DanLuat 2015

TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ XUẤT MỚI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

Chủ đề   RSS   
  • #380541 23/04/2015

    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ XUẤT MỚI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

    Thời hiệu, mang thai hộ,đại diện dòng họ, vật quyền…. là những đề xuất mới trong dự thảo Bộ luật Dân sự (BLDS). Bài viết xin tổng hợp những đề xuất này cùng phân tích của các chuyên gia.

     

    1/ Chỉ nên quy định hai loại thời hiệu :

    Dự thảo sửa đổi BLDS của nước ta nên theo hướng chỉ quy định 2 loại thời hiệu. Một là thời hiệu hưởng quyền (tiếp tục giữ nguyên như hiện tại). Hai là thời hiệu mất quyền (không quy định “thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự”), theo đó “thời hiệu mất quyền là thời hiệu làm chấm dứt quyền nếu quyền này không được thực hiện trong một thời gian được pháp luật quy định”, góp ý của các tác giả Đỗ Văn Đại và Nguyễn Ngọc Hồng Phượng (Khoa Luật Dân sự - ĐH Luật TPHCM).

    BLDS 2005 có quy định chung về "thời hiệu" tại Chương IX, gồm 9 điều, từ Điều 154 - Điều 162. Thời hiệu trong BLDS 2005 được hiểu là “thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự”."Thời hiệu" là một cách thức, biện pháp làm chủ thể có được hoặc bị mất đi quyền của mình, thông qua một khoảng thời gian nhất định với những điều kiện do pháp luật quy định. Dự thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) đã có nhiều thay đổi về thời hiệu trong phần quy định chung cũng như trong lĩnh vực cụ thể như thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế so với BLDS 2005.

    Sự khác biệt

    Theo đó, BLDS 2005 quy định có bốn loại thời hiệu, bao gồm: thời hiệu hưởng quyền dân sự (là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự – khoản 1 Điều 155); thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự (là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ – khoản 2 Điều 155); thời hiệu khởi kiện (là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện – khoản 3 Điều 155); thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự (là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu – khoản 4 Điều 155).

    BLDS 2005 quy định thời hiệu theo phương án liệt kê các loại thời hiệu tại Điều 155, nhưng cách thức liệt kê như vậy khiến cho các quy định của BLDS không đầy đủ và chưa phù hợp với quy định về thời hiệu trong văn bản pháp luật khác. Cụ thể, theo BLDS 2005 thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Theo quy định này, chúng ta hiểu thời hiệu khởi kiện chỉ áp dụng trong trường hợp chủ thể kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết. Tương tự như vậy đối với thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự: Đó là thời hiệu để chủ thể yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án.

    Cách quy định này không chính xác khi đối chiếu với quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, theo khoản 1 Điều 4 “người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường” và khoản 1 Điều 5 Luật vừa nêu quy định “thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật này là 02 năm”. Qua đó thấy rằng thời hiệu yêu cầu bồi thường theo Luật TNBTCNN là thời hạn mà người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết. Ở đây, chủ thể giải quyết yêu cầu chính là cơ quan nhà nước có người có hành vi gây thiệt hại, không phải là Tòa án. Chẳng hạn, nếu người của UBND gây thiệt hại thì thời hiệu yêu cầu bồi thường trên không phải là thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết như BLDS hiện hành mà là yêu cầu UBND giải quyết bồi thường (về loại thời hiệu này, xem thêm Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín, Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nxb. ĐHQG TP. HCM 2015 (xuất bản lần thứ hai), phần số 138 và tiếp theo).

    Điều đó cho thấy quy định của BLDS 2005 về thời hiệu vẫn còn bất cập. BLDS là văn bản chung về pháp luật dân sự nhưng lại không bao quát được hết các trường hợp đang tồn tại trong pháp luật thực định Việt Nam.

    Một điểm khác biệt rất quan trọng là Điều 167 Dự thảo chỉ còn hai loại thời hiệu là: thời hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Ở đây, thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự (Điều 168 Dự thảo); còn thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn thực hiện nghĩa vụ (Điều 169 Dự thảo).

    Việc Dự thảo chỉ tập trung vào thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự (bên cạnh thời hiệu hưởng quyền) là chưa phù hợp.

