theo mình nghĩ thì nghị định 110/2004/NDCP có phạm vi áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân.

    Do đó trong trường hợp không áp dụng văn bản này.

    Theo mình nghĩ rằng người đại diện theo pháp luật trong công ty có thể ủy quyền cho bất kỳ ai có năng lực hành vi dân sự để ký kết các hợp đồng, miễn là văn bản ủy quyền đó phải thể hiện rõ nội dung ủy quyền, cho phép người được ủy quyền ký kết các hợp đồng kinh tế.

    Nguyễn Bá Hưng - Trợ Lý Luật Sư

    DĐ: 0979 473 688 / 0909 165 806 - Email: Nguyenhung2015@gmail.com

    CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN VIỆT LUẬT

    151 Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Tp HCM

    TK: 106815828 - VPBank - CN HCM

     
    Báo quản trị |  
  • #402186   10/10/2015

    vanminhthinhvuong
    vanminhthinhvuong
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/06/2015
    Tổng số bài viết (72)
    Số điểm: 1140
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 6 lần


    GODFATHER_NBH viết:

     

    lsbuicongthanh viết:
    Bạn có thể tham khảo tại Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 về công tác văn thư. Trân trọng chào bạn.

     

    Theo mình nghĩ thì nghị định 110/2004/NDCP có phạm vi áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân.

    Do đó trong trường hợp không áp dụng văn bản này.

    Theo mình nghĩ rằng người đại diện theo pháp luật trong công ty có thể ủy quyền cho bất kỳ ai có năng lực hành vi dân sự để ký kết các hợp đồng, miễn là văn bản ủy quyền đó phải thể hiện rõ nội dung ủy quyền, cho phép người được ủy quyền ký kết các hợp đồng kinh tế.

     

    Đã là tổ chức kinh tế thì trong đó có Doanh nghiệp, nên nói rằng "không áp dụng văn bản này" là chưa chính xác.

    Vấn đề như 1 bạn có nói "áp dụng cho VBHC" nên xem xét HĐ có áp dụng hay không.

     

    Lót dép theo dõi...

    Phẩm chất NÔNG DÂN, Trí tuệ DOANH NHÂN...

     
    Báo quản trị |  
  • #58035   16/08/2010

    lskhanh
    lskhanh

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (60)
    Số điểm: 468
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 2 lần


    Cám ơn LS rất nhiều.

    Nhưng bạn em đưa thông tư liên tịch 02/2002 ngày 6/5/2002 cho em xem, trong đó có đoạn:

    2.2. Con dấu chỉ được đóng lên các văn bản, giấy tờ sau khi các văn bản, giấy tờ đó đã có chữ ký của cấp có thẩm quyền gồm: cấp trưởng, cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp được uỷ quyền của cơ quan, tổ chức đó; không được đóng dấu vào văn bản, giấy tờ không có nội dung, đóng dấu trước khi ký.
    Nên em vẫn bâng khuâng vì cho đến nay nhân công ty đã ký nhiều hợp đồng mua bán rồi. Kính mong LS giúp đỡ.

    Trân trọng.

    #ffffff; font-size: 12px; font-family: arial; color: #000000;">



     
    Cập nhật bởi manhtamvt ngày 13/09/2010 09:57:42 AM Sủa màu chữ, màu font
     
    Báo quản trị |  
  • #58048   16/08/2010

    nguyenbuibahuy
    nguyenbuibahuy
    Top 100
    Male
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (469)
    Số điểm: 3155
    Cảm ơn: 72
    Được cảm ơn 64 lần


        LS cho em hỏi:
             Nghị định 110/2004/NĐ-CP và nghị định 09/2010/NĐ-CP chỉ quy định đối với các văn bản hành chính. Theo em, Hợp đồng mua bán không thuộc đối thượng điều chỉnh của hai nghị định này.
             Mong luật sư giải đáp.
    Cập nhật bởi nguyenbuibahuy ngày 10/09/2010 10:09:31 PM

