DanLuat 2015

Trường hợp nào vợ chồng phải liên đới trả nợ?

Chủ đề   RSS   
  • #517210 26/04/2019

    lanbkd
    Top 200
    Female
    Lớp 3

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/08/2017
    Tổng số bài viết (300)
    Số điểm: 4479
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 109 lần


    Trường hợp nào vợ chồng phải liên đới trả nợ?

    Trường hợp nào vợ chồng phải liên đới trả nợ?

    Thực tế xảy ra nhiều trường hợp vì nhu cầu của cuộc sống người vợ/chồng vay nợ để chi trả cho các chi phí của gia đình nhưng lại không thông báo cho những thành viên khác trong gia đình. Vậy trong những trường hợp đó bên vợ/chồng còn lại có phải liên đới trả nợ không?

    Cùng tìm hiều các trường hợp vợ chồng phải liên đới trả nợ trong bài viết dưới đây để có câu trả lời cho thắc mắc trên nhé.

    TRƯỜNG HỢP THỨ NHẤT: Vay, mượn tiền là vì mục đích đáp ứng nhu cầu cần thiết của gia đình.

    Vấn đề này được quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

    Trên thực tế, không phải gia đình nào cũng có đủ tài sản để đáp ứng nhu cầu cuộc sống, nhất là các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Có thể vì thiếu tiền để chi trả cho các chi phí của gai đình như tiền học phí của con cái; tiền điện nước của gia đình; tiền đặt cọc nhà ở;… mà người vợ/chồng đã tự mình tiến hành vay hoặc mượn nợ để thanh toán khoản tiền trên. Trong trường hợp này, dù vợ chồng không bàn bạc với nhau và người kia cũng không ký vào hợp đồng vay thì về nguyên tắc, bên vợ/chồng đó cũng vẫn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ.

    TRƯỜNG HỢP THỨ HAIViệc vay mượn tiền dựa trên căn cứ xác lập đại điện giữa vợ và chồng.

    Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

    1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

    3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

    Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

    Đối với các trường hợp vay, mượn dựa trên căn cứ các lập đại diện giữa vợ chồng thì việc một bên vợ vay/chồng tiền nhưng người còn lại vẫn phải liên đới trả tiền về bản chất là do người còn lại đã ủy quyền bên kia về việc vay tiền. Việc ủy quyền này về bản chất không phải lập thành văn bản; tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi của các bên thì cần lập thành văn bản hoặc cần có người làm chứng hoặc bằng chứng chứng minh về thỏa thuận ủy quyền này. 

    TRƯỜNG HỢP THỨ  BA: Một bên vợ/chồng là người đại diện trong quan hệ kinh doanh.

    Theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ và chồng kinh doanh chung. Vợ, chồng đóng vai trò là người trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh. Ngoài ra họ là người đại diện hợp pháp cho nhau trong quan hệ kinh doanh. Chính vì vậy, khi một bên vay tiền vì mục đích kinh doanh thì người còn lại sẽ phải liên đới trả nợ.

    Tuy nhiên, nếu vợ chồng có thỏa thuận khác về việc đại diện trong quan hệ kinh doanh, hoặc chủ thể có quyền vay tiền,… thì tùy vào từng trường hợp mà người còn lại mới phải trả nợ. 

    TRƯỜNG HỢP KHÁC:

    Ngoài ba trường hợp trên, việc liên đới trả nợ chung còn dựa vào các trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

    Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

    1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

    2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

    3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

    4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

    5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

    6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

    Đây là những trường hợp mà vợ chồng liên đới chịu trách nhiệm chung về tài sản. Có nghĩa là dù một bên vợ/chồng có đơn phương mượn tiền thì người còn lại vẫn phải liên đới trả nợ. Ví dụ như: Vợ vay tiền để mua mảnh đất đứng tên cả hai vợ chồng chị (tài sản chung của vợ chồng) thì người chồng cũng có nghĩa vụ phải liên đới trả nợ. 

     

     
    3173 | Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn lanbkd vì bài viết hữu ích
    GHLAW (26/04/2019) thanhnghi1960 (26/04/2019)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận