DanLuat 2015

Tranh chấp thương mại và vấn đề kiện tụng của Doanh nghiệp.

Chủ đề   RSS   
  • #10758 29/07/2008

    hnam_56

    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/05/2008
    Tổng số bài viết (14)
    Số điểm: 1270
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    Tranh chấp thương mại và vấn đề kiện tụng của Doanh nghiệp.

    Công ty TNHH sản xuất ( A) có một thoả thuận hợp đồng mua bán với công ty B ( đối tác nước ngoài ) gọi tắt là ( B).  A bán cho B một số mặt hàng do A sản xuất. B cử một đại diện người Việt Nam giúp B ký hợp đồng thoả thuận mua bán này. Thoả thuận được gửi sang nước ngoài đóng dấu của B ( dấu nước ngoài ) .  Khi phát sinh mâu thuẫn về thanh toán tiền hàng A không tìm thấy B nên đã tìm người đại diện ký thoả thuận cho B để kiện " đòi nợ" dân sự .
    - Xin hỏi như thế có được hay không ?
    Lý do A đưa ra là kiện " dân sự " về " đòi nợ " nhưng " khoản nợ" khi tranh chấp trước toà A trình bày là xuất phát từ hợp đồng khung đó là bản thoả thuận mua bán hàng xuất khẩu đã có đại diện ký .
    B trả lời rằng : A đi tìm B mà đòi vì đó là hai công ty có tư cách pháp nhân ngang nhau. Có con dấu xác nhận còn B chỉ chịu trách nhiệm với riêng cá nhân B . Công ty  A không có quyền đòi đại diện ( vì A gửi bản thoả thuận sang nước ngoài đóng dấu, A không đòi giấy ủy quyền của B đó là lỗi tại A . Người đại diện ký chỉ chịu trách nhiệm trước B mà thôi
    - Xin hỏi như thế có đúng luật không ? 
    -  A khi khởi kiện cần những bằng chứng nào để kiện B ?
    Cập nhật bởi navelvu ngày 26/03/2010 09:03:45 AM Cập nhật bởi navelvu ngày 25/02/2010 04:02:43 PM
     
    25976 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

5 Trang 12345>
Thảo luận
  • #10759   28/05/2008

    XuanHan
    XuanHan
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/04/2008
    Tổng số bài viết (200)
    Số điểm: 3672
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Bất cẩn trong thói quen trọng con dấu hơn trọng chữ ký !

    Nếu Công ty A và Công ty B không có giấy tờ gì về việc xác nhận công nợ, thì Công ty A không thể khởi kiện đòi nợ, mà khởi kiện yêu cầu Công ty B thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn trong trường hợp này là Công ty B và người đại diện Công ty B ký hợp đồng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trách nhiệm của người ký hợp đồng này đến đâu còn cần phải xem xét có đúng là được người có thẩm quyền của Công ty B ủy quyền hay không.
        Tuy nhiên, vụ việc trên cho thấy nhiều khả năng có dấu hiệu của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu xác định Công ty B hoàn toàn không tồn tại. Khi đó, vụ việc cần được chuyển đến cơ quan công an để điều tra làm rõ vai trò của người ký hợp đồng này như thế nào.
     
    Báo quản trị |  
  • #10760   29/05/2008

    hnam_56
    hnam_56

    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/05/2008
    Tổng số bài viết (14)
    Số điểm: 1270
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    Cách nào giải quyết đúng nhất dựa trên công lý và luật pháp Việt Nam ?