    Nguyễn Bùi Bá Huy - nguyenbuibahuy@gmail.com

    Công Ty Luật TNHH Sài Gòn Á Châu - www.saigon-asialaw.com

     
    Báo quản trị |  
  • #60359   10/09/2010

    lskhanh
    lskhanh

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (60)
    Số điểm: 468
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 2 lần


    Xin chào LS lsbuicongthanh và bạn nguyenbuibahuy,

        Hình như vấn đề bạn
    Maiphuong5 và bạn nguyenbuibahuy hỏi: "Nếu Tổng giám đốc ủy quyền trực tiếp cho nhân viên kinh doanh thì hợp đồng có giá trị không?" vẫn chưa đi đến kết quả cuối cùng nhỉ???

        Ý bạn
    nguyenbuibahuy hình như là Nghị định 110/2004/NĐ-CP chứ không phải Nghị định 112/2004/NĐ-CP, chắc lỗi đánh máy thôi.

        Nhưng tôi thấy tại khoản 2 Điều 4 Nghị định
    110/2004/NĐ-CP đã được sửa đổi tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 09/2010/NĐ-CP có thuật ngữ "hợp đồng" thì không biết đây là hợp đồng gì?. Như vậy, Nghị định 110/2004/NĐ-CP và Nghị định 09/2010/NĐ-CP có điều chỉnh Hợp đồng mua bán không? như ý kiến của bạn nguyenbuibahuy nêu ra.

        Mình có tranh cãi với một anh công an về hiệu lực của Hợp đồng mua bán do nhân viên ký. Anh này quả quyết là không có giá trị vì ủy quyền không hợp lệ. Nhưng mình thấy cơ sở pháp lý không rõ ràng. Thông tư liên tịch 02/2002 ngày 6/5/2002 có quy định "cấp dưới trực tiếp được ủy quyền" nhưng còn lờ mờ.

        Mình vẫn chưa thông vấn đề này. Mong LS lsbuicongthanh và các bạn tư vấn và trao đổi thêm. Cám ơn.
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 11:30:26 AM Cập nhật bởi admin ngày 10/09/2010 04:59:26 PM
     
    Báo quản trị |  
  • #60384   10/09/2010

    nguyenbuibahuy
    nguyenbuibahuy
    Top 100
    Male
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (469)
    Số điểm: 3155
    Cảm ơn: 72
    Được cảm ơn 64 lần


            @ lskhanh  : Cảm ơn bạn đã phát hiện ra lỗi của mình. MÌnh đã sửa lổi, mong các bạn thông cảm.
           Về nội dung của cả hai nghị định điều quy định:

    #1f497d;">"2. Văn bản hành chính

    Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, #c00000;">hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công".

                Do đó, định nghĩa chung của khoản 2 điều 4 là các văn bản này điều phải là văn bản hành chính. Theo những điều khoản này, văn bản hành chính bao gồm cả văn bản áp dụng pháp luật (Quyết định cá biệt, nghị quyết cá biệt,...) và các văn bản hành chính thông thường không mang tính quyền lực nhà nước (đế án, thư công, phiếu chuyển, giấy giới thiệu...). Vì vậy, nếu hợp đồng thuộc đối tượng điều chỉnh của nghị định phải là "văn bản hành chính" nghĩa là mang tính quản lí trong cá tổ chức thuộc điều 1 Nghị định 110/2004/NĐ-CP.

                 Do vậy, hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng thương mại khác điều không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định này.

                 Nếu hợp đồng theo điều khoản trên được hiểu là tất cả các hợp đồng thì điều này sẽ mâu thuẩn với quy định của Bộ luật dân sự:

    "Điều 143. Người đại diện theo uỷ quyền 

    1. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

    2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện."

               Và nếu hiểu theo nghĩa này, rất nhiều hợp đồng bị vô hiểu do không tuân thủ về hình thức quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 110 và khoản 3 Điều 1 Nghị định 09 vì hợp đồng bằng văn bản do các bên soạn thảo thường không đảm bảo thể thức được quy định.

    Rất mong mọi người trao đổi thêm....!!!!!


