Tranh chấp đất đai

Chủ đề   RSS   
  • #353590 31/10/2014

    honglienbui.84

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:31/10/2014
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Tranh chấp đất đai

    Kính chào Quý Luật sư!

    Tôi có vấn đề tranh chấp về đất ở, kính nhờ Quý Luật sư tư vấn giúp tôi.

    Đất của nhà tôi hiện đang ở vùng quê là do ba Mẹ tự khai hoang từ xưa ( trước 1980). Thời gian sau này mới được cấp sổ đỏ, nhưng diện tích đất ở trong sổ lại ít hơn thực tế, và Ba Mẹ tôi cũng không hề biết thực tế đất ở là bao nhiêu nên cứ để vậy. Và mãi đến thời gian gần đây khi có yêu cầu đổi lại sổ đỏ mới gia đình tôi mới phát hiện điều vô lý như sau: sơ đồ của thửa đất nhà tôi bị chia làm hai thửa và 1 thửa đứng tên của ông hàng xóm, nhưng thực tế là Vợ chồng ông bà ấy đã qua đời từ lâu, theo thông tin gia đình tôi được biết là con trai của ông bà tự đăng ký làm điều này. Ông ấy trắng trợn giành đất của nhà tôi, và điều gia đình tôi ngạc nhiên là vì sao ông ta có được sổ đỏ ấy? Gia đình tôi làm đơn xin khiếu nại lên Huyện thì được Huyện chuyển xuống xã giải quyết bằng cách thỏa thuận ôn hòa, nhưng cả 2 bên điều không đồng ý. tới giờ hồ sơ nhà tôi vẫn chưa có kết quả cụ thể, vì nghỉ đất mình xưa giờ thì mình cứ ở, có ai giành cũng không sợ. Điều tôi muốn nhờ Quý Luật Sư tư vấn giúp tôi là: cái sổ đỏ của con trai ông hàng xóm kia mới làm sau này có giá trị pháp lý gì hay không? và tôi cần cơ quan chức năng giải quyết triệt để và giành lại quyền sở hữu đất cho gia đình tôi đúng như thức tế, thì tôi cần phải làm những gì để khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền. Có thể con trai ông hàng xóm cậy quyền quên biết nên làm cái sổ đỏ đó, thì gia đình tôi có bị mất đất hay không? Rất mong Quý Luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Bùi Thị Hồng Liên: 0939 414 038 - email: honglienbui.84@gmail.com.

     
    4162 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #446818   18/02/2017

    Chào bạn, với những thông tin ban cung cấp, tôi xin có một vài ý kiến tư vấn như sau:

    Theo trường hợp của bạn là đất gia đình bạn ở hiện nay có sổ đỏ, nhưng diện tích đất ở trong sổ đỏ lại ít hơn thực tế. Hơn nữa sơ đồ của thửa đất nhà bị chia làm hai thửa và 1 thửa đứng tên của ông hàng xóm.

    Vì thông tin bạn đưa ra không nói rõ về diện tích đất ít hơn thực tế là bao nhiêu??? Cái phần ít hơn trên thực tế ý có trùng với phần đất đứng tên ông hàng xóm không?

    Nên tôi xin tư vấn cho bạn theo hai trường hợp sau:

    Trong trường hợp phần diện tích đất trong sổ đỏ ít hơn trên thực tế nhưng không trùng hoặc trùng 1 phần với phần đất đứng tên ông hàng xóm thì tôi xin có góp ý sau:

    Theo quy định tại điều 100 luật đất đai 2013 quy định về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

    “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

    a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

    d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

    e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

    g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

    2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

    3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

    4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

    5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

    Trong trường hợp mảnh đất đó đang do gia đình bạn đứng tên hợp pháp thì ông hàng xóm không thể có những giấy tờ trên để xác lập quyền sở hữu với mảnh đất của gia đình bạn được.

    Căn cứ theo quy định tại khoản 2 điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất:

    “2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

    a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.”

    Như vậy, ủy ban nhân dân xã đã xác nhận hiện trạng sử dụng đất, nguồn gốc đất không đúng. Vì mảnh đất trên đã đứng tên người khác trong sổ đỏ từ trước một cách hợp pháp. Gia đình bạn phải đưa ra được giấy tờ chứng minh mảnh đất ấy là của gia đình bạn. Điều đó chứng minh việc cấp sổ đỏ cho ông hàng xóm là không đúng pháp luật.

                Theo điểm d khoản 2 điều 106 luật đất đai 2013 quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau: “nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp: ……

    d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”

    Như vậy bạn có quyền khiếu nại đến cơ quan đã thực hiện việc cấp sổ đỏ sai quy định. Đưa ra giấy tờ chứng minh về mảnh đất hiện do ông hàng xóm đúng tên trong sổ đỏ là của gia đình bạn, để cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho ông hàng xóm. Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà sự việc không được giải quyết hoặc bạn không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại thì bạn có quyền khởi kiện vụ án hành chính. Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có mảnh đất đang tranh chấp.

     

                Trong trường hợp phần diện tích bị thiếu trong sổ đỏ của gia đình bạn trùng với phần diện tích mà ông hàng xóm đứng tên thì tôi xin góp ý như sau:

    -         Nếu bạn đưa ra được chứng cứ chứng minh về việc sổ đỏ của gia đình bạn được cấp bị thiếu đất thì gia đình bạn có thể làm thủ tục đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp theo điều 106 luật đất đai 2013 và được cấp lại sổ đỏ đúng với diện tích đất thực tế của gia đình bạn trước kia.

    -         Nếu không đưa ra được chứng cứ chứng minh về việc sổ đỏ của gia đình bạn đươc cấp bị thiếu đất thì gia đình bạn khó có thể đòi lại được mảnh đất trong trường hợp này. Tuy nhiên bạn vẫn có thể hòa giải với ông hàng xóm

    -          Nếu không thỏa thuận được thì gia đình bạn có thể làm đơn khiếu nại tại Uỷ ban nhân dân theo quy định tại điều 202 Luật đất đai 2013

    -         Nếu không hòa giải được thì bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc làm đơn khiếu nại đến Uỷ ban nhân dân huyện.

    Chuyên viên tư vấn: Lê Phụng Anh 

    BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI - DỰ ÁN BĐS | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM

    M: (+84-4) 32.123.124; (+84-4) 32.899.888 - E: cle.vietkimlaw@gmail.com; luatvietkim@gmail.com - W: www.vietkimlaw.com

    Ad: Trụ sở chính - Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN | VPGD - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |