Tranh chấp đất khi đã sang tên sổ đỏ!

Chủ đề   RSS   
  • #314598 19/03/2014

    comay300

    Sơ sinh

    Quảng Nam, Việt Nam
    Tham gia:19/03/2014
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Tranh chấp đất khi đã sang tên sổ đỏ!

    Ông bà ngoại tôi có 5 người con, tất cả đều là gái và đã có chồng, riêng dì út sống ở đó cùng với ngoại. Năm 2000, ngoại tôi qua đời có để lại một ngôi nhà nhỏ và mảnh vườn có tổng diện tích là 665m2.  Ngoại qua đời nhưng không để lại di chúc cho người con nào, vì vậy mẹ tôi và các dì thống nhất sẽ để lại ngôi nhà và mảnh đất 440m2 cho dì út để làm nơi ở và cũng là nơi thờ tự ông bà, 225m­2 còn lại sẽ cho người cháu nội tôn cất nhà (người cháu này gọi ông ngoại tôi là ông nội Bác), mục đích của mẹ và các dì là muốn giữ lại một chút gốc rễ đất đai của ông bà vì sợ sau này dì út bán nhà chuyển đi nơi khác sống.

    Năm 2011, gia đình có cuộc họp để thống nhất cho người cháu 225m2 đất, được ký xác nhận qua một biên bản cuộc họp với sự đồng ý của mẹ tôi và 4 dì cùng với người cháu được nhận và có sự chứng kiến của trưởng thôn nhưng chưa qua công chứng của xã phường. (Hiện tại mẹ tôi đang giữ biên bản cuộc họp đó)

    Năm 2013, mẹ tôi và các dì đến cơ quan công chứng ký chuyển nhượng QSDĐ từ bà ngoại sang cho dì út, mẹ tôi và các dì vẫn biết rằng việc tách số đất cho người cháu  kia rồi mới sang tên cho dì nhưng vì tin tưởng dì út nên đã đồng ý ký chuyển nhượng, dì cũng có hứa sẽ cắt đất cho người cháu kia. Nhưng đến nay, đã gần 1 năm trôi qua dì đã không thực hiện lời hứa mà muốn chiếm luôn mảnh đất đã hứa cho người cháu. Vậy, giờ mẹ tôi và các dì có làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp để dành lại phần đất đó cho người cháu được không? Gửi đến cơ quan nào và thủ tục ra sao? Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được sự phản hồi của các Luật sư.

     

     
    6561 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #315098   23/03/2014

    vietnguyenlaw
    vietnguyenlaw
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/09/2010
    Tổng số bài viết (224)
    Số điểm: 1572
    Cảm ơn: 35
    Được cảm ơn 68 lần


    Chào bạn,

    Sự việc cũng vừa xảy ra, gia đình bạn có thể thương lượng lại với Dì, để giữ hòa khí, kéo nhau đi kiện tụng thì quá lắm mới làm, bạn có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện, thủ tục được cơ quan hướng dẫn trực tiếp, 

    Thân,

     

    Nguyễn Văn Ninh

    Tel: 0932017127 | Mail: ninhnguyenlaw@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #315378   25/03/2014

    comay300
    comay300

    Sơ sinh

    Quảng Nam, Việt Nam
    Tham gia:19/03/2014
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Cảm ơn những lời tư vấn và chia sẻ từ bạn vietnguyenlaw, chuyện thương lượng lại với dì đã rất nhiều lần, 4 chị gái đã cùng về gặp dì út để nói chuyện phải trái, ngọt nhẹ nhưng dì vẫn cương quyết ko cắt, dì nói dì ở đó thì dì thờ ông bà ngoại chứ ko có đi đâu, nếu có thì ở đâu thờ ở đó. Nhưng vấn đề là mẹ tôi và 3 dì còn lại muốn giữ lại chút ít đất đó thờ tự ông bà để sau này con cháu vẫn về nơi gốc rễ, không lẽ dì út đi nơi khác sống thì 4 bà chị phải chạy theo sao? Mẹ tôi hiện đã gửi đơn đến chính quyền xã để xem thế nào? nếu họ ko giải quyết hoặc hướng dẫn đến tòa án huyện thì lúc đó sẽ tính tiếp. Một lần nữa cảm ơn bạn!

