Tư vấn ly hôn và phân chia tài sản

Chủ đề   RSS   
  • #443898 15/12/2016

    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Tư vấn ly hôn và phân chia tài sản

    Câu hỏi:

    Vợ chồng em ly hôn nhưng phần tài sản chưa thỏa thuận được. Xin luật sư tư vấn dùm em:

    1. Trong thời kỳ hôn nhân bố mẹ em cho đất đứng tên quyền sử dụng của em thì em có được toàn quyền sử dụng không?.

    2. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng em đã làm nhà trên đất ông bà ngoại cho. Chồng em chỉ bỏ ra có 200tr giờ chia như thế nào?.

    3. Em đã sử dụng sổ đỏ của em vay cho chồng 500tr để làm ăn một mình. Em không sử dụng phần tiền vay thì giờ nợ đó có được coi là nợ chung không?

    Nhờ luật sư tư vấn giúp em.

     

    Trả lời:

     Chào bạn!

    Thứ nhất, Về vấn đề quyền sử dụng đất: Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau.

    Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

    1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

    Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

    1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

     Như vậy, theo khoản 1 điều 43 và khoản 1 điều 44 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định như trên thì mảnh đất của bạn là do bạn được bố mẹ tặng cho trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy đây được coi là tài sản riêng của bạn mặc dù tài sản đó có được trong thời kỳ hôn nhân. Khi vợ chồng bạn ly hôn thì mảnh đất này sẽ thuộc sở hữu của bạn và không phải chia như tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

    Thứ hai, Về căn nhà trong thời kỳ hôn nhân. Như bạn đã nói, vợ chồng bạn làm nhà sau khi kết hôn trên mảnh đất ông bà ngoại cho thì căn nhà này sẽ được coi là tài sản chung vợ chồng theo quy định tại luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

    Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

      Khối tài sản này khi ly hôn được chia như sau:

    Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

    1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

    Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

    2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

    Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

      Như vậy, khi ly hôn thì căn nhà này sẽ do vợ chồng bạn tự thỏa thuận phân chia. Trường hợp không chia được thì theo nguyên tắc tòa án sẽ chia đôi khố tài sản có tính đến công sức đóng góp của các bên. Vì bạn có nói là chồng bạn chỉ đóng góp 200tr nên bạn có thể trình bày ra tòa để tòa cân nhắc xem xét phân chia tài sản. Vì ngôi nhà là tài sản không thể tách rời hay phân chia được nên sẽ được tính trị giá bằng tiền hoặc hiện vật, và ai là người sở hữu ngôi nhà thì sẽ phải trà tiền hoặc hiện vật tương ứng với phần giá trị tài sản theo công sức đóng góp cho bên còn lại. Bạn lưu ý thêm về quyền lưu cư theo luật hôn nhân và gia đình 2014 điều 63.

    Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

    Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

     

    Thứ ba, Về khoản nợ 500tr: Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định như sau:

    Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

    Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

    1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

    2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

    3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

    4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

    5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

    6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

      Vì đây là khoản vay trong thời kỳ hôn nhân và bạn là người đã đứng tên vay khoản nợ đó, nên theo như quy định của pháp luật thì khoản nợ này sẽ được coi là khoản nợ chung cả hai vợ chồng đều phải trả nếu chồng bạn chứng minh được rằng việc kinh doanh đó nhằm đáp ứng như cầu thiết yếu cho cuộc sống gia đình. Nếu không bạn và chồng bạn sẽ đều có nghĩa vụ phải trả khoản vay trên kể cả khi đã ly hôn.

    Trên đây là toàn bộ ý kiến của chúng tôi về trường hợp của bạn. Có thể có một vài sai sót do thông tin bạn cung cấp còn hạn chế. Hy vọng bạn sẽ sớm giải quyết được vấn đề. Nếu bạn còn bất cứ thắc mắc nào vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn miễn phí.

     

    Trân trọng,

     

     
    56624 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

4 Trang «<234
Thảo luận
  • #445347   15/01/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Yêu cầu ly hôn khi vợ mang thai không phải con của mình có được không ?