    Thứ nhất, khi đề cập tới thời hiệu “miễn trừ nghĩa vụ dân sự” thì đồng nghĩa với việc loại thời hiệu này sẽ phải gắn với một nghĩa vụ dân sự nhất định với hệ quả là khi hết thời hiệu thì nghĩa vụ đó được miễn thực hiện và nghĩa vụ dân sự liên quan chấm dứt. Tuy nhiên, trong Dự thảo cũng như văn bản khác còn tồn tại những loại thời hiệu không gắn với một nghĩa vụ dân sự như thời hiệu yêu cầu giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 176 Dự thảo), thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc thừa kế (Điều 646 Dự thảo) hay thời hiệu yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài trong Luật Trọng tài (theo khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài, “trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài”). Đối với những trường hợp này, chúng ta áp dụng loại thời hiệu nào? Câu hỏi không có câu trả lời thuyết phục trong Dự thảo vì đây chắc chắn không là thời hiệu hưởng quyền cũng không phải là thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự vì không gắn với nghĩa vụ dân sự cụ thể nào.

    Thứ hai, theo khoản 7 Điều 396 Dự thảo, khi kết thúc thời hạn thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn thực hiện nghĩa vụ - đây là một trong những căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ. Khi người có nghĩa vụ đã được chấm dứt nghĩa vụ theo thời hiệu thì cũng dẫn đến chấm dứt quyền yêu cầu trên thực tế của người có quyền. Theo BLDS 2005 (công nhận thời hiệu khởi kiện), khi hết thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết, nhìn chung chủ thể chỉ mất đi quyền khởi kiện (tức mất quyền tố tụng), còn quyền yêu cầu trên thực tế làm phát sinh quyền khởi kiện (tức là quyền nội dung) thì không mất đi. Chẳng hạn, A cho B vay 100 triệu đồng. A cóquyền yêu cầu B trả tiền – đây là quyền nội dung, từ quyền này làm phát sinh quyền khởi kiện của A – đây là quyền tố tụng, còn B có nghĩa vụ trả tiền. Nếu hết thời hiệu khởi kiện do BLDS 2005 quy định mà A không yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc B thực hiện nghĩa vụ thì A chỉ mất đi quyền khởi kiện, còn quyền yêu cầu B trả tiền trên thực tế vẫn tồn tại, không bị mất đi. Với việc phân biệt rõ thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự với thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu việc dân sự trong BLDS hiện nay, chúng ta rất hiếm gặp trường hợp thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự trong pháp luật hiện hành. Ngược lại, với quy định như Dự thảo, thời hiệu đối với nghĩa vụ dân sự sẽ có nguy cơ trở thành thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự do Dự thảo chỉ ghi nhận thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự bên cạnh thời hiệu hưởng quyền. Chẳng hạn, trong Dự thảo có quy định theo đó “trường hợp pháp luật không có quy định khác, thời hiệu yêu cầu thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ nghĩa vụ, yêu cầu bồi thường thiệt hại là ba năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền của mình bị xâm phạm và người vi phạm” (Điều 180). Do Dự thảo đã bỏ thời hiệu khởi kiện cũng như thời hiệu yêu cầu việc dân sự nên thời hiệu vừa nêu có nguy cơ sẽ bị coi là thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Nếu theo hướng này (tức áp đặt quy định về thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự của Dự thảo vào các hoàn cảnh vừa nêu), chúng ta sẽ làm chấm dứt quyền yêu cầu trên thực tế (quyền nội dung) của người có quyền. Quy định như vậy là quá khắt khe, không phù hợp với thực tiễn và xu hướng đương đại trên thế giới mà chúng ta đã thấy trong phần sau.

