Trà lại đơn có đúng không?

Chủ đề   RSS   
  • #418824 17/03/2016

    Trà lại đơn có đúng không?

    Tôi có một vụ như thế này mong các luật sư, các bạn cùng trao đổi.

    A khởi kiện B đòi lại 200m2 đất, do b chiếm dụng.

    nguồn gốc đất 200m2 là của B, đã được cấp giấy chứng nhận 2005 đứng tên B

    Năm 2007 B vay A 300 triệu, hai bên đến Tòa án giải quyết, Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó B phải trả cho A 300 triệu.

    Quá trình thi hành án, B không tự nguyện trả.

    Năm 2009 Cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế phân diện tích đất của B 200m2 đất bán đấu giá.

    A là người trúng đấu giá, sau đó A được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2010.

    Diện tích A trúng đấu giá thì A vẫn chưa sử dụng 

    năm 2014 B vào chiếm lại 200m2 đất mà A đã trúng đấu giá như làm chuồng heo, trồng cây.

    A yêu cầu B giao trả đất 200m2 nhưng B không giao vì cho rằng việc thi hành án cưỡng chế bán đấu giá 200m2 đất của B, B không biết.

    A khiếu nại đến UBND cấp xã hòa giải cũng không giải quyết được

    A khởi kiện đến Tòa án yêu cầu B trả lại 200m2 đất này.

    Tòa án trả lại đơn kiện cho A với lý do không thuộc thẩm quyền của Tòa giải quyết vì căn cứ theo:

    Theo khoản 4 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ  “Quy định chi tiết và hướng dẫn thì hành một số điều của Luật thi hành án dân sự” quy định:

    Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản.

    Người đã nhận tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản yêu cầu người chiếm lại tài sản trả lại tài sản cho họ. Nếu người chiếm lại tài sản không trả lại thì người đã nhận tài sản có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

    Vậy mong các luật sư cùng trao đổi.

    Quan điểm của cá nhân tôi: Việc B có hành vi tái chiếm quyền sử dụng đất 200m2 đã được UBND cấp huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất cho A. Như vậy B đã xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của A, nên việc A khởi kiện  B yêu cầu trả lại 200m2 đất là đúng thẩm quyền. Việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện là sai.

     

     

     
    4264 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #418856   17/03/2016

    Anlhk33-DLU
    Anlhk33-DLU
    Top 75
    Male
    Lớp 6

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/05/2011
    Tổng số bài viết (834)
    Số điểm: 7856
    Cảm ơn: 215
    Được cảm ơn 334 lần


    Chào bạn

    Việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án là trái với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 và nghị quyết số Nghị quyết 05/2012/NQ – HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bởi vì:

    Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện trong các trường hợp sau:

    – Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là trường hợp không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của BLTTDS

    –  Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là người không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 161 và Điều 162 của BLTTDS, còn người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 57 của BLTTDS.

    –  Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;

    – Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

    –  Chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

    – Không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án đối với đơn khởi kiện cần sửa đổi, bổ sung.

    – Thời hiệu khởi kiện đã hết;

    Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. 

    Việc tòa án căn cứ khoản 4 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ  “Quy định chi tiết và hướng dẫn thì hành một số điều của Luật thi hành án dân sự là một quan hệ khác chứ không phải như việc tòa án viện dẫn.

    Trên đây là một vài trao đổi với bạn.

    Trân trọng!

     

    Hãy theo đuổi đam mê, thành công sẽ đến với bạn.

    Hotline: 0989.422.798. Luật sư - Hãng luật Hai Nguyen & Cộng Sự. Lya BuilDing, phòng 12 A, Chung cư Viện chiến lược Bộ Công An, Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Website: http://lamchuphapluat.vn/

    Tư vấn luật miễn phí: http: http://duongleuocan.blogspot.com/

     
    Báo quản trị |  
  • #418861   17/03/2016

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4081)
    Số điểm: 31488
    Cảm ơn: 938
    Được cảm ơn 1936 lần


    trianhhuyen viết:

    Vậy mong các luật sư cùng trao đổi.

    Quan điểm của cá nhân tôi: Việc B có hành vi tái chiếm quyền sử dụng đất 200m2 đã được UBND cấp huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất cho A. Như vậy B đã xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của A, nên việc A khởi kiện  B yêu cầu trả lại 200m2 đất là đúng thẩm quyền. Việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện là sai.

    Chào bạn.

    Tôi đồng ý với bạn là "B đã xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của A".

    Tuy nhiên, giữa A và B không có giao dich gì nên việc khởi kiện toà án nhờ giải quyết vấn đề gì?

