Tư vấn tranh chấp đất đai trong gia đình

Chủ đề   RSS   
  • #508748 29/11/2018

    Thuyduongum123

    Sơ sinh

    Cà Mau, Việt Nam
    Tham gia:29/11/2018
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 95
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Tư vấn tranh chấp đất đai trong gia đình

    Năm 1999, cậu tôi đại diện trên giấy tờ cho ông ngoại tôi giao đất phía sau lộ xe cho nhà nước để làm công trình và nhận tiền bồi hoàn, tuy nhiên vào 2018 nhà nước trả lại phần đất đó cho cậu tôi 80m vuông cậu toi trả lại tiền cho nhà nước .

    Ông ngoại tôi năm nay 90 tuổi, ông cho cậu út tôi đại diện trên giấy tờ tranh chấp hay bồi hoàn vào năm 1998 đến nay, ông có 6 người con, câu 3 tôi định cư nước ngoài, ông không làm di chúc, chỉ phân chia 1 phần đất phía trước phần đất giao cho nhà nước cho các con bằng giấy tay ( các con đồng thuận ký)và cậu út tôi hưởng nhiều do là trai út và ở chung với ông ngoại( do cậu chung hộ khẩu với ông ngoại ,các thành viên khác đã tách khẩu có gia đình riêng),mỗi người con được 5 m, riêng mẹ tôi được 15m( dù trước đó ông ngoại có làm giấy tay là cho 20 m) là do mẹ tôi vào sinh sông , khai phá, giữ đất từ năm 1987 đến nay.. Vì lúc phân chia đất này thì đã giao cho nhà nước phần đất phía sau , gia đình ngoại tôi không tính đến vì cứ nghỉ nhà nước sẽ không trả, tuy nhiên hôm nay nhà nước đã trả và gia đình ngoại tôi gọi là phần đất DƯ.

    Vậy tôi xin hỏi luật sư:

    Phần đất dư mới trả đó chua làm giấy chứng nhận đất thì phân chia như thế nào?

    Ba mẹ tôi là người khai phá, giữ đất và sinh sống lâu như vậy muốn cậu tôi chia 15m giống như phân chia ở phía trước được không? Do hiện tại họp gia đình cậu tôi không đồng ý chỉ nói mỗi người 5m và phải đưa lại cậu tôi 100 triệu tiền đi đứng lấy đất lại và bơm cát?Ông ngoại tôi không ý kiến( do hiện tại ngoại tôi già, hay bệnh và đôi khi thiếu minh mẫn chỉ là các chị em họp)

    Nếu cậu tôi không đồng ý, ba mẹ tôi khởi kiện được không?

    Rất mong luật sư giải đáp thắc mắc , xin chân thành biết ơn!

     
    1578 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #508798   29/11/2018

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2040)
    Số điểm: 11805
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1390 lần
    Lawyer

    Với vướng mắc trên, chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

    Căn cứ theo quy định tại điểm khoản 54 điều 2 nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định hợp đồng hoặc giấy tờ chuyển  nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 thì vẫn được coi là một phần căn cứ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể:

    54. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 82 như sau:

    "1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

    b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này;

    Nếu tại thời điểm được tặng cho quyền sử dụng đất gia đình bạn có giấy tờ chứng minh về việc tặng cho quyền sử dụng đất thì bạn có thể làm đơn yêu cầu văn phòng đăng ký đất đai quận, huyện nơi có đất để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Trong trường hợp gia đình bạn đưa ra được những giấy tờ chứng minh về việc sử dụng đất là hợp pháp và bên yêu cầu tranh chấp đất đai không đưa ra được bằng chứng chứng minh về việc sở hữu đất thì gia đình bạn không phải trả lại phần đất mà gia đình đang sử dụng.

    Nếu bạn có các căn cứ chứng minh được có sự thỏa thuận người đại diện theo pháp luật giữa ông ngoại bạn và cậu bạn thì ông ngoại bạn vẫn là người sử dụng đất của mảnh đất 80m, nếu cậu bạn không trả lại mảnh đất đó cho ông bạn thì ông bạn sẽ tiến hành đòi lại tài sản hoặc ủy quyền cho người khác tiến hành khởi kiện. Do ông bạn chưa chết nên không thể chia mảnh đất 80m cho các con.

    Nếu bạn không có căn cứ chứng minh có sự thỏa thuận trên thì cậu bạn sẽ là người sử dụng đất 80m (người đại diện giao đất cho Nhà nước) chứ không phải ông ngoại bạn. Và các con còn lại của ông cũng không được quyền phân chia mảnh đất 80m. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: https://myskincare.vn ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
  • #508932   30/11/2018

    Thuyduongum123
    Thuyduongum123

    Sơ sinh

    Cà Mau, Việt Nam
    Tham gia:29/11/2018
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 95
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Như vậy cha mẹ tôi không được chia đất nhưng là người khai phá và sinh sống trên mảnh đất đó trước ngày cậu tôi về ở( Ba mẹ tôi được ông ngoại cho ở khoảng trước năm 1986 đến nay, còn cậu về ở và kinh doanh từ năm 2000)như vậy cha mẹ tôi có quyền yêu cầu cậu tôi bồi hoàn thành quả lao động không?

    Thủ tục như thế nào?

    Mong Luật sư tiếp tục tư vấn tôi xin chân thành cam ơn!

     
    Báo quản trị |  
  • #509077   30/11/2018

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2040)
    Số điểm: 11805
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1390 lần
    Lawyer

    Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: https://myskincare.vn ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

Website: https://myskincare.vn ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.