    Kính thưa luật sư Xuân Hãn, cùng các vị luật sư tư vấn trên diễn đàn .  
    Xin phép ông cho phép tôi xin tư vấn riêng ông cùng các luật sư khác vụ việc này một cách công khai  ở đây nhé.
    1/  Dựa trên điều luật nào của bộ luật TT dân sự hay TT hình sự hay nghị định ? quyết định nào của pháp luật Việt Nam để cho rằng đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?
    2/ Nếu nếu người đại diện công ty B xác định được pháp lý của công ty B và có hồ sơ pháp lý của công ty B, hồ sơ đó được công chứng của toà án nước sở tại . Sau đó đại diện B hợp thức hoá lãnh sự, dịch công chứng tiếng Việt . Thì hồ sơ đó có được coi là hợp pháp hay không ?
    3/ Nếu chỉ có " bảng đối chiếu công nợ " của A dùng vũ lực ( có người chứng kiến và sẵn sàng ra toà làm chứng công khai) bắt người đại diện của B ký đối chiếu công nợ .
    Nhưng vì đại diện của B thời gian đó không thông hiểu luật pháp Việt Nam, đã không làm đơn tốc giác ngay thời điểm xảy ra vụ việc này . Thì sau này khi xét xử toà án có lưu ý và tập trung làm rõ hành vi trên của A không?  hay là sẽ bỏ qua tất cả ?
    4/ Nếu trong phiên toà, bằng dẫn chứng của A ( bút lục) nộp cho toà, vị Chủ tọa cho rằng khoản " đòi  nợ " dân sự của A là đúng. Và dẫn giải :   " khoản nợ" đó " có" đại diện cho B phải trả là do xuất phát từ thoả thuận mua bán hàng xuất khẩu do đại diện của B ký .
    Sau đó tuyên xử đại diện B phải trả nợ dân sự ( danh nghĩa tư cách cá nhân ) thì có đúng hay không ?
    5/ Nếu đại diện B ( vì theo luật đã hết thời hạn tố cáo công ty A dùng vũ lực ép buộc ký đối chiếu công nợ của B ) Và tự mình làm sáng tỏ sự việc trên bằng cách : Đọc hồ sơ bút lục của A và :
    - Với những bằng những bút lục do A nộp làm dẫn chứng cho toà ( vì lý do gì đó toà không đọc kỹ hồ sơ bút lục, chủ tọa trọng cung hơn chứng cớ giấy trắng mực đen ) đại diện của B chứng minh được qua các chứng cứ do A nộp. 
    - Công ty nước ngoài B đã trả dư tiền làm hàng xuất khẩu qua tài khoản của A và qua những phiếu thu tiền mặt .
    Thực tế " khoản nợ" như A đòi " dân sự" và đại diện B bị ép ký không hề có tồn tại, vì : 
    a/ Không có hợp đồng khung về mua bán hàng xuất khẩu nào tồn tại giữa A và B
    b/Không có hoá đơn tài chính bán hàng của A trong giai đoạn này .
    c/ Không có tờ khai hải quan thời gian này .
    Theo ông, theo luật pháp nhà nước Việt Nam hiện hành thì  toà sẽ tuyên xử vụ việc này thế nào ? 
    Xin phép được hỏi ông cùng các vị luật sư tư vấn khác một điều nữa :
    d/ Đại diện B có yêu cầu A rằng : Để làm sáng tỏ là có " khoản nợ " như A nói và mặc dù thuế xuất khẩu của A là 0%, nhưng vì A cho rằng " có nợ" thì đề nghị A xuất trình bảng báo cáo thuế doanh nghiệp tư nhân và thuế giá trị gia tăng giai đoạn này ( trước năm 2000) như thế yêu cầu đó có đúng hay không ? A có cần phải lưu ý vấn đề này không ? và A có cần phải xuất trình những giấy tờ như đại diện B yêu cầu hay không ?
    e/ Nếu không có những bản báo cáo thuế và hoá đơn thuế giá trị gia tăng thì liệu  A có bị khép tội là hành vi trốn thuế nhà nước hay không ? dựa trên điều luật nào để tính phần thuế thất thoát nào ? có bị truy thu thuế hay không?
    Xin cảm ơn ông Xuân Hãn cùng tất cả các vị luật sư tham gia chủ đề này
    Xin chúc sức khoẻ đến tất cả .
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hnam_56 vì bài viết hữu ích
    onapthanh (01/11/2013)
  • #10761   29/07/2008

    duonghien
    duonghien
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/04/2008
    Tổng số bài viết (190)
    Số điểm: 1509
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 11 lần


    Công ty Việt Nam A có quan hệ hợp đồng mua bán ngoại thương (hay hợp đồng khung) với công ty nước ngoài B nhưng người đứng tên ký hợp đồng lại là cá nhân X người Việt Nam.

    Cá nhân X này được gọi là người đại diện ký tên trong hợp đồng.

    Khi xem xét vấn đề của Hnam_56 thì mình đồng ý với Bạn Xuanhan về việc người đại diện ký trong hợp đồng phải có uỷ quyền hợp lệ.

    Nhưng ở đây chỉ xét yêu cầu khởi kiện dân sự của bên A mà thôi.

    Công ty A trước tiên phải kiện chính công ty B, công ty B tồn tại hay không phải căn cứ trên hợp đồng đã ký theo tên và con dấu của công ty B.

    Nếu tìm được công ty B, TA thụ lý sẽ xem xét trên các hướng:

    1/ Công ty B có lập giấy uỷ quyền (trước ngày ký hợp đồng với A) về việc cho cá nhân X làm đại diện công ty B ký kết, thực hiện hợp đồng hay không? Nếu có, rõ ràng cá nhân X chỉ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp giữa A và B.

    2/ Công ty B không uỷ quyền cho cá nhân X hợp lệ => hợp đồng bị vô hiệu => A, B hoàn trả lại cho nhau như ban đầu, bên có lỗi làm hợp đồng vô hiệu phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.

    Trường hợp không tìm được công ty B, công ty A muốn kiện cá nhân X thì phải căn cứ trên nhiều yếu tố, ngoài hợp đồng trên. Về phía cá nhân X, là bị đơn có quyền, nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ cần thiết để TA xét xử minh bạch.

    Nếu cá nhân X xác định được tính pháp lý của công ty B và có hồ sơ pháp lý của công ty B. Hồ sơ đó được công chứng của toà án nước sở tại, sau đó hợp thức hoá lãnh sự, dịch công chứng tiếng Việt. Thì hồ sơ đó có được coi là hợp pháp. Và hành vi của cá nhân X không có dầu hiệu lừa đảo công ty A trong việc ký kết hợp đồng mua bán này.

    Nếu cá nhân X có người làm chứng về việc mình ký đối chiếu công nợ trong tình trạng ép buộc thì TA phải xem xét kết hợp trên tất cả yếu tố khác như lời chứng, “bảng đối chiếu công nợ”, hợp đồng, tờ khai hải quan, L/C để xử…

    Nếu sau khi chứng minh mà TA kết luận cá nhân X phải trả khoản nợ cho công ty A với tư cách cá nhân là chưa thuyết phục, trừ khi có giấy tờ khác. Vì “bảng đối chiếu công nợ” mà X ký không có nghĩa là X thừa nhận và đồng ý làm người đảm bảo cá nhân trong việc thanh toán hợp đồng này cho A.

    Nếu X chứng minh được công ty B đã thanh toán dư cho công ty A thì TA sẽ bác yêu cầu của A. Nếu công ty A không có hợp đồng, không có hoá đơn, tờ khai hải quan tương ứng theo hợp đồng thì việc đòi nợ cũng là không có cơ sở.

    Việc X yêu cầu A xuất trình báo cáo thuế phải do TA xem xét và quyết định có cần thiết hay không. Nếu A không kê khai thuế và báo cáo thuế các khoản phát sinh liên quan đến hợp đồng này thì tuỳ vào mức độ vi phạm mà A phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Không biết vụ việc này thực hư thế nào nhưng cũng xin đưa ra cách nhìn nhận và giải quyết trên để cùng chia sẽ.

    Trân trọng.

    Cập nhật bởi navelvu ngày 25/02/2010 04:03:44 PM
     
    Báo quản trị |  
  • #10762   10/06/2008

    hnam_56
    hnam_56

    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/05/2008
    Tổng số bài viết (14)
    Số điểm: 1270
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    Luật Pháp Việt Nam hay luật của Xã hội đen ???

    Xin chân thành cảm ơn sự trả lời tư vấn của bác duonghien . Có thể vì chúng tôi không học luật, cũng không rành về luật pháp tại Việt Nam nên không biết cách trả lời của bác Xuân Hãn là đúng .  Xin trình bày với các bác ở đây : ( có thể vì lý do này dẫn đến sự không hiểu câu nói của bác XuânHãn chăng ?
    - Đại diện uỷ quyền hợp lệ của công ty B dành cho X :
    - Ngay từ đầu chủ tọa có nêu ra hỏi A ( chứ không hỏi X )
    - " A có yêu cầu X xuất trình uỷ quyền của B không ?
    -  A trả lời : - không cần
    Chủ tọa hỏi tiếp X
    - X có uỷ quyền của B không ?
    - X trả lời : không có
    Chủ tọa nói : vậy X có lỗi X phải nhận
    Như vậy lỗi tại ai trong vấn đề này ??? và trả lời của chủ tọa như thế đúng không ? dựa trên điều mấy bộ luật TTDS để tuyên ?
    YÊU CẦU : Về khởi kiện
    1/ A khởi kiện X là kiện DÂN SỰ : " đòi nợ" X
    Luật sư của X cũng nói như ý kiến này của duonghien " Công ty A trước tiên phải kiện chính công ty B, công ty B tồn tại hay không phải căn cứ trên hợp đồng đã ký theo tên và con dấu của công ty B."
    - A không yêu cầu X xuất trình uỷ quyền là lỗi của A . X là người ký thay B như thế chỉ có nghĩa vụ liên quan trong phiên xử chứ không phải bị đơn .
    - Dựa trên tất cả những chứng từ A nộp cho toà cho thấy X
    -  cũng như ý kiến duonghien đưa ra : TA kết luận cá nhân X phải trả khoản nợ cho công ty A với tư cách cá nhân là chưa thuyết phục, trừ khi có giấy tờ khác. Vì “bảng đối chiếu công nợ” mà X ký không có nghĩa là X thừa nhận và đồng ý làm người đảm bảo cá nhân trong việc thanh toán hợp đồng này cho A.
    - Lật lại vấn đề : nếu X ( thân chủ ) có nợ như A nói và TA không công nhận X ký đối chiếu công nợ là do A dùng vũ lực dùng sự quen biết với CA để ép X ký thì " khoản nợ " xuất phát từ hợp đồng mua bán ngoại thương hay HĐ khung nào ? đề nghị nguyên đơn đưa chứng cứ cho TA
    Chủ tọa tuyên rằng : xuất phát từ hợp đồng thoả thuận mua bán hàng xuất khẩu X ký thay B và gửi sang nước ngoài đóng dấu
    - Luật sư nói rằng : Theo những bút lục A nộp cho toà chúng tôi không thấy khoản nợ A đòi X xuất phát từ hợp đồng nào hết . Hợp đồng X ký thay B theo kế toán của A và A đã nộp cho toà, theo những tờ khai hải quan cũng không thấy số tiền A đòi X trả thay B nằm ở đâu ? như thế X không có nợ A và B thực chất cũng không nợ B
    + Chủ toạ nói : TA tuyên nợ là nợ không cần biết hợp đồng khung nào hết .  Nợ đó X phải trả cho A vì X ký vào bảng đối chiếu nợ cho A , ngoài số nợ đó X phải trả cả lãi phát sinh do nợ trong 10 năm là 7%năm TA dựa theo quyết định  309 của ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 10/9/1998 do Thống Đốc ký  về mức lãi xuất cho vay và lãi xuất nợ quá hạn ) TA quyết định....X nợ A và X phải trả số nợ ghi trên bảng đối chiếu cùng mức lãi
    ( theo tôi biết khi đi tìm hiểu thư viện pháp luật ở trang websiter này thì nghị quyết 309 của ngân hàng là dành cho các tổ chức ngân tín dụng cho vay chứ không phải dành cho trường hợp những khoản nợ có thật giữa các tổ chức kinh tế với nhau .
    Thậm chí nếu các tổ chức kinh tế vay nợ nhau mà không xác định ngày trả và nếu quá hạn sẽ chịu phạt thì cũng không thể áp dụng nghị quyết này .

    Là những luật sư cũng như thẩm phán tham gia diễn đàn này tôi xin hỏi như thế  khởi kiện của A đã đúng chưa và TA có tuyên đúng hay không ?
    Trân trọng .
     
    Báo quản trị |  
  • #13824   17/07/2008

    thuanphat
    thuanphat

    Sơ sinh

    Khánh Hoà, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thủ tục để Doanh nghiệp được thi hành án?

    Công ty chúng tôi có khởi kiện một vụ án dân sự về việc chiếm đoạt vốn. Toà án dân sự đã xét xử và đã có bản án thi hành án dân sự đã có quyết định thi hành án nhưng bị can không chấp hành. Tôi đã có nhiều đơn đề nghị thi hành án dân sự cho cưỡng chế thi hành án nhưng cơ quan thi hành án không trả lời cho tôi biết khi nào thực hiện. Trong trường hợp thi hành án không giải quyết tôi phải làm thế nào để thu lại được vốn bị chiếm đoạt?

    Trân trọng.

    Le Van Sy

     
    Báo quản trị |  
  • #13825   15/05/2008

    lethigam_ms
    lethigam_ms
    Top 150
    Lớp 1

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:03/04/2008
    Tổng số bài viết (423)
    Số điểm: 2783
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 82 lần


    Về thời hạn và thủ tục thi hành bản án dân sự đã có hiệu lực!

    Theo Pháp lệnh Thi hành án Dân sự ngày 14/01/2004 của UBTVQH thì có các trường hợp cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án gồm: ra quyết định thi hành án khi nhận được bản án có hiệu lực pháp luật, chủ động ra quyết định thi hành án và trường hợp nữa là ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự (các bên trong vụ án dân sự). Trường hợp của bạn thuộc trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu.
    Như vậy, theo Điều 23 của Pháp lệnh này, thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn là năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án.
    Trong thời hạn ba (03) năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

    Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, nếu có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

    Thời hạn khiếu nại là chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên.

    Nếu bạn thấy việc Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án nơi bạn gửi yêu cầu thi hành án không ra Quyết định thi hành án hoặc không thông báo về việc không ra quyết định thi hành án thì bạn gửi đơn khiếu nại đến Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án cấp trên ( Có thể là Cơ quan Thi hành án cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp).

    Đối với khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp huyện thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi có khiếu nại giải quyết và trả lời cho người khiếu nại trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

    Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, nếu không đồng ý với nội dung giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp phải giải quyết khiếu nại trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp không quá bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành (Khoản 3 điều 60 Pháp lệnh thi hành án dân sự).

    Chúc bạn sớm lấy lại được tài sản cho Doanh nghiệp mình!

     
    Báo quản trị |  
  • #13826   05/06/2008

    XuanHan
    XuanHan
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/04/2008
    Tổng số bài viết (200)
    Số điểm: 3672
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Ko có điều kiện thi hành án !