    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 11:31:48 AM Cập nhật bởi nguyenbuibahuy ngày 10/09/2010 11:34:58 PM

    Nguyễn Bùi Bá Huy - nguyenbuibahuy@gmail.com

    Công Ty Luật TNHH Sài Gòn Á Châu - www.saigon-asialaw.com

     
    Báo quản trị |  
  • #60386   10/09/2010

    chaulevan
    chaulevan
    Top 75
    Lớp 8

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:26/02/2009
    Tổng số bài viết (759)
    Số điểm: 10998
    Cảm ơn: 339
    Được cảm ơn 586 lần


    Chào các bạn,

    Mình viết nhiều lần mà ko gửi được, thôi thì mình chỉ văn bản để các bạn tham khảo rồi tự rút ra kết luận vậy nhé.
    Các bạn có thể tham khảo vấn đề đại diện từ điều 139 đến điều 145 của Bộ luật dân sự. Trong này có quy định rất rõ vấn đề đại diện để thực hiện các giao dịch trong công ty.

    Theo mình việc viện dẫn nghị định 110/2004/NĐ - CP trong việc ký kết hợp đồng  là không phù hợp với tinh thần của Bộ luật dân sự năm 2005> Mặt khác, Nghị định này đã có trước năm 2005 nên đối với vấn đề đại diện giao kết hợp đồng của nghị định này chắc chắn đã lạc hậu.

    Hơn nữa, nghị định 09/2010/NĐ - CP cũng đã bãi bỏ một phần của Nghị định 110/2004/NĐ - CP nói trên. Trong phần bãi bỏ đó có phần liên quan đến vấn đề về văn bản hợp đồng mà các bạn nhắc đến. Các bạn nên đọc lại điều 2 của Nghị định 09/2010/NĐ - CP.

    Thân.
    Cập nhật bởi admin ngày 11/09/2010 08:44:32 AM Cập nhật bởi admin ngày 11/09/2010 08:42:27 AM

    CV

     
    Báo quản trị |  
  • #60387   10/09/2010

    lskhanh
    lskhanh

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (60)
    Số điểm: 468
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 2 lần


    Chào bạn nguyenbuibahuy,

        Rất vui khi trao đổi với bạn. Thì mình cũng thấy Nghị định
    110/2004/NĐ-CP và Nghị định 09/2010/NĐ-CP đều quy định về văn bản hành chính, nhưng lại có ghi "hợp đồng", mới cắc cớ chứ.

        Mình cũng nhìn nhận như bạn là BLDS không hạn chế đối tượng ủy quyền. Các Nghị định nói trên cũng không thể hạn chế và quy định trái với BLDS được. Nguyên tắc ban hành quy phạm pháp luật không cho phép như vậy.

        Tóm lại, mình vẫn cho rằng TGĐ cty có thể và có quyền ủy quyền cho nhân viên ký kết hợp đồng mua bán theo quy định của BLDS. Không biết có còn quy định khác ở đâu không nhỉ.

        Mong các LS khác hỗ trợ trả lời giúp. Cám ơn.



     
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 11:33:19 AM Cập nhật bởi manhtamvt ngày 13/09/2010 09:58:46 AM Chỉnh cỡ chữ
     
    Báo quản trị |  
  • #60493   11/09/2010

    lskhanh
    lskhanh

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (60)
    Số điểm: 468
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 2 lần


    Xin chào chaulevan và nguyenbuibahuy,

        Tôi hoàn toàn đồng ý với hai bạn là về ủy quyền của NĐDTPL của pháp nhân tuân thủ theo BLDS có vẻ là hợp lý nhất.

        Ngoài ra tôi còn thấy theo khoản 1 Điều 143 BLDS, NĐDTPL của pháp nhân thậm chí còn có thể ủy quyền cho bất kỳ người nào khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, chứ không cần phải là người của pháp nhân đó.

