DanLuat 2015

Tranh chấp đất công ích

Chủ đề   RSS   
  • #448232 27/02/2017

    Truong_Van_Truong

    Male
    Sơ sinh

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:13/10/2016
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 150
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 0 lần


    Tranh chấp đất công ích

    Chào Luật sư. Có trường hợp như sau: Xã A có khoảng 3ha đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích (có ghi vào sổ mục kê và những người lớn tuổi cũng thừa nhận) bỏ hoang do không có nước canh tác nên không đưa ra đấu giá cho thuê, đến năm 1999 nhà nước đầu tư hệ thống kênh tưới. Do quản lý lỏng lẽo nên ông B đã vào khai phá và sản xuất từ năm 2000 đến 2013. Nay UBND xã A yêu cầu ông B trả lại đất, ông B đồng ý trả nhưng nhà nước phải trả công khai phá Thưa Luật sư. Trường hợp này nhà nước phải xử lý như thế nào thì đúng quy định. Xin cám ơn Luật sư.
     
    4361 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #448282   28/02/2017

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1250)
    Số điểm: 7002
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 342 lần
    Lawyer

    Ông B đang sử dụng mảnh đất thuộc quỹ đất công ích của xã nếu không có sự cho phép, thì hành vi đó có thể coi là hành vi chiếm đất. Theo quy định chung thì bạn đã thực hiện hoạt động đó trên cơ sở phần đất lấn, chiếm, mà đó là một hành vi trái pháp luật đất đai ( điều 12, khoản 1,Luật đất đai 2013 có quy định hành vi lấn, chiếm đất là hành vi bị cấm)còn có thể bị phạt hành chính . Hành vi đó bị cấm và trái pháp luật đất đai cho nên Luật đất đai có quy định tại khoản 2 điều 202 Luật đất đai là: “ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn, chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm”.

    Như vậy, hành vi lấn, chiếm đất là sai, vi phạm pháp luật về đất đai cho nên người lấn chiếm buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất như trước khi vi phạm, người vi phạm sẽ không được bồi thường phần đã tạo lập trên phần đất lấn chiếm trái phép.

    Căn cứ theo Điều 64 Luật đất đai quy định về thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai như sau:

    1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:
    a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

    b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

    c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

    d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

    đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

    e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

    g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

    h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;
    i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

    2. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

    3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    Khi có hành vi về chiếm đất đai thuộc quỹ đất quản lý của xã, thì Nhà nước sẽ có kế hoạch thu hồi mảnh đất đó vì đất bị sử dụng trái pháp luật và đó là căn cứ để Nhà nước ra quyết định thu hồi.

    Tại Khoản 3, Điều 82 và Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai thì không được hỗ trợ, bồi thường. Theo đó, trường hợp của ông B không thuộc đối tượng được đủ điều kiện được bồi thường về đất. Tuy nhiên trường hợp của ông B cũng có thể được xem xét hỗ trợ theo quy định tại Điều 83, 84 Luật Đất đai 2013.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi  để được tư vấn cụ thể hơn.

    Cập nhật bởi toanvv ngày 28/02/2017 11:11:09 SA

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

    Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    Truong_Van_Truong (01/03/2017)
  • #471297   17/10/2017

    Theo thông tư 1568/BTNMT-ĐKTKDĐ thì sổ mục kê không được xem là 1 loại giấy tờ được qui định trong khoản 1 điều 50 luật đất đai năm 2003 hay khoản 1 điều 100 luật đất đai 2013, nghĩa là không có giá trị như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cho hỏi có đúng ko ạh. Thân hỏi.

     
    Báo quản trị |  
  • #471351   18/10/2017

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1250)
    Số điểm: 7002
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 342 lần
    Lawyer

    Căn cứ theo Công văn Số 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ của Bộ Tài nguyên và môi trường thì Sổ mục kê đất được lập để phục vụ cho Nhà nước nắm đầy đủ ruộng đất và thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai theo quy định của pháp luật đất đai; do đó Sổ mục kê đất phải thể hiện toàn bộ các thửa đất (gồm cả thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dưới đây gọi là giấy chứng nhận) và thửa chưa được cấp giấy chứng nhận), các công trình thủy lợi và sông ngòi, kênh rạch suối trong phạm vi địa giới hành chính từng xã, phường, thị trấn. Những thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận thì thông tin của thửa thể hiện trên Sổ mục kê đất thống nhất với thông tin trên giấy chứng nhận, những thửa đất chưa cấp giấy chứng nhận thì thông tin của thửa thể hiện theo kết quả điều tra, đo đạc hiện trạng đang sử dụng đất mà chưa có giá trị pháp lý về quyền sử dụng đất. Vì vậy, Sổ mục kê đất cũng không được coi là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai.
    Chỉ có Sổ đăng ký ruộng đất (lập theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK) và Sổ địa chính (được lập theo quy định tại Quyết định số 499 QĐ-ĐC và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC) mới được coi là loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai) vì các Sổ này chỉ ghi đối với những người sử dụng đất đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã thẩm tra, xác nhận là sử dụng hợp pháp, đồng thời được ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt công nhận (theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK) hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận (theo quy định tại quyết định số 499/QĐ-ĐC và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC).
     

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

    Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    buiminhtuan77sg@gmail.com (22/10/2017) haibang711 (27/10/2017)

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

0 Thành viên đang online
-