    Trong trường hợp đó, nếu bên phải thi hành án không có tài sản, hoặc thu nhập quá thấp không thể trừ dần vào thu nhập hàng tháng thì việc thi hành án sẽ bị hoãn (thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định bằng văn bản). Và bạn phải "ngồi..... chờ".
    Trường hợp nếu có điều kiện để thi hành án mà cố tình không thi hành thì tùy theo tính chất mức độ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
     
    Báo quản trị |  
  • #13827   10/09/2008

    thuyht3
    thuyht3

    Sơ sinh

    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:08/09/2008
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đơn yêu cầu thi hành án nộp ở đâu?

    bản án sơ thẩm cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp luật. Bị đơn cư trú ở huyện B vậy tôi làm đơn yêu cầu thi hành án gửi đến đội THA ở huyện B, hay phòng THA
     
    Báo quản trị |  
  • #24082   03/08/2008

    huyduycont
    huyduycont

    Sơ sinh

    Khánh Hoà, Việt Nam
    Tham gia:17/07/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đòi vốn cho vay

    Khi công ty cho cá nhân vay 1 khoảng tiền là 50 triệu đồng Việt nam, nay khách hàng không muốn trả, Công ty phải làm sao đòi nợ lại cho đúng luật?

     
    Báo quản trị |  
  • #24083   18/07/2008

    LS_NguyenThiMinhHieu
    LS_NguyenThiMinhHieu
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2008
    Tổng số bài viết (133)
    Số điểm: 679
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 13 lần


    trả lời như sau: công ty cho cá nhân vay  50 triệu đồng   cá nhân không muốn trả,  bước 1/, công ty phải làm thông báo nhắc trả nợ  trong thời hạn bao nhiêu ngày do cty  quyết định  đối với cá nhân đó.
     bước 2/  nếu quá thời han nhắc nợ mà cá nhân đó vẫn không trả  tiền thì làm đơn khởi kiên đến tòa án  quận / huyện   nơi thường trú của người nợ tiền.
        kèm theo đơn khởi kiện  gồm giấy nhận nợ của cá nhân mượn tiền  hoặc  chứng cứ chứng minh,
         nếu người mượn tiền thừa nhận có nợ tiền của cty  50 triệu  thì không cần chứng minh.
       nhưng khi có quyết định của tòa  buộc người đó phải trả nhưng người đó có khả năng  trả nợ hay không  là tùy thuộc vào điều kiện  của người đó nữa.
     
    Báo quản trị |  
  • #30430   24/10/2008

    Nhatnam
    Nhatnam

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/10/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Cty của tôi ký HD với cty B, gần hết năm nhưng cty B chưa trả hết tiền trên HD, vậy cty của tôi có thể kiện được ko?

    HD cty của tôi ký với cty B đã gần 1 năm, nhưng cty B chưa trả hết số tiền trên HD, vậy cty có thể khởi kiện cty B ko? Thủ tục khởi kiện chuẩn bị như thế nào, chi phí khởi kiện?
     
    Báo quản trị |  
  • #30431   24/10/2008

    ls_lexuanhiep
    ls_lexuanhiep
    Top 150
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/08/2008
    Tổng số bài viết (406)
    Số điểm: 2047
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 72 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    Bạn không nói rõ nội dung điều khoản thanh toán trong hợp đồng nên tôi chỉ có thể có ý kiến như sau:

    Theo nội dung bạn đề cập thì Công ty bạn vẫn còn thời hiệu khởi kiện và có quyền khởi kiện nếu cho rằng quyền lợi theo hợp đồng của mình bị xâm phạm. Công ty bạn phải làm đơn khởi kiện, kèm theo các chứng từ chứng ming như hợp đồng ký kết giữa 2 bên, các chứng từ khác (nếu có).

    * Đối với Đơn khởi kiện: khi làm Đơn khởi kiện, phải xác định đúng thẩm quyền của tòa án theo các quy định tại Điều 29, 33, 34, 35 và 36 BLTTDS. Đồng thời, nội dung Đơn khởi kiện nên thể hiện đúng về hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 164 BLTTDS.