    Thứ ba, việc chỉ ghi nhận thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự bên cạnh thời hiệu về hưởng quyền như Dự thảo còn tạo ra sự không thống nhất với các văn bản khác đang có hiệu lực. Chẳng hạn, theo khoản 3 Điều 159 BLTTDS sửa đổi năm 2011, “thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Phải dung hòa các quy định trong Dự thảo như thế nào với loại quy định như vừa nêu trong các văn bản khác? Liệu các quy định về thời gian không tính vào thời hiệu (Điều 174 của Dự thảo) hay các quy định về bắt đầu lại thời hiệu (Điều 175 Dự thảo) có được áp dụng cho loại thời hiệu nêu trên (trong văn bản khác) hay không? Cách quy định như Dự thảo có thể sẽ làm cho người quan tâm hiểu rằng các quy định này sẽ không được áp dụng vì Dự thảo chỉ đề cập tới hai loại thời hiệu (hưởng quyền và miễn trừ nghĩa vụ dân sự) và như vậy sẽ dẫn đến lỗ hổng pháp lý cho các loại thời hiệu được quy định trong văn bản khác.

    Kinh nghiệm nước ngoài và đề xuất

    Dưới góc độ nghiên cứu so sánh, nhiều quốc gia cũng chỉ quy định hai loại thời hiệu, nhưng đó là thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu mất quyền (chứ không phải là thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự). Chẳng hạn, BLDS Nhật Bản quy định về thời hiệu tại Chương 7. Ở đây, sau phần Những quy định chung về thời hiệu, BLDS Nhật Bản chia thời hiệu làm hai loại và quy định ở hai phần riêng, gồm thời hiệu hưởng quyền từ Điều 162 đến Điều 165, và thời hiệu mất quyền (hết quyền) từ Điều 166 đến Điều 174. Như vậy, bản chất của thời hiệu hết hay mất quyền trong BLDS Nhật Bản chính là khoảng thời gian do luật định để chủ thể được thực hiện quyền yêu cầu, hết thời hạn đó mà không thực hiện thì chủ thể không được quyền yêu cầu nữa. Loại thời hiệu này khác với thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ như chúng ta đang quy định (vì như đã phân tích ở trên, thời hiệu này chỉ áp dụng trong mối quan hệ nghĩa vụ dân sự).

    BLDS Quebec cũng quy định hai loại thời hiệu. Điều 2875 BLDS Quebec định nghĩa “thời hiệu là một phương tiện/cách thức để đạt được hay bị mất đi thông qua khoảng thời gian do luật quy định. Thời hiệu bao gồm hai loại, thứ nhất là thời hiệu hưởng quyền, thứ hai là thời hiệu mất quyền”. Luật của Quebec quy định “thời hiệu hưởng quyền là một biện pháp giúp chủ thể có được quyền sở hữu, hoặc một trong các quyền của quyền sở hữu, thông qua sự tác động của việc chiếm hữu tài sản của chủ thể” (Điều 2910). Còn Điều 2921 quy định “thời hiệu mất quyền là một phương tiện làm chấm dứt một quyền bởi việc không thực hiện (trong khoảng thời hạn luật quy định) hoặc là phương tiện cho việc phản đối chấp nhận một yêu cầu”. Điều đó cho thấy, pháp luật của Quebec cũng chỉ quy định về thời hiệu làm cho một người mất đi quyền yêu cầu của mình (bên cạnh thời hiệu hưởng quyền), chứ không quy định việc hết thời hiệu chấm dứt nghĩa vụ dân sự như quy định trong Dự thảo.

    Pháp mới tiến hành cải cách quy định về thời hiệu năm 2008. Ở đây, BLDS Pháp cũng có hai loại thời hiệu là thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu chấm dứt quyền. Đối với loại thời hiệu hưởng quyền thì tương đồng với chúng ta. Tuy nhiên, điểm khác biệt với Dự thảo, chính là thời hiệu chấm dứt quyền. Cụ thể, “đây là một phương thức chấm dứt một quyền xuất phát từ việc chủ thể không hành động trong một khoảng thời gian”. Đối tượng bị mất ở đây không phải “nghĩa vụ dân sự” như Dự thảo mà là “quyền”. Quyền này có thể là quyền nội dung hay cũng chỉ là quyền tố tụng tùy vào nội dung quy định cụ thể về thời hiệu; quyền này cũng có thể không gắn liền với một nghĩa vụ dân sự nào (như quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu).

    Như vậy, nhiều quốc gia quy định hai loại thời hiệu là “thời hiệu hưởng quyền” (acquisitive prescription) và “thời hiệu mất quyền” (extinctive prescription) – chứ không phải là thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự như Dự thảo.