    Tôi đồng ý với quan điểm của toà án là có dấu hiệu của "Tội sử dụng trái phép tài sản" nên việc xử lý hành chính hay hành sự tuỳ theo giá trị tài sản là hợp lý.

     
    Báo quản trị |  
  • #418924   18/03/2016

    caythongnoel
    caythongnoel
    Top 50
    Male
    Luật sư quốc gia

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:29/05/2011
    Tổng số bài viết (1582)
    Số điểm: 15903
    Cảm ơn: 225
    Được cảm ơn 529 lần
    Lawyer

    Chào An, Hungmaiusa,

    Tôi có một vài quan điểm như sau:

    1. Theo quy định tại Nghị định 62/2015/NĐ-CP tôi khẳng định cơ quan Thi hành án đã không thể giải quyết thêm (trừ trường hợp quy trình thi hành án, bán đấu giá sai và bị hủy). 

    2. Đối với đơn khởi kiện của A: xét về quan hệ pháp luật tranh chấp thì A khởi kiện B để trả lại đất thì chưa đúng. Thực tế đất đã thuộc Quyền sử dụng của A rồi. B và A không có bất kỳ giao dịch nào liên quan đến diện tích này cả nên căn cứ xác định tranh chấp là không có. Mấu chốt vấn đề ở đây là B chỉ trồng lúa, xây dựng chuồng trại trên mảnh đất của A mà không được sự đồng ý của A mà thôi.

    3. Theo quy định thì A có thể làm đơn khiếu nại gửi lên cơ quan công an cấp huyện để yêu cầu B chấm dứt việc chiếm hữu, sử dụng trái phép đất của A. Nếu xét thấy B có dấu hiệu hình sự thì sẽ bị khởi tố hoặc sẽ bị xử phạt hành chính kèm theo biện pháp trả hiện trạng đất của A về trạng thái ban đầu.

    4. Thực tế đã có rất nhiều trường hợp tương tự tuy nhiên lại có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của nhiều luật sư thì giữa việc B tái chiếm đất của A là quan hệ dân sự khác so với việc vay mượn tiền của hai bên trước đó nên A có quyền khởi kiện B ra tòa vì một quan hệ tranh chấp mới. Tuy nhiên quan điểm này không được nhiều người ủng hộ cũng như cơ quan tiến hành tố tụng cũng không đồng tình. bởi lẽ: căn cứ theo điểm b, khoản 1, điều 168 BLTTDS thì sự việc đã được giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. dựa vào điểm này mà Tòa án không thể thụ lý đơn được.

    5. Để yêu cầu xử lý hình sự cũng rất khó đưa ra cơ sở: Có thể ông B vị phạm quy định tại điều 137 BLHS  về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, theo quy định trên thì  phải có hành vi chiếm đoạt tài sản của A khi do hoàn cảnh khách quan nào đó khiến A không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình hoặc không có điều kiện để ngăn cản B. Như vậy, việc ông B tái chiếm đất của A là không phù hợp với quy định này. 

    Tóm lại, A có thể khiếu nại sự việc lên cơ quan có thẩm quyền (UBND) hoặc nhờ cơ quan công an yêu cầu B trả lại hiện trạng đất hoặc A có thể tự mình ngăn cản không cho B tiếp tục sử dụng đất của mình.

    Trân trọng!

     

    Cập nhật bởi caythongnoel ngày 18/03/2016 10:41:29 SA

    Luật sư: Nguyễn Văn Xuyên

    Công ty Luật TNHH Hoàng Việt Luật

    Địa chỉ: 459 Hai Bà Trưng, phường 8, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

    SĐT: 0901 20.26.27

    Hợp đồng - Đất đai, Nhà cửa - Hôn nhân, Thừa kế - Hình sự - Lĩnh vực Luật khác

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn caythongnoel vì bài viết hữu ích
    hungmaiusa (18/03/2016)
  • #418959   18/03/2016

    Cảm ơn mọi người đã trao đổi. Minh cũng đã trao đổi với một số luật sư. Có một quan điểm như thế này cũng mong các bạn chia sẻ.

    A xác lập quyền sử dụng đất trên cơ sở việc kê biên, cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự. Sau đó B đã tái chiếm lại sử dụng. Do vây mặc dù B đã xâm phạm đến quyền lợi của A ( xây chồng heo, trồng cây mà không được A đồng ý) nhưng theo khoản 4 Điều 13 NĐ 62 nêu trên thì đây là quy định về áp dụng biện pháp bảo đảm cho việc cưỡng chế và thi hành án

    Quy định nói rõ trường hợp có tái chiếm thì trách nhiệm giải quyết là của UBND cấp xã, nếu UBND cấp xã không thực hiện được thì Cơ quan có thẩm quyền khác sẽ xử lý về hành chính hoặc truy cứ hình sự. Còn tòa án thì không có quyền xử lý hành chính hay truy cứ hình sự trong trường hợp này. Do vậy Tòa án trả lại đơn là đúng.

