Ủy quyền cho vợ mua đất có được xem là tài sản chung?

Chủ đề   RSS   
  • #541562 21/03/2020

    ngkhiem

    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/02/2020
    Tổng số bài viết (69)
    Số điểm: 1410
    Cảm ơn: 13
    Được cảm ơn 54 lần


    Ủy quyền cho vợ mua đất có được xem là tài sản chung?

    Việc xác định tài sản chung hay riêng của vợ chồng luôn là thắc mắc của rất nhiều người; như một tình huống cụ thể như sau: “Vợ chồng tôi kết hôn năm 2017, hiện nay tôi phải đi làm xa nhà, bây giờ tôi muốn mua một mảnh đất, vì tôi không ở nhà nên đã ủy quyền cho vợ tôi đi mua giúp; vậy mảnh đất đó có được là tài sản chung vợ chồng hay không?”

    *Đối với trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

    Tại khoản 2 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

    “Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.”

    Như vậy, pháp luật cho phép vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch; đương nhiên, việc ủy quyền này phải được thể hiện bằng văn bản, thể hiện rõ nội dung ủy quyền và được chứng thực bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã xác định rõ:

    “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

    Dựa vào tình huống trên, có thể thấy mảnh đất trên có được sau khi hai bạn kết hôn nên được xác định là tài sản chung vợ chồng, việc người chồng ủy quyền cho người vợ đứng ra nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phépkhông làm ảnh hưởng đến việc xác định mảnh đất đo có phải tài sản chung vợ chồng hay không.

    Bên cạnh đó, việc vợ, chồng có thỏa thuận ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung cũng được nêu rõ trong quy định về sở hữu chung vợ chồng theo quy định tại Điều 213 Bộ luật dân sự 2015.

    *Đối với trường hợp vợ chồng có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

    Nếu hai vợ chồng có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời ký hôn nhân, trong trường hợp chia tài sản chung thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác (theo quy định tại Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình 2014)

    Như vậy, đối với tình huống đặt ra ở trên, giả sử hai vợ chồng bạn có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung khi kết hôn, nếu số tiền dùng để mua mảnh đất xuất phát hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của người chồng thì mảnh đất đó là tài sản riêng của người chồng – không phải tài sản chung.

    Cập nhật bởi ngkhiem ngày 21/03/2020 04:55:54 CH
     
    7382 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #541651   22/03/2020

    thanghi.info
    thanghi.info
    Top 200
    Male
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:21/02/2020
    Tổng số bài viết (392)
    Số điểm: 2680
    Cảm ơn: 41
    Được cảm ơn 89 lần


    Tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân mặc định được hiểu là tài sản chung của vợ chồng. Mảnh đất đó chỉ được coi là tài sản riêng của người chồng chỉ khi người chồng chứng minh mình dùng tiền riêng của mình rồi ủy quyền cho người vợ mua giúp thì may ra. Việc chứng minh tiền để mua đất là tiền riêng thì cả một vấn đề nữa.

     
    Báo quản trị |  
  • #549961   26/06/2020

    ledinhthien
    ledinhthien
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/05/2020
    Tổng số bài viết (191)
    Số điểm: 1000
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 4 lần


    Đây thuộc trường hợp tại Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

    Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này

     

     
    Báo quản trị |