    Câu hỏi:

    Tôi và vợ kết hôn được 4 năm, và đã có 1 con trai 2 tuổi. Tôi đi xuất khẩu lao động 3 năm nay và vừa về nước. Tôi về nước được một thời gian thì phát hiện vợ mình có qua lại với người đàn ông khác, tôi điều tra được là hai người đó đã qua lại từ rất lâu, trong lúc tôi đang đi xuất khẩu lao động. Tôi muốn ly hôn nhưng vợ tôi không chấp nhận, tôi đã làm đơn yêu cầu và nộp cho Tòa án. Khi Tòa án thụ lý đơn của tôi thì vợ tôi đã có thai 4 tháng với người đàn ông kia nên việc ly hôn của vợ chồng tôi không được giải quyết với lý do vợ tôi đang có thai. Tôi chắc chắn thai vợ tôi đang mang không phải là của mình. Luật sư có thể tư vấn cho tôi ly hôn vợ được không? Tôi cảm ơn luật sư.

    Trả lời:

    Quyền yêu cầy ly hôn và quyền của mỗi bên trong quan hệ vợ, chồng. Pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích đó của vợ chồng. Nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.

    Cụ thể, tại khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn có quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

    Như vậy, trường hợp của bạn vợ bạn đang mang thai mặc dù biết là đứa trẻ vợ bạn đang mang thai không phải là con của mình nhưng bạn vẫn không có quyền yêu cầu ly hôn vợ tại thời điểm này bởi bạn đã bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định nêu trên. Việc Tòa án không giải quyết yêu cầu ly hôn của bạn là hoàn toàn đúng. Bởi lẽ, pháp luật quy định như vậy nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

    Do bạn đang bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn như vậy, bạn có thể đề nghị người vợ chủ động yêu cầu ly hôn tại Tòa án.

    Như bạn nói thì vợ bạn lại không đồng ý ly hôn nên nếu như cuộc sống của vợ chồng bạn không thể kéo dài mà bạn vẫn muốn ly hôn thì đến thời điểm vợ bạn sinh con được 12 tháng thì bạn mới có yêu quyền cầu ly hôn, lúc này việc yêu cầu ly hôn của bạn mới được chấp nhận theo quy định của pháp luật trên. Trong thời gian từ giờ đến lúc bạn có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn bạn có thể lựa chọn phương án sống ly thân thể tránh các mâu thuẫn không cần thiết.

     

    Cập nhật bởi luatsutraloi3 ngày 15/01/2017 10:33:47 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #445358   15/01/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Ly hôn chia quyền nuôi con, tài sản khi chồng không đóng góp

    Câu hỏi:

    Xin chào luật sư, tôi có một vấn đề cần được tư vấn như sau:

    Tôi và chồng đã làm đám cưới từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn, đến nay chúng tôi đã có 1 con chung và một ít tài sản nhưng anh ấy không đóng góp gì nhiều trong việc tạo dựng khối tài sản đó. Nay tôi muốn chia tay thì có phải ra toà chia tài sản và phân chia quyền nuôi con không? Xin cảm ơn luật sư!

    Trả lời:

    Như bạn đã trình bày ở trên, 2 bạn đã làm đám cưới từ năm 2001 nhưng chưa đăng ký kết hôn cho nên trường hợp của 2 bạn được coi là chung sống với nhau như vợ chồng. Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình quy định về hậu quả của việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng như sau: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15, 16 Luật hôn nhân và gia đình.”

    Về con chung:

    Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về nghĩa vụ và quyền  của cha mẹ và con.” Như vậy, trong trường hợp các bạn đã sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, việc giải quyết con chung vẫn được thực hiện theo quy định tại khoản 2,3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ đưa ra quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    3.Con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

    Như vậy, đối với con chung các bạn có thể tự thoả thuận với nhau các vấn đề về việc nuôi con. Nếu không thể thoả thuận thì sẽ do toà án quyết định dựa trên điều kiện của từng người và lợi ích của con.

    Về tài sản:

    Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

    “1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì sẽ được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    2.Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung sẽ được coi như lao động có thu nhập”.

    Như vậy, đối với những tài sản thì về nguyên tắc nếu là tài sản riêng của người nào thì sẽ thuộc về người đó, nếu là tài sản chung thì được chia theo thoả thuận của hai bên. Nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Toà án sẽ đưa ra quyết định dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên, ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của công ty chúng tôi với trường hợp của bạn, nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.

    Trân trọng!