    Nếu Tòa án thụ lý giải quyết bằng vụ án dân sự thì vấn đề đặt ra:

    Quy định tại khoản 4 Điều 13 NĐ 62 nêu được hiểu như thế nào? áp dụng trong trường hợp nào? Và giả sử Tòa án giải quyết  vụ án dân sự theo đơn đòi tài sản của A, B phải giao đất cho A  và trường hợp B không tự nguyện thì vẫn đề cưỡng thi hành án lại tiếp tục đặt ra với B và nếu sau khi cưỡng chế xong B lại tiếp tục tái chiếm sử dụng  lại đất như vậy thì sẽ xử lý, giải quyết thế nào.

    Do vậy việc Tòa án trả lại đơn cho A là đúng và A có quyền liên hê với UBND cấp xã và cơ quan thẩm quyền khác để xử lý về hành vi tái chiếm, chứ Tòa án không giải quyết nữa như vậy mới giải quyết triệt để vấn đề giữa người phải thi hành án và người được thi hành án.

    Xin cảm ơn?

     

     

     

     
    Báo quản trị |  
  • #418977   18/03/2016

    pcbay
    pcbay

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:14/01/2015
    Tổng số bài viết (21)
    Số điểm: 140
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 11 lần


    Xin chào bạn. Theo dõi tình huống của bạn mình có một số quan điển như sau mong nhận được sự góp ý tích cực của mọi người. 

    Thứ nhất, về quyết định trả lại đơn khởi kiện của Nguyên đơn. Trong trường hợp Nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự thì việc trả lại đơn khởi kiện phải thực hiện theo đúng quy định tại điều 168 Bộ Luật tố tụng dân sự hướng dẫn bởi điều 8 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP. Cụ thể, trong trường hợp này, Tòa trả lại đơn với lý do quy định tại khoản 4 điều 13 NĐ 62: Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản"

    Đây chỉ quy định trách đối với có quan thi hành án dân sự trong trường hợp đương sự có yêu cầu đòi lại tài sản với trường hợp tài sản đã được cơ quan thi hành án giao cho đương sự như trên chứ không phải là căn cứ để trả lại đơn của Tòa

    Mặt khác, nếu sử dụng cơ sở: Người đã nhận tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản yêu cầu người chiếm lại tài sản trả lại tài sản cho họ. Nếu người chiếm lại tài sản không trả lại thì người đã nhận tài sản có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” để trả lại đơn của đương sự thì cũng không chính xác bởi lẽ điều này chỉ quy định thêm quyền của đương sự khi có yêu cầu chứ không hạn chế đi quyền khởi kiện tại Tòa án. Trách nhiệm của UBND trong trường hợp này không làm mất đi quyền khởi kiện của đương sự cũng như nghĩa vụ tố tụng của Tòa án (nếu như đầy đủ các yếu tố để khởi kiện khác). Như vậy, tôi cho rằng Tòa sử dụng căn cứ này để trả lại đơn khởi kiện của bạn là sai => quyết định trả lại đơn khởi kiện của tòa án trong trường hợp này là sai.

    Thứ hai về quan điểm: "Nếu Tòa án thụ lý giải quyết bằng vụ án dân sự thì vấn đề đặt ra:

    Quy định tại khoản 4 Điều 13 NĐ 62 nêu được hiểu như thế nào? áp dụng trong trường hợp nào? Và giả sử Tòa án giải quyết  vụ án dân sự theo đơn đòi tài sản của A, B phải giao đất cho A  và trường hợp B không tự nguyện thì vẫn đề cưỡng thi hành án lại tiếp tục đặt ra với B và nếu sau khi cưỡng chế xong B lại tiếp tục tái chiếm sử dụng  lại đất như vậy thì sẽ xử lý, giải quyết thế nào.

    Do vậy việc Tòa án trả lại đơn cho A là đúng và A có quyền liên hê với UBND cấp xã và cơ quan thẩm quyền khác để xử lý về hành vi tái chiếm, chứ Tòa án không giải quyết nữa như vậy mới giải quyết triệt để vấn đề giữa người phải thi hành án và người được thi hành án." nêu trên tôi cho rằng là không thuyết phục. Bởi Tòa không được phép trả lại đơn của đương sự vì những tình huống giả định, chưa xảy ra như bạn nêu. 