        Tôi ít thấy văn bản nào quy định lạ như Nghị định 09/2010/NĐ-CP: Ở khoản 2 Điều 2 - Hiệu lực thi hành có quy định bãi bỏ khoản 1,2 Điều 4 của Nghị định 110/2004/NĐ-CP. Điều này có vẻ thừa vì ở khoản 2 Điều 1 đã có nói khoản 1,2 Điều 4 của Nghị định 110/2004/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung rồi.

         Vì lý do đó mà bạn  chaulevan mới nói Nghị định 09/2010/NĐ-CP bãi bỏ phần liên quan đến vấn đề văn bản hợp đồng của Nghị định 110/2004/NĐ-CP, thực tế chỉ bị sửa đổi thôi và chữ "hợp đồng" vẫn còn nguyên xi. Thông cảm cho bạn vì nhà làm luật đổi model lạ.

        Nếu có dịp, tôi sẽ trao đổi thêm với các thẩm phán để xem nhận định của họ về việc ủy quyền này. Chúc khỏe.
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 11:33:50 AM Cập nhật bởi admin ngày 11/09/2010 11:43:35 PM
     
    Báo quản trị |  
  • #60501   12/09/2010

    manhtamvt
    manhtamvt
    Top 150
    Lớp 2

    Phú Thọ, Việt Nam
    Tham gia:18/08/2010
    Tổng số bài viết (363)
    Số điểm: 3287
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 17 lần


    Theo ý kiến tôi cứ chiếu theo BLDS theo đó Giám đốc hoàn toàn được ủy quyền cho nhân viên kinh doanh ký hợp đồng, nhân viên kinh doanh chịu trách nhiệm trước giám đốc, giám đốc (pháp nhân) phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ và quyền lợi của hợp đồng.

    Các nghị định#1f497d;">110/2004/NĐ-CP09/2010/NĐ-CP theo tôi hiểu phạm vị chủ yếu áp dụng cho cơ quan hành chính sự nghiệp.
    Cập nhật bởi admin ngày 12/09/2010 10:19:54 AM

    We can do !

     
    Báo quản trị |  
  • #60503   12/09/2010

    boyluat
    boyluat
    Top 50
    Male
    Lớp 12

    Thái Nguyên, Việt Nam
    Tham gia:19/04/2010
    Tổng số bài viết (1815)
    Số điểm: 19496
    Cảm ơn: 358
    Được cảm ơn 789 lần


    Mình thấy nghị định 110/2004/NĐ-CP có:#1f497d;">

    Điều 1. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh

    1. Nghị định này quy định về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn thư; được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức).

    Nhưng:

    Điều 4. Hình thức văn bản

    Các hình thức văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức bao gồm:

    1. Văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;

    2. Văn bản hành chính

    Quyết định (cá biệt), chỉ thị (cá biệt), thông cáo, thông báo, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, giấy chứng nhận, giấy uỷ nhiệm, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển;

    3. Văn bản chuyên ngành

    Các hình thức văn bản chuyên ngành do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành quy định sau khi thoả thuận thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ;

    4. Văn bản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

    Các hình thức văn bản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội do người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định.


    Vậy nó không có loại văn bản của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội nghề nghiệp như trong phạm vi điều chỉnh tại điều 1.
    Cập nhật bởi admin ngày 12/09/2010 10:19:19 AM

    Với luật sư, nói phải có căn cứ, có lý, có tình thì hãng nói. Nói chung chung, nói vu vơ, nói tránh đụng chạm thì tốt nhất là đừng nói.

    Làm thì làm làm dứt khoát, làm cẩn thận. Làm mà sợ đầu sợ đuôi, làm không đến đầu đến đũa thì tốt nhất là đừng làm.

    Còn luật sư mà nghĩ cái này, nói cái kia; nói một đằng, làm một nẻo thì tốt nhất là nên về quê chăn vịt.

    Vinh Quang l Trợ lý Luật sư - CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM (www.luatvietkim.com)

    M: 0934.666.282 - E: vinhquang@luatvietkim.com - Ad: P1705 - Đ3, 15 Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội.

     
    Báo quản trị |  
  • #60743   14/09/2010

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Xin chào mọi người,
    Cám ơn vì các bạn đã trao đổi rất nhiệt tình.

        Trên thực tế, đôi khi cũng có các quy định chuyên ngành trái với điều khoản quy định tại luật chung - BLDS. Vấn đề là các bác làm luật tạo ra sự vênh đó không biết có thấy hết sự rắc rối gây ra cho xã hội hay vì vướng mắc nào khác.

        Đơn cử, vấn đề xưa như trái đất là "xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu bất động sản" quy định chênh nhau giữa khoản 1 Điều 168 BLDS và khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở. Nó đã tạo ra tranh chấp trong các giao dịch và phải giải quyết tại tòa án.

        Hoặc trường hợp khác là Nghị định ban hành đã gần 5 năm mà vẫn áp dụng theo Thông tư hướng dẫn Nghị định (đã ban hành gần 12 năm nay) đã hết hiệu lực, do chưa có Thông tư hướng dẫn Nghị định mới.

        Mỗi câu, chữ trong các quy định là hết sức quan trọng. Hiểu sai thì hậu quả pháp lý nặng nề.
        Tôi đồng ý với các bạn về các vấn đề đã trao đổi ở trên.

        Cám ơn mọi người rất nhiều.
        
     
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 11:34:41 AM Cập nhật bởi admin ngày 14/09/2010 11:17:19 AM

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
  • #60812   14/09/2010

    Unjustice
    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1044 lần


    Mình chỉ có một số ý kiến về vấn đề này như sau:

    - Nghị định 110/2004/NĐ-CP về mặt lý thuyết là vẫn có giá trị hiệu lực thi hành và có giá trị đối với các tổ chức kinh tế (tức là các doanh nghiệp). Thế nhưng trên thực tế là việc áp dụng các qui định này đối với các tổ chức kinh tế là không hiệu quả, nếu không nói là vô lý do can thiệp quá sâu vào đời tư doanh nghiệp mà chẳng đem lại một lợi ích cụ thể nào cho việc quản lý nhà nước. 

    - Mình đã từng xem qua những hợp đồng có tiêu đề cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN nhưng lại đặt dưới logo và tên cũng như địa chỉ doanh nghiệp. Trông nó chướng làm sao ấy vì tiêu đề này về nguyên tắc phải nằm trên cùng. Nhưng cái tiêu đề này có cần không vì nếu lỡ ký hợp đồng với nước ngoài sử dụng luật nước ngoài để điều chỉnh chẳng lẽ lại để tiêu đề nằm đó, nó có tác dụng gì?

    Tóm lại quan điểm của mình là phản đối cực lực các qui định hành chính hóa các hoạt động của doanh nghiệp mà Nghị định này là một ví dụ rõ nét. Nhà nước chẳng có lợi gì cả, việc kiểm tra giám sát cũng không thể thực hiện được, xử phạt lại càng không vậy thì qui định để làm gì. Nên chăng bỏ đối tượng điều chỉnh là các tổ chức kinh tế ra khỏi nghị định này, chỉ nên áp dụng nghị định này cho các cơ quan công quyền thôi

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    Báo quản trị |  
  • #60922   15/09/2010

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Xin chào các bạn,

        Mình vẫn thấy chưa thông về vấn đề này và muốn trao đổi thêm.

        Mình không tìm thấy định nghĩa chính thức "Văn bản hành chính" trong bất kỳ văn bản nào do nhà nước ban hành. Duy nhất là có quy định tại NĐ 110/2004/NĐ-CP và sửa đổi bởi NĐ 09/2010/NĐ-CP nhưng mang tính chất liệt kê.

        Ngoài ra trong Thông tư liên tịch 55/2005/TTLT-BNV-VPCP về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản cũng chỉ đề cập "Văn bản hành chính" một cách chung chung.

        Về cá nhân, mình nghĩ "Văn bản hành chính" là văn bản liệt kê tại các NĐ nói trên áp dụng cho cả các tổ chức kinh tế chứ không đơn thuần chỉ dùng cho cơ quan nhà nước,... (vì một số bạn không chấp nhận việc này).

