Trường hợp nào vợ hoặc chồng KHÔNG phải liên đới trả nợ?

Chủ đề   RSS   
  • #532775 11/11/2019

    lamkylaw
    Top 150
    Lớp 9

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:31/10/2018
    Tổng số bài viết (514)
    Số điểm: 11618
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 448 lần


    Trường hợp nào vợ hoặc chồng KHÔNG phải liên đới trả nợ?

     

    Không ít các trường hợp mâu thuẫn trong gia đình diễn ra xoay quanh vấn đề tiền bạc, kể cả khi trong thời kỳ hôn nhân và khi ly hôn nhiều người vẫn còn thắc mắc trong việc giải quyết vấn đề nợ khi 1 trong 2 vay tiền nhưng người kia không biết, vậy thì họ có phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ hay không? Nội dung dưới đây mình sẽ hướng dẫn giải đáp vấn đề về liên đới trả nợ trong thời kỳ hôn nhân, nếu thuộc các trường hợp này thì thực hiện nguyên tắc "ai vay nấy trả" nhé:

    Trường hợp 1.  Mục đích vay tiền KHÔNG đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

    Theo quy định tại điều 30 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

    Tuy nhiên không phải gia đình nào  hoặc người nào cũng có tài sản riêng, vì vậy khi không có đủ điều kiện nêu trên mà một trong hai có quyền đứng ra vay một khoản tiền từ một đối tượng nào đó thì bên kia phải liên đới chịu trách nhiệm.

    Trường hợp 2: Việc vay mượn tiền KHÔNG dựa trên căn cứ xác lập đại điện giữa vợ và chồng.

    Trong đó, căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng được quy định tại điều 24 Luật HNGĐ như sau:

    1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

    3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

    Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

    Trường hợp 3: Trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung nhưng có thỏa thuận khác hoặc luật HNGĐ và luật khác có liên quan quy định khác về nghĩa vụ vay tiền về đại diện trong quan hệ kinh doanh.

    Trường hợp 4: KHÔNG thuộc các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng được liệt kê dưới đây:

    1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

    2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

    3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

    4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

    5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

    6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

    Tham khảo các bài viết có liên quan:

    >>> Các trường hợp không được quyền ly hôn

    >>> Giao dịch tài sản chung không cần sự đồng ý của vợ hoặc chồng

    >>> Chế độ tài sản trước, trong và trường hợp ly hôn: Những điều có thể bạn chưa biết

     
    12993 | Báo quản trị |  
    4 thành viên cảm ơn lamkylaw vì bài viết hữu ích
    jellannm (13/01/2020) admin (12/11/2019) yuanping (11/11/2019) ThanhLongLS (11/11/2019)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #537265   13/01/2020

    jellannm
    jellannm
    Top 200
    Female
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/03/2019
    Tổng số bài viết (348)
    Số điểm: 2400
    Cảm ơn: 13
    Được cảm ơn 46 lần


    Cảm ơn vì bài viết hữu ích của bạn. Nhưng mà thực tế theo mình thì rất khó để chứng minh việc người chồng hay người vợ không có nghĩa vụ liên đới trả nợ, trừ khi ra Tòa. Trước khi ra Tòa để chứng minh mình không có nghĩa vụ liên đới trả nợ thì khả năng cao chủ nợ hay xã hội đen đã đòi nợ thành công.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #537738   29/01/2020

    Theo mình thấy thì rất khó để vợ chồng không phải liên đới trả nợ vì nhu cầu xác định có liên đới trả nợ hay không chỉ khi ra tòa mới cần thiết. Còn thông thường vợ chồng đều phải có nghĩa vụ trả nợ cho phần nợ chung, cho dù một người đi vay thì ít nhất người kia cũng phải biết.

     
    Báo quản trị |  
  • #539540   28/02/2020

    Về vấn đề các trường vợ chồng không phải liên đới trả nợ, theo quan điểm của mình trên thực tế khó xác định nợ chung, nợ riêng và có liên đới hay không để xác định và cần phải có sự xác định của Tòa án

     
    Báo quản trị |  
  • #540108   29/02/2020

    Cảm ơn bạn, bài viết rất hữu ích. Tuy nhiên, với những giao dịch dân sự phát sinh bên ngoài, rất khó để phân định khi những người ngoài, không thân thích, vẫn luôn mặc định xác lập quan hệ dành cho người đã có gia đình là giao dịch của vợ chồng. Trừ khi một trong hai người vợ chồng yêu cầu xác lập giao dịch đó của riêng mình.

    Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, người còn lại cần đưa ra những chứng cứ chứng minh mình không thuộc, không biết cũng không thực hiện giao dịch dân sự đó.

     
     
    Báo quản trị |  
  • #541567   21/03/2020

    Về vấn đề các trường hợp vợ chồng phải liên đới trả nợ, theo quan điểm của mình luật quy định là vậy nhưng trên thực tế thì rất khó để chứng minh việc khoản vay có phải "phục vụ cho nhu cầu thiết yếu" của vợ chồng không, trường hợp này người còn lại phải chứng minh và phụ thuộc vào quyết định của Tòa

     
    Báo quản trị |  
  • #541780   24/03/2020

    Nếu không cùng nhau thực hiện giao dịch, hoặc không thông qua ý kiến của bên còn lại, thì các giao dịch phát sinh nợ sẽ không phải do vợ chồng liên đới cùng trả. Ai thực hiện giao dịch, người đó sẽ chịu trách nhiệm phải thực hiện theo đúng quy định của các bên

     
     
    Báo quản trị |  
  • #552179   19/07/2020

    Trong thời kỳ hôn nhân, bên cạnh tài sản chung hai vợ chồng có thể có tài sản riêng. Đây là tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng, ... Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu rõ, vợ chồng có nghĩa vụ riêng về tài sản phải thực hiện:
     
    - Nghĩa vụ của mỗi bên có trước khi kết hôn;
     
    - Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
     
    - Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ chồng;
     
    - Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng…
     
    Có thể thấy trong thời kỳ hôn nhân, bên cạnh những khoản nợ chung khi cả hai vợ chồng cùng xác lập thì cũng có những khoản nợ riêng do mỗi bên thực hiện. Theo đó, không phải mọi khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân đều là nợ chung mà có thể là những khoản nợ riêng của một trong hai bên vợ chồng.
     
    Báo quản trị |  
  • #553158   28/07/2020

    ledinhthien
    ledinhthien
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/05/2020
    Tổng số bài viết (191)
    Số điểm: 1000
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 4 lần


    Theo quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.” Nên vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình bao gồm việc vay mượn tài sản, do đó khoản tiền vay mượn sẽ là nợ chung của vợ chồng và người còn lại cũng phải có trách nhiệm trả nợ, trừ trường hợp người vợ, chồng chứng minh được phần nào trong số tiền vay mượn không vì nhu cầu thiết yếu của gia đình.

     
    Báo quản trị |  
  • #553183   28/07/2020

    TranThao0902
    TranThao0902
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/03/2020
    Tổng số bài viết (233)
    Số điểm: 1360
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Cảm ơn chia sẻ rất hữu ích của bạn về trách nhiệm liên đới trả nợ của vợ chồng. Trên thực tế có nhiều trường hợp chỉ 1 bên vợ chồng vay nợ mà bên kia không hề biết, đến hạn trả nợ thì mới phát hiện ra. Tuy nhiên khi bên chủ nợ đi đòi tiền thì đều đòi cả hai vợ chồng chứ không có xác định là nghĩa vụ trả nợ này thuộc về ai. Do đó mình thấy còn có văn bản điều chỉnh rõ hơn về vấn đề này.

     
    Báo quản trị |  
  • #553918   31/07/2020

    MewBumm
    MewBumm
    Top 50
    Male
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/09/2017
    Tổng số bài viết (1000)
    Số điểm: 6499
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 125 lần


    Vấn đề xác định liên đới trả nợ hay không mình thấy trong thực tiễn là một việc rất khó khăn. Tùy theo mục đích của các bên để đưa ra những tài liệu, chứng cứ chứng minh về nghĩa vụ liên đới hay không. Trong thời ký hôn nhân các mối quan hệ đều có sự liên kết với nhau, nên tốt nhất là hai vợ chồng thỏa thuận rõ các nghĩa vụ dân sự phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

     
    Báo quản trị |