    * Chi phí tòa án: theo quy định hiện hành, nếu Công ty bạn khởi kiện Công ty B, thì Công ty bạn phải đóng tạm ứng án phí là 50% án phí. Nếu tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty bạn, thì Công ty B sẽ phải chịu toàn bộ án phí. Ngoài ra, có thể còn các chi phí khác như chi phí giám định… Án phí được tính theo Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí tòa án như sau:

    Giá trị tài sản có tranh chấp

    Mức án phí

    a. Từ 1.000.000 đồng trở xuống

    50.000 đồng

    b. Từ trên 1.000.000 đến 100.000.000 đồng

    5% của giá trị tài sản có tranh chấp

    c. Từ trên 100.000.000 đến 200.000.000 đồng

    5.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 100.000.000 đồng

    d. Từ trên 200.000.000 đến 500.000.000 đồng

    9.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 200.000.000 đồng

    đ. Từ trên 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng

    18.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 500.000.000 đồng

    e. Từ trên 1.000.000.000 đồng

    28.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 1.000.000.000 đồng

    Nếu cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên lạc với chúng tôi.

    Trân trọng.

    LS Lê Xuân Hiệp - 0908329694

     
    Báo quản trị |  
  • #30467   31/10/2008

    kimanh76
    kimanh76

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/10/2008
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    thủ tục và trình tự kiện khách hàng không thanh toán

    Công ty chúng tôi đã hoàn thành mọi nghĩa vụ với cơ quan thuế nhà nước cho khoản doanh thu đã xuất hoá đơn bán hàng của mình nhưng chưa thu được tiền từ khách hàng (khoản thu này thu bằng hình thức chuyển khoản qua ngân hàng), khách hàng đã dùng những hóa đơn này làm chi phí đầu vào và đã dùng để khấu trừ với cơ quan thuế rồi mà không thanh toán cho chúng tôi. Nay chúng tôi tiến hàng khởi kiện khách hàng này, xin được trợ giúp hướng dẫn về thủ tục và trình tự, Xin chân thành cám ơn.

     
    Báo quản trị |  
  • #30468   31/10/2008

    dinhhainhat
    dinhhainhat
    Top 200
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:05/08/2008
    Tổng số bài viết (276)
    Số điểm: 2243
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 17 lần
    Lawyer

    thủ tục và trình tự kiện khách hàng không thanh toán

    Bạn nghiên cứu tại Luật tố tụng dân sự nha. Ở đó sẽ hướng dẫn bạn trình tự thủ tục, thẩm quyền cơ quan giải quyết.
     
    Báo quản trị |  
  • #25300   30/11/2008

    Troublemaker
    Troublemaker

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2008
    Tổng số bài viết (19)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Vay trên cơ sở thoả thuận nhưng mức lãi suất cao hơn quy định của luật có khởi kiện được không?

    Theo quy định
    tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 thì: "
     
    Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng." Tuy nhiên, theo Quyết định
     
     
    số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, thì mức lãi suất mà các tổ chức tín dụng khi cho khách hàng vay lại không bị giới hạn bởi quy định nói trên của Bộ luật dân sự.Quyết định
     
    số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 mới hết hiệu lực vào ngày 19/5/2008 theo Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.
     
     
    Tháng 11 năm 2006, công ty của tôi vay tiền của một ngân hàng thương mại với lãi suất 14,5%/năm, trong khi lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm này là 8,25%/năm theo Quyết định số 1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006.
    Vậy công ty của tôi có thể khởi kiện ngân hàng cho vay để đòi lại khoản lãi suất vượt quá mức lãi suất 150% theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự không? (14,5%/năm - 12,375%/năm = 2,125%/năm)
    Mặc dù việc vay là trên cơ sở có thoả thuận nhưng với mức lãi suất cao hơn quy định của Bộ luật dân sự thì thoả thuận đó có thể vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật.
     
    Báo quản trị |  
  • #25301   26/11/2008

    ONENIGHTSTAND
    ONENIGHTSTAND

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/11/2008
    Tổng số bài viết (33)
    Số điểm: 90
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Công ty bạn có thể khởi kiện được

    Bạn đã trình bày rõ ràng các căn cứ để khởi kiện. Trường hợp này Ngân hàng đã cho vay với mức lãi suất cao hơn nhiều mức lãi suất do bộ luật dân sự quy định. Quyết định số 16 ngày 16/5/2008 của Ngân hàng đã viện dẫn quy định tại khoản 1 điều 476 Bộ luật dân sự để yêu cầu các ngân hàng thương mại khi cho vay phải tuân thủ mức lãi suất do Bộ luật dân sự quy định.
     
    Báo quản trị |  
  • #30469   30/10/2008

    khanhhung
    khanhhung

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:25/10/2008
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 15
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Khi muốn khởi kiện khách hàng bạn cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm:
    - Đơn khởi kiện vụ án dân sự (theo mẫu);
    - Các giấy từ chứng minh tư cách nguyên đơn, người đại diện cho nguyên đơn tham gia tố tụng;
    - Các giấy tờ tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Công ty bạn đối với khách hàng. Trong trường hợp này có thể là: Hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ; biên bản bàn giao, biên bản nghiệm thu hàng hoá, sản phẩm, các hoá đơn chứng từ thanh toán liên quan....Có một vấn bạn cần lưu ý đó là thời hạn thanh toán trong hợp đồng ntn? có thoả thuận khất nợ không ? có các giấy tờ hay chứng cứ nào khác chứng minh việc khách hàng của công ty bạn vi phạm nghĩa vụ thanh toán ko?
    (Do bạn không cung cấp đủ các thông tin cơ bản nên ko thể hướng dẫn bạn nộp đơn khởi kiện đến toà án nào là phù hợp với điều kiện của Cty ban và đúng với quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Toà án ).
    Trân trọng kính chào!
     
    Báo quản trị |  
  • #30470   31/10/2008

    LS_NguyenThiMinhHieu
    LS_NguyenThiMinhHieu
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2008
    Tổng số bài viết (133)
    Số điểm: 679
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 13 lần


    Theo tôi, bước 1, Công ty hãy  thương lượng hòa giải với khách hàng về việc giải quyết số tiền khách hàng còn thiếu.
    Bước 2, nếu thương lượng hòa giải không thành công ty phải làm đơn khởi kiện đến tòa án để được giải quyết số tiền khách hàng còn nợ nêu trên.
     
    Báo quản trị |  
  • #30651   07/12/2008

    longpro111
    longpro111

    Sơ sinh

    Thừa Thiên Huế, Việt Nam
    Tham gia:05/12/2008
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    doanh nghiệp đòi tiền bán sách bằng cách khởi kiện như thế nào?

    công ty của chúng tôi có bán một số sách trị giá là ba trăm triệu đồng,có làm hợp đồng kinh tế.nay dã đến hạn trả nơ nhưng mỗi lần công ty của chúng tôi cử người sang đòi tiền thì bên kia cứ hứa.va nhiều lần như vậy rồi.nay tôi muốn khởi kiện ra toà thi gưỉư toà nào?nếu thắng kiện mà bên kia vẫn không chịu trả thì làm cách nào?người đứng ra đại diện ký kết cho bên kia thì nay dã bi bên kia sa thải rồi
     
    Báo quản trị |  
  • #30652   06/12/2008

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 200
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Khởi kiện

    Nếu trong hợp đồng không quy định cơ quan giải quyết tranh chấp
    thì bạn làm khởi kiện ra tòa án nơi Công Ty bị kiện có trụ sở chính. Nếu bạn thắng kiện mà bên kia không chịu trả bạn sẽ phải yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành.
    Người đại diện đứng ra ký kết cho bên kia đã bị sa thải không ảnh hưởng gì tới trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng nếu tại thời điểm ký kết hợp đồng người đại diện đó là đại diện hợp pháp, hoặc được ủy quyền hợp lệ.
     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-