DanLuat 2015

Tư vấn pháp luật

Chủ đề   RSS   
  • #44410 10/02/2010

    xuantrungskhbg

    Sơ sinh

    Bắc Giang, Việt Nam
    Tham gia:14/08/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 0
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Tư vấn pháp luật

    #ccc" align="center">

    Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu!

    Các bài viết không dấu sẽ bị xem là bài viết vi phạm!
    Bài viết vi phạm sẽ bị xóa!

    I - MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN

    1. Nguồn gốc đất:

              - Toàn bộ diện tích đất 2.460 m2 của 4 hộ (615 m2/hộ) đang sử dụng hiện nay là đất của HTX Gạch ngói Chiến Thắng đã có quyết định giải thể của UBND huyện Nam Sách từ năm 1997 bao gồm cả đất dùng làm trụ sở của HTX và thùng vũng do lấy đất làm gạch ngói.

              - Vị trí khu đất: Trước kia và hiện tại vẫn thuộc Khu Nguyễn Quốc Trị - Thị trấn Nam Sách - huyện Nam Sách - tỉnh Hải Dương.

              - Năm 1998 Ban Kinh tế của UBND thị trấn Nam Sách nhất trí (bằng giấy viết tay do trưởng ban ký tháng 01/1998) giao cho 4 người được quyền sử dụng phần đất trên và quy định nộp tiền sử dụng đất với giá 30.000/m2 (tại thời điểm tháng 1/1998) với tổng số tiền phải nộp là: 2.460 m2 x 30.000/m2 = 73.800.000 đ và yêu cầu nộp làm 2 lần (lần 1 = 70%; lần 2 = 30%)

              - Cụ thể mỗi hộ phải nộp: 615 m2 x 30.000/m2 = 18.450.000 đ

              Các hộ này đã nộp một số khoản tiền sau:

                       + Nộp lần 1 năm 1998: 10.000.000 đ (Có phiếu của UBND thị trấn) lý do thu “Tiền đền bù đất đai khu HTX Chiến Thắng”.

                       + Nộp lần 2 năm 1998: 5.000.000 đ (Có phiếu của UBND thị trấn) lý do thu “Lệ phí cấp đất”.

                       + Biên lai thu tiền năm 2001: 115.000 đ (Có phiếu của UBND thị trấn) lý do thu “Cấp GCNQSD đất ở”.

              - Số còn lại 3.450.000 đ các hộ này chưa nộp với lý do chưa nhận được sổ đỏ.

    2. Các giấy tờ các hộ hiện còn lưu:

              - Giấy giao đất của Ban kinh tế thị trấn cho 4 hộ.

              - Phiếu thu các khoản tiền trên.

              - Trích lục bản đồ khu đất 2.460 m2

              - Tờ trình của UBND thị trấn ngày 16/8/2002, V/v: “Xin chuyển mục đích sử dụng đất của 4 hộ”

    3. Hiện trạng sử dụng:

              - 4 Hộ đang ở ổn định từ năm 1998 đến nay ngoài diện tích xây nhà ở thì phần lớn diện tích được sử dụng để chăn nuôi và trồng rau.

              - Các công trình trên đất gồm nhà ở cấp 4 và một số công trình phụ còn phần lớn là vườn cây.

              - Toàn bộ khu đất này 4 hộ nêu trên đang sử dụng ổn định từ năm 1998 đến nay và không có tranh chấp hoặc khiếu kiện gì nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất.

    4. Quy hoạch theo dự kiến:

              - Hiện nay UBND thị trấn muốn thu hồi để quy hoạch khu dân cư mới trong đó có cả diện tích của 4 hộ nói trên.

    ……………………..

    II - MỘT SỐ NỘI DUNG NHỜ LUẬT SƯ TƯ VẤN

     1- Các hộ sử dụng đất như trên được áp dụng theo điều khoản nào trong Luật đất đai và Nghị định? 

    2- Việc thu hồi đất (nếu có) như vậy có đúng không? Theo Điều khoản nào của Luật và Nghị định?

    3- Nếu bị thu hồi thì được hưởng những chính sách gì? điều khoản nào.

    4- Toàn bộ diện tích đất theo giá 30.000 đ/m2 tại thời điểm năm 1998 được tính theo loại đất gì?

    5- Nếu bị thu hồi để làm khu dân cư thì diện tích đất của các hộ được tính vào loại đất gì? Theo Điều, khoản nào?

    6- Nếu các hộ yêu cầu được cấp Giấy CNQSD đất trước khi tiến hành thoả thuận việc đền bù thì có phù hợp với quy định của pháp luật không.

    Vậy kính mong LawSoft tư vấn giúp, tôi xin chân thành cám ơn.

     

    III – QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN

     

    Qua nghiên cứu anh thấy như sau:

    1 - Về điều kiện để được cấp GCNQSD đất: Theo anh trường hợp này đủ điều kiện để cấp GCNQSD đất theo:

              - Khoản 7 Điều 50 Luật đất đai năm 2003

     “7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

              - Điều 16 Nghị định 84/2007/NĐ-CP

    Điều 16. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp đất đã được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất

    Đất được giao không đúng thẩm quyền nhưng người đang sử dụng đất có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau đây:

    1. Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất đã được giao và không phải nộp tiền sử dụng đất.

    2. Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì thực hiện như sau:

    a) Đối với diện tích đất được giao thuộc nhóm đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp nhưng không phải đất ở thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất;

    b) Đối với diện tích đất được giao làm đất ở trong hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất; đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở (nếu có) thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP; đối với diện tích còn lại không có nhà ở (nếu có) được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP.”

    2 - Về bồi thường thực hiện theo:

              - Điều 46 Nghị định 84/2007/NĐ-CP

    Điều 46. Bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đối với đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận

    Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định sau:

    1. Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao. 

    2. Trường hợp sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:

    a) Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở; đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai;

    b) Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP.

              - Điều 19 Quyết định 40/2009/QĐ-UBND, ngày 15 tháng 12 năm 2009 của UBND tỉnh Hải Dương

     

     

              - Giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức theo Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT

    CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẤT ĐÃ ĐƯỢC GIAO KHÔNG ĐÚNG THẨM QUYỀN TRƯỚC NGÀY 01 THÁNG 07 NĂM 2004 NHƯNG NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ĐÃ NỘP TIỀN ĐỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐẤT QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 16

    1. Giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 16 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP là một trong các loại sau đây:

    1.1. Biên lai (phiếu thu, hoá đơn) thu tiền để được sử dụng đất, thu tiền đền bù theo Quyết định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.

    1.2. Biên lai (phiếu thu, hoá đơn) thu tiền theo Thông tư số 60/TC-TCT ngày 16 tháng 7 năm 1993 của Bộ Tài chính về hướng dẫn bổ sung việc giảm thuế, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. 

    1.3. Biên lai (phiếu thu, hoá đơn) theo quy định về thu tiền đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã hoặc của cơ quan, tổ chức giao đất không đúng  thẩm quyền đã được các cơ quan, tổ chức đó cấp cho hộ gia đình, cá nhân.

    2. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã nộp tiền sử dụng đất mà giấy tờ chỉ còn lưu tại cơ quan, tổ chức đã thu tiền hoặc cơ quan, tổ chức khác có liên quan thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ đang lưu giữ để người sử dụng đất hoàn thiện hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận. 

     
    2445 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận

0 Thành viên đang online
-