    Việc Dự thảo theo hướng đơn giản hóa các quy định về thời hiệu là thuyết phục, nên làm để cho pháp luật không quá rườm rà. BLDS hiện hành đưa ra 04 loại thời hiệu nhưng xét một cách tổng thể thì việc liệt kê này vẫn không đầy đủ vì vẫn còn loại thời hiệu không nằm trong 04 loại này và thời hiệu trong Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là một ví dụ. Kinh nghiệm nước ngoài cũng cho thấy nhìn chung là pháp luật nước ngoài cũng không liệt kê tới 04 loại thời hiệu như BLDS hiện hành của chúng ta mà xu hướng chung là chỉ có 02 loại thời hiệu. Do đó, Dự thảo theo hướng chỉ còn 02 loại thời hiệu là thuyết phục nhưng nội hàm của việc quy định 2 loại thời hiệu này là cần xem lại.

    Chúng ta đã thấy, bên cạnh thời hiệu hưởng quyền, Dự thảo đưa ra loại thời hiệu thứ hai là thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Chính việc ghi nhận thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự bên cạnh thời hiệu hưởng quyền là điểm yếu của Dự thảo vì vẫn còn những loại thời hiệu không thuộc thời hiệu hưởng quyền cũng như không thuộc thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự như thời hiệu thực hiện quyền tuyên bố giao dịch vô hiệu hay thời hiệu yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài.

    Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy xu hướng chung là, bên cạnh thời hiệu hưởng quyền, pháp luật ghi nhận thời hiệu mất quyền chứ không ghi nhận thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thực tế thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự chỉ là một dạng của thời hiệu mất quyền vì, khi nghĩa vụ dân sự chấm dứt, quyền về nội dung của nghĩa vụ cũng chấm dứt (tức đây là thời hiệu làm mất cả quyền nội dung). Từ đó, chúng tôi đề xuất thay vào vị trí của thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự (có phạm vi hẹp là chỉ áp dụng khi có quan hệ nghĩa vụ dân sự) chúng ta ghi nhận thời hiệu mất quyền (có thể là mất quyền tố tụng, mất quyền nội dung tùy vào nội dung cụ thể của quy định liên quan đến thời hiệu).

    Với hướng trên, chúng ta vẫn giữ được sự ổn định trong pháp luật dân sự cũng như sự tương thích được với các quy định hiện hành về thời hiệu trong các văn bản khác vì thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu việc dân sự đang tồn tại trong BLDS sẽ thuộc nhóm thời hiệu mất quyền (mất quyền khởi kiện ra Tòa án, mất quyền yêu cầu ra Tòa án). Hướng này cũng đồng thời bao quát cả thời hiệu không nằm trong BLDS hiện hành khi thời hiệu này không thuộc thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu việc dân sự như thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật TNBTCNN.

    Trên cơ sở phân tích trên, chúng tôi đề xuất quy định về thời hiệutrong Dự thảo sửa đổi BLDS của Việt Nam là nên theo hướng chỉ quy định hai loại thời hiệu: Một là thời hiệu hưởng quyền (tiếp tục giữ nguyên như hiện tại). Hai là thời hiệu mất quyền (không quy định “thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự”), theo đó “thời hiệu mất quyền là thời hiệu làm chấm dứt quyền nếu quyền này không được thực hiện trong một thời gian được pháp luật quy định”. Việc quy định thời hiệu mất quyền có ý nghĩa thực tiễn vì nó buộc người có quyền phải hành động để bảo vệ quyền lợi của mình và giảm áp lực công việc cho cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết những vụ, việc đã xảy ra trong thời gian dài.

    Đỗ Văn Đại và Nguyễn Ngọc Hồng Phượng

    Khoa Luật Dân sự - ĐH Luật TPHC

    (Theo www.chinhphu.vn)

     
    5986 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #380544   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    2/ BỎ THỜI HIỆU YÊU CẦU CHIA TÀI SẢN THỪA KẾ:

    Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định người thừa kế phải chia di sản thành 2 đợt (nếu họ không muốn chia di sản là bất động sản ngay) là động sản trong 10 năm còn là bất động sản trong 30 năm. Theo PGS.TS. Đỗ Văn Đại (Trưởng Khoa Luật Dân sự-ĐH Luật TPHCM), đây là bất cập lớn nên có hướng giải quyết.

    Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam kể từ Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đến nay có 4 loại thời hiệu là: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người quá cố để lại (1); thời hiệu khởi kiện yêu cầu xác nhận quyền thừa kế (2); thời hiệu khởi kiện bác bỏ quyền thừa kế của người khác (3) và thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản (4).

    Nghiên cứu thực tiễn xét xử về thừa kế, chúng tôi nhận thấy 3 loại thời hiệu đầu không làm phát sinh những bất cập nên chúng tôi không bàn luận ở đây (chúng ta hoàn toàn có thể giữ lại để giữ sự ổn định của pháp luật). Tuy nhiên, loại thời hiệu thứ 4 nêu trên gây nhiều khó khăn trong thực tiễn.

    Dự thảo sửa đổi BLDS lấy ý kiến toàn dân có quy định cũng chưa thuyết phục về chủ đề này và cần có hướng xử lý tương thích.

    Bất cập từ BLDS hiện hành

    Kế thừa Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và BLDS năm 1995, Điều 645 BLDS năm 2005 quy định “thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

    Việc áp đặp thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản như trên đã thể hiện nhiều bất cập.

    Thứ nhất, việc áp đặt thời hiệu 10 năm trên đã kéo theo một sự phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam do người Việt Nam không có thói quen yêu cầu chia di sản mà người thân để lại sau khi người thân mới mất. Trên thực tế, người dân vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết mặc dù thời gian 10 năm đã qua và Tòa án đã phải tìm cách để cho phép người thừa kế chia di sản. Chẳng hạn, để chấp nhận yêu cầu chia di sản đã quá thời hạn luật định, Tòa án đã tìm cách làm chậm thời điểm bắt đầu thời hiệu (như thời điểm bắt đầu chậm hơn thời điểm mở thừa kế nên thời hiệu chấm dứt muộn hơn), bằng cách không tính một khoảng thời gian vào thời hiệu (nên thời hiệu chấm dứt muộn hơn) hay bằng cách bắt đầu lại thời hiệu (cũng làm cho thời hiệu chấm dứt muộn hơn).

    Ngoài ra, Tòa án Nhân dân tối cao còn ban hành một Nghị quyết (số 02/2004) để xác định trong một số trường hợp di sản được chuyển thành tài sản chung của những người thừa kế nên người thừa kế được quyền yêu cầu chia. Chính sự cố gắng của Tòa án như vừa nêu (để giúp người dân vẫn được chia di sản mặc dù thời hạn 10 năm đã hết) đã làm cho hệ thống pháp luật của chúng ta rất phức tạp đối với thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế.

    Thứ hai, việc BLDS đặt ra thời hiệu (10 năm) để  “yêu cầu chia di sản” đồng nghĩa với việc BLDS buộc những người thừa kế phải tiến hành chia di sản trong thời hạn luật định (nếu họ không chia di sản trong thời hạn này thì sẽ không nhận được sự hỗ trợ của Tòa án khi thời hạn luật định đã hết). Đây là một giải pháp chưa thuyết phục ở cả góc độ lý luận cũng như thực tiễn. Khi cha mẹ để lại cho những người con (những người thừa kế) một khối tài sản (như một căn nhà, một biệt thự…) thì tại sao chúng ta (BLDS) lại bắt những người con (những người thừa kế) phải “chia năm xẻ bảy” khối tài sản này ?

    Thứ ba, việc BLDS đặt ra thời hiệu để yêu cầu chia di sản như nêu trên là mâu thuẫn với những nội dung khác trong BLDS. Thực tế, di sản thừa kế là tài sản chung của những người thừa kế. Trong khi đó khoản 2 Điều 224 BLDS không áp dụng thời hiệu chia tài sản chung: Quy định vừa nêu theo hướng đồng sở hữu tài sản chung được yêu cầu chia tài sản chung ở bất kỳ thời điểm nào vì điều khoản này đã quy định “trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu các chủ sở hữu chung đã thoả thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó” (không có thời hạn để chia tài sản chung).