    Cập nhật bởi comay300 ngày 25/03/2014 10:35:00 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #315383   25/03/2014

    vietnguyenlaw
    vietnguyenlaw
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/09/2010
    Tổng số bài viết (224)
    Số điểm: 1572
    Cảm ơn: 35
    Được cảm ơn 68 lần


    Chào bạn,

    Căn cứ vào khoản 1 điều 136 LĐĐ và khoản 1, 2 và 5 Điều 50  thì cơ quan có thẩm quyền là tòa án nhân dân cấp huyện.

    1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.

    Người nhà bạn có thể đến đó để được hướng dẫn thủ tục, rất đơn giản, tránh việc nghe lời người này người kia mà tốn thêm chi phí.

    Thân.

    Nguyễn Văn Ninh

    Tel: 0932017127 | Mail: ninhnguyenlaw@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn vietnguyenlaw vì bài viết hữu ích
    comay300 (25/03/2014)
  • #315384   25/03/2014
    Được đánh dấu trả lời

    dongthoigiantoidihoc
    dongthoigiantoidihoc

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/06/2012
    Tổng số bài viết (34)
    Số điểm: 175
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 21 lần


    Việc bà ngoại bạn mất, phát sinh việc hưởng thừa kế. Vì các bác và mẹ bạn đã để lại toàn bộ diện tích đất cho Dì út thì được coi là đã tặng cho dì út toàn bộ phần đất được hưởng thừa kế

    Theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc tặng cho quyền sử dụng đất chỉ phát sinh hiệu lực khi bên được tặng cho thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cụ thể tại khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai quy định:“Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. 

    Điều 467. Tặng cho bất động sản

    1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

    2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

    Nhưng vì hợp đồng của bạn đã được công chứng, nên cũng hơi khó khăn:

    1. Khoản 1 Điều 467 Bộ luật Dân sự đã quy định việc tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản và có công chứng. Do vậy, trình tự giao kết hợp đồng cũng như việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng được thực hiện theo hướng dẫn của Luật Công chứng.

    Điều 44 Luật Công chứng quy định: Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được công chứng. Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.

    Quy định trên áp dụng với trường hợp cả hai bên trong hợp đồng tặng cho cùng thỏa thuận thống nhất hủy bỏ hợp đồng. Trường hợp của bạn thì không đáp ứng được điều kiện này vì bên nhận tặng cho không đồng ý hủy hợp đồng.

    2. Pháp luật Việt Nam không có quy định nào về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng tặng cho. Do vậy, các bên cũng không thể tiến hành việc đơn phương chấm dứt hợp đồng được.

    Giải pháp:

    1. có thể vận dụng quy định sau đây để hủy việc tặng cho: đó là quy định của Bộ luật Dân sự về tặng cho có điều kiện.

    Ðiều 470 Bộ luật Dân sự quy định: Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Ðiều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    Như vậy, bên cạnh việc hủy bỏ hợp đồng theo thỏa thuận của hai bên và theo trình tự, thủ tục đã nêu tại phần trên thì trường hợp này, bên tặng cho có thêm quyền đòi lại tài sản nếu: khi tặng cho tài sản bên cho có yêu cầu bên nhận phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự mà sau đó bên nhận không thực hiện được thì bên cho có quyền đòi lại tài sản đã tặng cho (hủy bỏ hợp đồng) mà không cần có sự đồng ý của bên nhận. (quy định này chỉ được áp dụng khi hợp đồng tặng cho của gia đình và dí út là hợp đồng tặng cho có điều kiện).

    2. Về việc gia đình yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng tặng cho.

    Điều 6 Luật Công chứng quy định về Giá trị pháp lý của văn bản công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thoả thuận khác. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu.

    Như vậy, Gia đình có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu nhưng gia đình phải đưa ra được các căn cứ để  Tòa tuyên vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự:

    Bạn tham khảo nhé !

    Chúc bạn thành công !

    Cập nhật bởi dongthoigiantoidihoc ngày 25/03/2014 11:02:43 SA
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn dongthoigiantoidihoc vì bài viết hữu ích
    comay300 (25/03/2014)