        Mình thấy nhiều người hiểu và áp dụng việc ủy quyền theo NĐ 110/2004/NĐ-CP và NĐ 09/2010/NĐ-CP, do vậy cũng hơi bối rối.

        Thân.
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 11:35:35 AM Cập nhật bởi admin ngày 15/09/2010 10:24:07 AM thêm link

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
  • #60952   15/09/2010

    Unjustice
    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1044 lần


    Theo mình thì đối tượng điều chỉnh chính của NĐ này vẫn là các cơ quan hành chính, cơ quan công quyền không phải là doanh nghiệp vì các cơ quan hành chính có tổ chức bộ máy theo kiểu cấp bậc rõ ràng nên việc quản lý ủy quyền như trên là phù hợp (vì không thể có chuyện  ông trưởng phòng ngồi đó mà giám đốc ủy quyền cho ông nhân viên ký, thế thì cơ chế bổ nhiệm, đề bạt cán bộ sẽ bị vô hiệu hóa à).

    Nhưng đối với doanh nghiệp thì do cần có sự linh động và uyển chuyển trong kinh doanh nên chỉ cần theo đúng Luật dân sự là được.

    Hơn nữa nếu chiếu đúng theo NĐ thì các tổ chức kinh tế nước ngoài thành lập và hoạt động tại VN cũng phải tuân theo à. Bạn thấy sự vô lý chưa. Mình tin là trong một tương lai không xa ND này sẽ bỏ đối tượng điều chỉnh là tổ chức kinh tế.
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 30/09/2010 03:04:27 PM Cập nhật bởi Unjustice ngày 15/09/2010 03:00:33 PM

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    Báo quản trị |  
  • #225239   09/11/2012

    linhngmanh
    linhngmanh

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/02/2012
    Tổng số bài viết (43)
    Số điểm: 494
    Cảm ơn: 12
    Được cảm ơn 4 lần


    Unjustice viết:
    Mình chỉ có một số ý kiến về vấn đề này như sau:

    - Nghị định110/2004/NĐ-CP về mặt lý thuyết là vẫn có giá trị hiệu lực thi hành và có giá trị đối với các tổ chức kinh tế (tức là các doanh nghiệp). Thế nhưng trên thực tế là việc áp dụng các qui định này đối với các tổ chức kinh tế là không hiệu quả, nếu không nói là vô lý do can thiệp quá sâu vào đời tư doanh nghiệp mà chẳng đem lại một lợi ích cụ thể nào cho việc quản lý nhà nước. 

    - Mình đã từng xem qua những hợp đồng có tiêu đề cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN nhưng lại đặt dưới logo và tên cũng như địa chỉ doanh nghiệp. Trông nó chướng làm sao ấy vì tiêu đề này về nguyên tắc phải nằm trên cùng. Nhưng cái tiêu đề này có cần không vì nếu lỡ ký hợp đồng với nước ngoài sử dụng luật nước ngoài để điều chỉnh chẳng lẽ lại để tiêu đề nằm đó, nó có tác dụng gì?

    Tóm lại quan điểm của mình là phản đối cực lực các qui định hành chính hóa các hoạt động của doanh nghiệp mà Nghị định này là một ví dụ rõ nét. Nhà nước chẳng có lợi gì cả, việc kiểm tra giám sát cũng không thể thực hiện được, xử phạt lại càng không vậy thì qui định để làm gì. Nên chăng bỏ đối tượng điều chỉnh là các tổ chức kinh tế ra khỏi nghị định này, chỉ nên áp dụng nghị định này cho các cơ quan công quyền thôi

    Mình không rõ bạn căn cứ vào đâu mà nói rằng: "về mặt lý thuyết". Nếu về mặt lý thuyết, các quy định tại điều 1 của nghị định 110 này đã giới hạn phạm vi áp dụng rất rõ ràng rồi: nó không áp dụng cho các văn bản giao dịch của tổ chức, cá nhân ngoài khu vực hành chính.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-