    Thứ tư, việc BLDS đặt ra thời hiệu để yêu cầu chia di sản như nêu trên là mâu thuẫn với văn bản khác đang có hiệu lực, mà cụ thể là Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS). Cụ thể, theo điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS (sửa đổi năm 2011), “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện” trong khi đó tranh chấp về “chia di sản” thường là tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Nói cách khác, BLTTDS theo hướng không áp dụng thời hiệu còn BLDS lại áp đặt thời hiệu là mâu thuẫn nhau.

    Thứ năm, BLDS đưa ra quy định áp dụng thời hiệu 10 năm và khi hết thời hiệu 10 năm thì người thừa kế mất quyền khởi kiện tại Tòa án. Tuy nhiên, BLDS lại không cho biết số phận của di sản được quyết định như thế nào? Nghị quyết số 02/2004 nêu trên, cho rằng trong một số trường hợp di sản trở thành tài sản chung cũng không cho biết số phận của di sản nếu không thuộc trường hợp vừa nêu. Trong thực tế, Tòa án Nhân dân tối cao theo hướng tạm giao di sản cho người đang quản lý di sản nhưng tạm giao đến thời điểm nào cũng chưa có câu trả lời. Nói cách khác, di sản hết thời hiệu yêu cầu chia di sản trở thành tài sản không có cơ chế điều chỉnh rõ ràng và dứt khoát nên sẽ không giúp khai thác triệt để tài sản.

    Bất cập của Dự thảo

    Dự thảo đã đưa ra quy định khá mới về thừa kế. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 646 Dự thảo, “thời hạn yêu cầu Tòa án giải quyết việc thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”.

    Quy định này (kéo dài thời hiệu đối với di sản là bất động sản) có nhiều bất cập.

    Thứ nhất, Dự thảo vẫn duy trì thời hiệu cho việc yêu cầu chia di sản (tăng từ 10 năm lên 30 năm đối với di sản là bất động sản) nên vẫn giữ nguyên các bất cập nêu trên xuất phát từ việc áp đặt một thời hạn cho việc yêu cầu chia di sản.

    Thứ hai, ngoài việc không triệt tiêu được các bất cập nêu trên, Dự thảo còn tạo ra những vấn đề mới, chẳng hạn quy định người thừa kế phải chia di sản thành 2 đợt (nếu họ không muốn chia di sản là bất động sản ngay) - động sản trong 10 năm còn bất động sản trong 30 năm (trên thế giới, chúng tôi chưa gặp nước nào lại tách di sản thành 2 loại để bắt chia ở hai thời điểm khác nhau).

    Thứ ba, Dự thảo đưa ra hệ quả của hết thời hiệu yêu cầu chia di sản. Cụ thể, theo Dự thảo, “hết thời hạn này (10 năm khi di sản là động sản và 30 năm khi di sản là bất động sản) thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”. Ở đây, có thể có sự nhầm lẫn về hệ quả của hết thời hiệu khởi kiện (hết thời hạn luật định thì mất quyền yêu cầu) với thời hiệu hưởng quyền (hết thời hạn luật định thì một chủ thể được hưởng quyền như quyền sở hữu tài sản). Việc những người thừa kế kết quyền khởi kiện không đương nhiên để một người thừa kế trở thành chủ sở hữu di sản. Để trở thành chủ sở hữu di sản theo các quy định chung về thời hiệu hưởng quyền, người thừa kế đang quản lý di sản phải đáp ứng rất nhiều kiện khó thỏa mãn đối với người thừa kế (ngoài điều kiện phải chiếm hữu trong một thời hạn luật định): Phải là chiếm hữu di sản không có căn cứ pháp luật (1), ngay tình (2), liên tục (3), công khai (4), không thuộc trường hợp được ủy quyền quản lý di sản (5) hay được giao tài sản theo giao dịch (6). Vì phải đáp ứng điều kiện vừa nêu mà cho đến hiện nay Tòa án Nhân dân tối cao cũng chưa bao giờ chấp nhận cho một người thừa kế trở thành chủ sở hữu tài sản thông qua quy định về thời hiệu hưởng quyền (Điều 247 BLDS hiện hành).