     

    Cập nhật bởi luatsutraloi3 ngày 15/01/2017 05:49:40 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #446111   08/02/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Ly hôn nhưng chồng không muốn cho nuôi con thì phải làm thế nào?

    Câu hỏi:

    Câu hỏi của độc giả, tên Trần Thị Thùy Trang - Cư trú tại xã Cương Sơn, Huyện Lục Nam, Bắc Giang

    Thưa luật sư, E mới xây dựng gia đình được hơn một năm nhưng do mâu thuẫn với mẹ chồng nên vợ chồng e dẫn tới mâu thuẫn . E hiện giờ có một bé được hơn 8 tháng tuổi. E muốn hỏi giờ e có thể ly hôn đc k, chồng em cũng đồng ý ly hôn nhưng không cho em nuôi con, vậy e có đc nuôi bé không, hiện tại em là giáo viên lương được 5 triệu 1 tháng. Em  xin cảm ơn ak.

     

    Trả lời:

    Chào bạn, với câu hỏi này chúng tôi xin trả lời như sau:

     

    Khi mâu thuẫn trong quan hệ của vợ chồng trở nên trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không chia sẻ được với nhau, mục đích cuộc sống hôn nhân không đạt được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, tiến hành thủ tục ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng.

     

    Thủ tục xin ly hôn được tiến hành tại Tòa án theo quy định tại Luật Tố tụng dân sự. Nội dung giải quyết theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật khác có liên quan nếu có tranh chấp tài sản và các văn bản hướng dẫn thi hành;

     

    Trường hợp chồng bạn cũng đồng ý ly hôn bạn có thể làm thủ tục ly hôn thuận tình bao gồm:

     

    1. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính

    2. Giấy khai sinh  của con bạn

    3. Chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của vợ và chồng

    4. Giấy tạm trú hoặc sổ hộ khẩu gia đình

    5. Đơn xin ly hôn theo mẫu tòa án quy định(Do tòa án cung cấp mẫu hoặc các văn phòng luật sư, bạn có thể tham khảo mẫu đơn xin ly hôn viết sẵn )

     

    Tòa án có thẩm quyền giải quyết thủ tục xin ly hôn là Tòa án nhân dân cấp Quận/Huyện.

     

    Theo như bạn trình bày, con bạn được 8 tháng tuổi, cháu bé vẫn còn nhỏ nên bạn có thể thỏa thuận với nhà chồng để cho bạn nuôi, trường hợp nếu người chồng không đồng ý khi ra tòa ly hôn bạn có thể đưa ra những căn cứ chứng minh mình đủ điều kiện nuôi con để tòa giao con cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng. 

     

    Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

    1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

     

    Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn thủ tục ly hôn và các vấn đề pháp lý liên quan vui lòng liên hệ trực tiếp với các luật sư của chúng  tôi để được tư vấn chi tiết.

    Trân trọng!
     
     
    Báo quản trị |  
  • #446227   10/02/2017

    luatsutraloi1
    luatsutraloi1
    Top 500
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:01/08/2014
    Tổng số bài viết (101)
    Số điểm: 656
    Cảm ơn: 16
    Được cảm ơn 25 lần


    Khi ly hôn thì con dâu bị mẹ chồng đòi lại vàng quà cưới ?

    Câu hỏi

    Trong đám cưới, mẹ chồng tặng tôi một bộ kiềng, lắc trị giá 5 cây vàng. Và giờ khi chúng tôi ly hôn, bà đòi lại vì cho rằng “không làm tròn bổn phận con dâu”.

    Việc làm này của mẹ chồng tôi có đang trái quy định của pháp luật không? Xin luật sư tư vấn

    (Hồng An – hongan88 ...xxx@gmail.com)

     

    Luật sư tư vấn:

    Trong trường hợp này của bạn thì sẽ được quy định theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên. Theo đó thì khi gia đình bên chồng có tặng cho, giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.

    Điều 458 quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Theo đó, hợp đồng tặng cho tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với tài sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì những hợp đồng cho, tặng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

    Theo quy định của pháp luật, vàng bạc, đá quý… là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Do vậy, khi bên được tặng cho tài sản nhận tài sản thì việc tặng cho đã hoàn tất, quyền sở hữu tài sản đã được chuyển dịch từ người tặng cho sang người được tặng cho.

    Đối chiếu với các quy định nói trên, việc mẹ chồng tặng nữ trang cho bạn trong lễ cưới mà không kèm bất kỳ điều kiện nào và bạn cũng đã đồng ý nhận thì số nữ trang đó đã thuộc sở hữu của bạn. Do vậy, việc mẹ chồng cho rằng bạn không làm tròn bổn phận con dâu trong gia đình để đòi nữ trang là không có căn cứ.Và việc mẹ bạn đòi lại vàng là điều trái với pháp Luật.

     

    Trân trọng,

    Cập nhật bởi luatsutraloi1 ngày 10/02/2017 01:32:36 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #446783   17/02/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Sau ly hôn chồng không cấp dưỡng nuôi con thì phải làm thế nào?

    Câu hỏi:

    Em tên là Ngô Thị Thùy, Em năm nay 27 tuổi. 1 năm trước em đã ly hôn với chồng và đã thỏa thuận anh ta phải cấp dưỡng nuôi con là 2 triệu đồng 1 tháng. Mức lương của anh ta là 8 triệu 1 tháng, em thấy mức 2 triệu tiền cấp dưỡng rất hợp lý nhưng kể từ sau ly hôn, anh ta chỉ cấp dưỡng cho con em được vài tháng và đến nay thì không cấp dưỡng và cũng không thăm con,  không biết con của mình sống như thế nào. bỏ mặc không hề quan tâm đến con rất vô trách nhiệm. Trước đây anh ta cũng không bao giờ tự giác đưa tiền cấp dưỡng, em cảm thấy rất phiền. Giờ em muốn anh ta cấp dưỡng cho con em mỗi tháng thì phải làm sao?

    Trả lời:

    Chào bạn, 

    Theo quy định tại luật hôn nhân gia đình năm 2014:

    Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

    1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

    2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

     

    Đồng thời, tại mục 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định cụ thể về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình) như sau:

    “Khi áp dụng quy định tại Điều 92 cần chú ý một số điểm sau đây:

    a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.”

    Trong trường hợp chồng cũ của bạn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung của 2 người thì theo quy định pháp luật Hôn nhân và gia đình 2000 và điều 20 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình:

    “1. Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thì theo yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án ra quyết định buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì thời điểm đó được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Toà án.

    2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Toà án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, thì người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Toà án.

    3. Theo quyết định của Toà án, cơ quan, tổ chức trả tiền lương, tiền công lao động, các thu nhập thường xuyên khác cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng có trách nhiệm thực hiện việc khấu trừ khoản cấp dưỡng để chuyển trả cho người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo đúng mức và phương thức cấp dưỡng do người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó và người có nghĩa vụ cấp dưỡng thoả thuận hoặc theo mức và phương thức cấp dưỡng do Toà án quyết định.”

     

    Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì trong trường hợp chồng bạn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án buộc chồng cũ của bạn phải thực hiện nghĩa vụ đó. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Toà án.

     

    Trên đây là ý kiến của luật sư công ty Luật Newvision Law tư vấn cho bạn giải quyết trường hợp chồng cũ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì phải làm thế nào? Nếu còn vướng mắc hoặc khó khăn bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ giải quyết.

     

    Trân trọng!

     

     
    Báo quản trị |  
  • #446784   17/02/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Không có đầy đủ giấy tờ tòa án có giải quyết ly hôn không ?

    Câu hỏi:
     
    Tôi sinh năm 1981 còn chồng tôi sinh năm 1978, chúng tôi đã có 2 con chung nhưng nay chồng tôi có  quan hệ ngoại tình với phụ nữ khác, và tuyên bố vẽ ở với người phụ nữ, bây giờ anh ta ít khi về nhà, khi về thì có những hành vị gây mâu thuẫn, chửi bới, lăng mạ mẹ con chúng tôi. Tôi có đề nghị ly hôn nhưng anh ta chỉ ký vào đơn ly hôn và nay đã bỏ đi với người phụ nữ đó nên tôi không có đầy đủ giấy tờ để làm thủ tục ly hôn. Mong luật sư tư vấn giải quyết ly hôn giúp tôi.
     