    Cập nhật bởi pcbay ngày 18/03/2016 03:58:33 CH

    Công ty Luật TNHH Labor Law

    Địa chỉ: Tầng 7, số 8 Láng Hạ, Thành Công, Ba Đình, Hà Nội - SĐT: 0943474844 - Email: phamnam.lw@gmail.com

    - Tham gia tố tụng.

    - Đại diện ngoài tố tụng.

    - Tư vấn pháp lý:

    + Tư vấn, hỗ trợ pháp lý trong thương lượng, soạn thảo, ký kết HĐLĐ, thỏa ước LĐ tập thể, nội quy LĐ, quy chế quản lý LĐ.

    + Tư vấn đào tạo kỹ năng quản trị nhân sự.

    + Tư vấn, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong tranh chấp LĐ.

    - Cung cấp dịch vụ pháp lý khác.

     
    Báo quản trị |  
  • #419049   19/03/2016

    Anlhk33-DLU
    Anlhk33-DLU
    Top 75
    Male
    Lớp 6

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/05/2011
    Tổng số bài viết (834)
    Số điểm: 7856
    Cảm ơn: 215
    Được cảm ơn 334 lần


    Chào các bạn

    Mình nghĩ mỗi người một quan điểm khác nhau. Để khẳng định ai đúng ai sai cũng khó phán xét. Vì thế trong trường hợp này mong anh, chị đi trước phân tích tình huống này hiểu như như thế nào là đúng. Mình nghĩ anh BachThanhDC là người rất giỏi, có kinh nghiệm nhiều trong những vụ án dân sự anh sẽ phân tích trường hợp này chuẩn cho các thành viên hiểu rõ hơn. Xin ý kiến tham vấn của anh Thành 

    Trân trọng!

    Hãy theo đuổi đam mê, thành công sẽ đến với bạn.

    Hotline: 0989.422.798. Luật sư - Hãng luật Hai Nguyen & Cộng Sự. Lya BuilDing, phòng 12 A, Chung cư Viện chiến lược Bộ Công An, Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Website: http://lamchuphapluat.vn/

    Tư vấn luật miễn phí: http: http://duongleuocan.blogspot.com/

     
    Báo quản trị |  
  • #420200   31/03/2016

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1205)
    Số điểm: 9624
    Cảm ơn: 135
    Được cảm ơn 923 lần
    Moderator

    Theo Quyết định công nhận hòa giải thành của Tòa án thì A là người được nhận tài sản, tài sản được nhận là 300 triệu nhưng do người phải giao tài sản là B không tự nguyện giao nên bị Cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế giao 200m2 đất (tương đương 300 triệu). A đã được cấp giấy chủ quyền 200m2 đất này chứng tỏ A đã có ký nhận trong Biên bản giao nhận tài sản của Cơ quan thi hành án dân sự. Từ cơ sở đó, đối chiếu với qui định của Pháp luật tại Khoản 4 Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP thì thẩm quyền giải quyết việc B chiếm lại 200m2 đất đã giao cho A thuộc về UBND theo trình tự tố tụng hành chính hoặc Cơ quan điều tra của Công an theo trình tự tố tụng hình sự chứ không phải của Tòa án theo trình tự tố tụng dân sự. Bởi các lẻ vừa nêu, việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án là đúng pháp luật qui định tại điểm đ khoản 1 điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

    Câu chuyện tiếp theo là A phải chọn 1 trong 2 cách giải quyết :

    1/- A làm đơn đề nghị UBND xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm đất của B. Tùy theo giá trị phần đất bị chiếm mà Chủ tịch UBND có thẩm quyền tương ứng sẽ ban hành Quyết định xử phạt hành chính sau khi lập Biên bản vi phạm ban đầu mà B không tự nguyện khôi phục lại nguyên trạng đất để trả cho A. Trong Quyết định xử phạt hành chính này ngoài hình thức xử phạt ra còn có biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã chiếm. Nếu B không tự nguyện thi hành Quyết định xử phạt này thì sẽ bị cưỡng chế thi hành theo qui định, lúc đó A sẽ được nhận lại đất của mình.

    2/- A làm đơn gởi Cơ quan điều tra của Công an tố cáo B có hành vi không chấp hành án bằng thủ đoạn chiếm lại tài sản 200m2 đất  sau khi bị cưỡng chế. Nếu bị tuyên phạm tội không chấp hành án theo điều 304 Bộ luật hình sự hiện hành thì Bản án hình sự ngoài tuyên hình phạt mà B phải chịu còn tuyên B phải chấp hành Quyết định hòa giải thành đã có hiệu lực bằng cách phải giao trả lại 200m2 đất cho A .

    Trân trọng.

    Cập nhật bởi TranTamDuc.1973 ngày 31/03/2016 09:43:48 SA
     
    Báo quản trị |