     
    Trả lời:
     
    Chào bạn, 
     
     
     

    Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

     
    1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
    2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
    3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
     
    Như vậy trong trường hợp chòng chị ngoại tình thì chị có thể đưa ra những chứng cứ chứng minh được hiện nay tình trạng vợ chồng đã không còn tình cảm, hôn nhân lâm vào trầm trọng và không thể kéo dài. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại,Nếu thực tế cho thấy vợ chồng đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần, nhưng chồng chị vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được. 
     

    Thủ tục xin ly hôn thuận tình:

     
    - Đơn xin ly hôn (Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn theo mẫu của từng Tòa);
    - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
    - Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực)
    - CMND/hộ chiếu (bản sao có chứng thực);
    - Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực - nếu có);
    - Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐQSHNƠ (sổ đỏ); đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);
     
    Nộp hồ sơ tại TAND cấp quận/huyện nơi chị hoặc chồng chị đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú, làm việc.
     
    Như vậy, muốn tòa án thụ lý hồ sơ thì chị phải chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ trên để tòa giải quyết.
     
    Báo quản trị |  
  • #446789   17/02/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Chồng không ký vào đơn có ly hôn được không ?

    Câu hỏi:

    Chào luật sư, Tôi năm nay 31 tuổi và muốn làm thủ tục ly hôn mong được luật sư tư vấn. Con tôi nay được 9 tuổi rồi, tôi và chồng đã không chung sống với nhau được mấy năm rồi, mấy lần tôi bảo anh ta ký đơn xin ly hôn để giải quyết nhưng anh ta không đồng ý. Trong trường hợp của tôi, muốn giải quyết ly hôn có được không và phải làm như thế nào?

     

    Trả lời: 

    Chào bạn, 

    Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

    1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

    2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

    3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

    Như vậy, bạn có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương khi mà chồng bạn không đồng ý và không chịu ký vào đơn

    Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn phải chứng minh về việc cuộc hôn nhân của vợ chồng bạn không hạnh phúc và không thể kéo dài được nữa.

     

    Về thủ tục ly hôn đơn phương, bạn chuẩn bị hồ sơ như sau:

    - Đơn khởi kiện ly hôn.

    - Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

    - Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con chung (nếu có con chung).

    - Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng.

    -Giấy tờ chứng minh tài sản chung;

    Hồ sơ này bạn nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện/quận nơi chồng bạn đang cư trú, làm việc để giải quyết ly hôn. Sau khi giải quyết ly hôn tòa sẽ cấp quyết định ly hôn cho bạn.

     

    Giải quyết ly hôn:

    Trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn đơn phương, thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn thông thường khoảng 4 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Vậy tổng cộng thời gian tối da là 06 tháng.

    Khi giải quyết, nếu tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà người kia cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu bên kia vẫn không có mặt tại phiên tòa thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị đơn (theo quy định tại Điều 200 BLTTDS).

     
    Báo quản trị |  
  • #447489   22/02/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Thuận tình ly hôn nhưng chồng không ra Tòa án thì phải làm thế nào ?

    Câu hỏi:

    Thưa luật sư, tôi đã làm thủ tục ly hôn thuận tình và chồng, tôi quê ở Lạng Sơn còn chồng tôi ở Cao Bằng. Mặc dù cũng đồng ý ly hôn và chúng tôi không có tranh chấp gì về tài sản và con cái nhưng vì khoảng cách địa lý nên anh ấy không muốn lên tòa để giải quyết. Tôi muốn giải quyết ly hôn vắng mặt, chồng không tham gia phiên tòa có được không?

    Trả lời:

    Chào bạn, 

    Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thuận tình ly hôn như sau:

    "Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

    Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì hai vợ chồng bạn đều thuận tình ly hôn. Vấn đề của bạn là muốn Tòa xử vắng mặt bạn (chồng) vì lý do ở xa. Điểm q Khoản 2  Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ của đương sự như sau: "q) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án." Như vậy, về nguyên tắc, Tòa án chỉ giải quyết vụ việc khi có mặt đầy đủ các đương sự. Nếu đương sự vắng mặt có thể cử người đại diện theo ủy quyền, theo Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự:

     

    Theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2004, và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, việc ly hôn được tiến hành như sau:

     

    Nộp thủ tục ly hôn thuận tình tại Tòa án nhân dân nơi bên vợ hoặc bên chồng cư trú, làm việc.

     

    "Điều 73. Người đại diện

    1. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền.

    2. Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.

    Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

    3. Người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng."

     

    Về nguyên tắc, mọi vụ án đều chỉ xét xử khi có mặt đầy đủ các đương sự. Trừ trường hợp đương sự vắng mặt dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ 2 lần mà vẫn vắng mặt thì vụ án có thể bị đình chỉ (nếu bên nguyên đơn vắng mặt) hoặc xử vắng mặt (nếu bị đơn vắng mặt). Tuy nhiên, trong hồ sơ phải có đầy đủ thông tin, ý kiến của cả hai bên (nếu không thì tòa cũng không thụ lý (nhận đơn) hoặc không thể xét xử.

    Thông thường, các bên đương sự có thể ủy quyền cho người khác thay mình tham gia vào quá trình tố tụng (giải quyết vụ án). Tuy nhiên, trong vụ án ly hôn (hôn nhân gia đình) – liên quan đến quyền nhân thân – mà quyền nhân thân thì không thể chuyển giao (ủy quyền) cho người khác. Nên sự có mặt của đương sự tại tòa là bắt buộc.

    Trân trọng!

     
     
    Báo quản trị |  
  • #447997   25/02/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Chia tài sản đứng tên bố chồng khi ly hôn được không ?

    Câu hỏi

    Tôi lập gia đình được 10 năm nay và đã có 2 đứa con. Nhưng vì cuộc sống hôn nhân không còn hợp nhau nữa nên chúng tôi đã ly dị. Và khi chia tay thì liệu tôi có được tài sản đứng tên bố chồng không bởi vì đó là do chồng tôi bỏ tiền ra ?

    Luật sư tư vấn

    Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, kinh doanh, hoạt động sản xuất,hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này. Tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ khi vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    Như vậy, với các quy định nêu trên, để xác định khi ly hôn bạn có được chia tài sản đứng tên bố chồng (sau đây gọi là tài sản) hay không cần phải xác định thời điểm, nguồn gốc và phương thức hình thành tài sản. Do bạn không nói rõ những thông tin này nên chúng tôi sẽ phân loại thành một số các trường hợp sau:

    Trường hợp thứ nhất: Tài sản được hình thành trước khi vợ chồng bạn kết hôn. Theo quy định tại Điều 33 nói trên thì tài sản này không phải là tài sản chung của vợ ,chồng bạn nên khi ly hôn bạn sẽ không được chia. Và trường hợp này không cần phân biệt nguồn gốc và phương thức hình thành tài sản.

    Trường hợp thứ hai: Những tài sản được hình thành sau khi vợ, chồng bạn kết hôn. Trường hợp này sẽ có 3 tình huống xảy ra.

    – Tiền mua nhà đất là tài sản riêng của chồng bạn có trước khi kết hôn thì tài sản này sẽ không phải là tài sản chung vợ, chồng. Nếu ly hôn bạn sẽ không được chia. Tuy nhiên, chồng bạn có nghĩa vụ phải chứng minh số tiền bỏ ra để mua nhà đất là của riêng trước khi anh ấy kết hôn

    – Tiền mua nhà đất là thu nhập của vợ chồng bạn có sau khi kết hôn nhưng vì một lý do nào đó vợ chồng bạn đã nhờ bố chồng đứng tên sở hữu tài sản. Trường hợp này tài sản sẽ được xác định là tài sản chung vợ chồng, nếu ly hôn bạn sẽ được chia tài sản

    – Bố chồng cũng góp tiền khi mua nhà đất. Trường hợp này tài sản sẽ được xác định là tài sản chung và bố chồng bạn cũng có phần trong khối tài sản đó. Tuy nhiên, nếu ly hôn thì bạn chỉ được chia khi phần tiền mà chồng bạn đóng góp để mua chung với bố chồng bạn là thu nhập có sau khi kết hôn. Trường hợp phần tiền mà chồng bạn đóng góp để mua chung là tài sản riêng của chồng bạn có trước khi kết hôn thì tài sản được xác định là tài sản chung của chồng và bố chồng. Nếu ly hôn thì bạn sẽ không được chia tài sản này.

    Trường hợp thứ ba: Nếu bố chồng vay tiền của chồng bạn để mua nhà đất. Thì theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp này tài sản thuộc sở hữu của bố chồng. Khi ly hôn thì bạn sẽ không được chia tài sản này. Trường hợp nguồn tiền mà chồng bạn cho bố chồng vay là tài sản chung vợ chồng thì khi ly hôn bạn có quyền đề nghị tòa án xem xét nghĩa vụ trả nợ của bố chồng với vợ chồng bạn.

     

    Cập nhật bởi luatsutraloi3 ngày 25/02/2017 11:59:41 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #454849   28/05/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Nếu chồng làm đơn ly hôn thì vợ có được chia tài sản không ?

    Câu hỏi:

    Xin chào luật sư, tôi muốn luật sư tư vấn giúp tôi một vấn đề như sau:

    Con gái tôi lấy chồng được 6 năm và sinh một cháu trai năm nay được 4 tuổi. Trước khi con tôi kết hôn, thì bố mẹ chồng cho 1 thửa đất để 2 vợ chồng xây nhà và còn nợ. Sau khi kết hôn bố mẹ chồng sang tên thửa đất đó cho vợ chồng con gái tôi, đến bay giờ thì tiền xây nhà cả 2 vợ chồng dã trả nợ hết. Tuy nhiên vì một số mâu thuẫn nên gia đình của con gái tôi không hạnh phúc. Nếu chồng con gái tôi làm đơn ly hôn với con gái tôi thì con gái tôi được hưởng những quyền lợi từ mảnh đất bố ẹm chồng cho không, con gái tôi có được quyền nuôi con không?

    Tôi xin trân thành cảm ơn!

     

    Luật Sư trả lời:

    Chào bạn,

    Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về Công ty Luật NewVision Law. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin đưa ra quan điểm của mình tư vấn ly hôn cho bạn như sau:

    Theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

    - Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

    - Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

    Như vậy, người vợ hoặc người chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

    Các vấn đề về con chung và tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được giải quyết như sau:

    - Về con chung: Do hai vợ chồng thỏa thuận, trong trường hợp hai vợ chồng con gái bạn không thỏa thuận được thì theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án sẽ xem xét dựa trên 2 điều kiện sau:

    + Kinh tế: có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống cho con.

    + Nhân thân: Có nhân thân tốt, chưa từng phạm tội, không có hành vi vi phạm, có lối sống lành mạnh.

    - Về tài sản chung: Trong tình huống bạn chỉ nhắc đến thửa đất mà vợ chồng con gái bạn được bố mẹ chồng cho và đã thực hiện thủ tục sang tên cho hai vợ chồng thì quyền sử dụng đất này được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng con gái bạn và con gái bạn sẽ được chia theo nguyên tắc do hai vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp không thỏa thuận được, theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi có xét đến công sức đóng góp, điều kiện hoàn cảnh gia đình...

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn luatsutraloi3 vì bài viết hữu ích
    hoailamsvl (29/05/2017)
  • #455257   30/05/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Quyền nuôi con khi ly hôn khi chồng ngoại tình có con riêng?

    Câu hỏi:

    Vợ chồng tôi có 1 đứa con năm nay 10 tuổi, nhưng chúng tôi chưa ly hôn, chồng tôi đã kết hôn với 1 người khác và có con được 2 tuổi, tôi muốn hỏi tội đấy có có bị truy tố không? Giờ tôi làm đơn ly hôn thì ai sẽ được quyền nuôi con. Tôi cám ơn!

     

    Trả lời:

    Chào bạn,

    Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin đưa ra quan điểm của mình tư vấn ly hôn cho bạn như sau:

    Việc đăng ký kết hôn với người đã có vợ hoặc có chồng, người đã có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác theo Điều 147 Bộ luật Hình sự 1999 quy định Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:

    - Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chung sống với người khác như vợ chồng mà còn vi phạm;

    - Chồng bạn có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả nghiêm trọng.

    Việc chung sống như vợ chồng được chứng minh bằng: có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung;

    Ngoài ra, người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn biết rõ là người xin đăng ký không đủ điều kiện kết hôn mà vẫn đăng ký cho người đó, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội đăng ký kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Điều 149 Bộ luật hình sự 1999.

    Về vấn đề nuôi con sau ly hôn, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con bạn đủ 7 tuổi thì việc giao con cho ai nuôi phải được xem xét nguyện vọng của con. Do đó, khi ly hôn, Tòa án sẽ hỏi trực tiếp ý kiến của con bạn để xác định giao con cho ai nuôi là hợp lý.

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |  
  • #471557   19/10/2017

    luatsutraloi3
    luatsutraloi3
    Top 150
    Male
    Lớp 6

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/08/2014
    Tổng số bài viết (439)
    Số điểm: 7761
    Cảm ơn: 294
    Được cảm ơn 141 lần


    Giải quyết ly hôn đơn phương với một người bị tuyên bố mất tích

    Trong tháng 10 năm 2017, Công ty TNHH Luật TGS tiếp nhận trường hợp yêu cầu tư vấn và đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Quang H. trong vụ việc đơn phương ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị B với tình trạng không có bất kì thông tin liên lạc gì của chị B mặc dù đã sử dụng nhiều biện pháp tìm kiếm.

    Sau khi chấp nhận yêu cầu của anh H. và nghiên cứu những thông tin mà anh H. cung cấp, các luật sư đã thực hiện nghiệp vụ tư vấn và giải quyết vụ việc như sau:

    Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 thì việc Tòa án tuyên bố một người là mất tích được thực hiện theo quy định như sau :

    Điều 68. Tuyên bố mất tích :

     

    1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

    Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

    2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.”

    Như vậy, với tư cách là chồng hợp pháp của chị B. thì anh H. hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị B. mất tích nếu có đủ các căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật.


    Theo quy định của Bộ Luật dân sự và Bộ Luật tố tụng dân sự :

     

    Khi người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất tích thì người đó phải nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết với nội dung như sau:

    Ngày, tháng, năm, viết đơn; tên, địa chỉ của người yêu cầu, những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết; lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó; tên địa chỉ những người có lên quan; các thông tin khác mà người yêu cầu thấy cần thiết cần cung cấp; kèm theo là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

    Kèm theo đơn là các chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết và chứng minh việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm.

    Toà án sẽ xem xét đơn và thụ lý vụ án; trong thời hạn là 20 ngày, kể từ ngày thụ lý, Toà án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng (thông báo trong 4 tháng kể từ ngày thông báo đầu tiên).

    Sau 15 ngày kể từ ngày hết hạn công bố thông báo Tào án sẽ mở phiên họp xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

    Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cho trường hợp đơn phương xin ly hôn với một người bị Tòa án tuyên bố mất tích như sau:

    Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình trong trường hợp nguyên đơn không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cứ trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án một trong các nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.

    Sau khi xác định được Tòa án có thẩm quyền giải quyết, Luật sư đại diện theo ủy quyền cho anh H. tiến hành các các hoạt động nghiệp vụ bao gồm: Xác nhận nơi cư trí của bị đơn, kê khai thông tin đày đủ vào tờ Đơn xin ly hôn, Nộp hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nộp tạm ứng án phí và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

     

    Hồ sơ xin ly hôn bao gồm các giấy tờ như sau:

     

    Bản sao giấy chứng minh thư hoặc hộ chiếu của vợ chồng

    Bản sao hộ khẩu có chứng thực của vợ và chồng

    Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản gốc hoặc bản sao có chứng thực của vợ chồng

    Bản sao Giấy khai sinh của các con

    Giấy xác nhận cư trú của bị đơn

     

    Đối với việc bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự như sau: Tòa án triệu tập lần thứ nhât, bị đơn hoặc người đại diện của bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phải có mặt tại phiên tòa; nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toàn, trừ trường hợp người có có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, nếu tiếp tục vắng mặt mà không có yêu cầu phản tố thì Tòa án vẫn sẽ tiến hành xét xử vắng mặt họ (theo quy định tại Điều 277 Bộ Luật tố tụng dân sự).

     

    Thời hạn giải quyết vụ án ly hôn đơn phương được quy định như sau:

     

    Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn kiện tòa án phải tiến hành thụ lý vụ án, tức thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí, tòa án thụ lý án khi người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

    Trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

    Đình chỉ giải quyết vụ án; Đưa vụ án ra xét xử (nếu có một bên không đồng ý ly hôn hoặc có tranh chấp về con, tài sản).

    Trong thời hạn 05 ngày việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự.

    Trong thời hạn 1 tháng từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử tòa án phải mở phiên tòa.

    Sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử, nếu không có kháng cáo, kháng nghị, án sẽ có hiệu lực thi hành.

     

    Trân trọng!

     
     
    Báo quản trị |