    Thứ tư, quy định về hệ quả của hết thời hiệu nêu trên còn gây thêm bất cập nữa là Dự thảo theo hướng di sản thuộc về người “đang quản lý” mà không nêu rõ thời gian bao lâu. Để hiểu rõ hơn bất cập từ quy định này, chúng ta xem tình huống sau: A, B, C là ba người thừa kế tài sản do cha mẹ để lại. A đã quản lý tài sản này (nhà và quyền sử dụng đất) trong 29 năm và C quản lý khối tài sản này từ năm thứ 30. Nếu áp dụng quy định trong Dự thảo, di sản sẽ thuộc về C và đây là kết quả hoàn toàn không thuyết phục, không công bằng.

    Đề xuất

    Vấn đề thừa kế không phải là vấn đề mới ở Việt Nam và cũng không phải chỉ có ở Việt Nam. Bất kỳ xã hội nào cũng có vấn đề thừa kế nhưng các vấn đề nêu trên lại là đặc thù của Việt Nam.

    Chúng tôi đã nghiên cứu rất nhiều hệ thống pháp luật nước ngoài về thừa kế thì những bất cập nêu trên không thấy tồn tại. Sở dĩ các bất cập nêu trên không tồn tại là vì pháp luật nước ngoài không áp đặt thời hạn để người thừa kế phải tiến hành chia di sản (tức nếu quá thời hạn này thì yêu cầu chia di sản không được chấp nhận). Nói cách khác, tự chúng ta áp đặt thời hạn yêu cầu chia di sản và tự chúng ta phải đối mặt với những khó khăn do chính thời hạn này làm phát sinh.

    Từ những phân tích trên, chúng tôi đề xuất bỏ thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản. Việc này sẽ giúp tránh tình trạng tài sản của cha mẹ để lại (là một khối thống nhất) phải “chia năm xẻ bảy”.

    Giải pháp này sẽ giúp tránh được mâu thuẫn giữa nội tại quy định trong BLDS (yêu cầu chia di sản và yêu cầu chia tài sản chung) và giữa BLDS với BLTTDS (không áp dụng thời hiệu). Giải pháp này cũng sẽ làm chấm dứt những phức tạp trong pháp luật hiện hành xuất phát từ việc áp đặt thời hiệu để yêu cầu chia di sản.

    PGS. TS. Đỗ Văn Đại

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

    Cập nhật bởi honhu ngày 23/04/2015 03:03:02 CH
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)
  • #380558   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    3/ THÊM QUY ĐỊNH VỀ "ĐẠI DIỆN DÒNG HỌ":

    Trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là dòng họ không được đề cập trực tiếp và các quy định về đại diện cũng không ghi nhận vấn đề này.

    Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, dòng họ của Việt Nam xuất hiện từ thời sơ cổ. Sự hiện diện của dòng họ mang đậm dấu ấn của lịch sử, của vùng miền và tập quán địa phương. Truyền thống về thờ phụng tổ tiên, các bậc viễn tổ trong các từ đường (các nhà thờ họ), các gia đường… đã tồn tại là một nếp sống văn hóa lâu đời như là một tập quán tốt đẹp của dân tộc.

    Trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là dòng họ không được đề cập trực tiếp và các quy định về đại diện cũng không ghi nhận vấn đề này. Trong khi đó, các tranh chấp liên quan đến tài sản của dòng họ hiện nay đang là những tranh chấp phức tạp nhất, nhiều vụ án liên quan đến tài sản là dòng họ phải xét xử đi, xét xử lại nhiều lần do bỏ sót người tham gia tố tụng và không có quy định nhất quán về tư cách chủ thể của dòng họ.

    Thiếu các quy định về đại diện của dòng họ

    Trong Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005, di sản thờ cúng, tài sản sở hữu của dòng họ được kế thừa và ghi nhận như là một sự bảo hộ của Nhà nước đối với việc duy trì truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

    Dự thảo BLDS (sửa đổi) tiếp tục ghi nhận về sở hữu của dòng họ. Theo đó, “sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, làng, bản, buôn, sóc, cộng đồng tôn giáo và các cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cả cộng đồng”.

    Thực tế xét xử hiện nay cho thấy, các tranh chấp liên quan đến tài sản thuộc sở hữu của dòng họ như nhà thờ họ, đồ thờ cúng… đã nảy sinh và trở nên khá phổ biến.

    Việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của dòng họ là một loại án điển hình, khó không chỉ vì số lượng đương sự nhiều, giấy tờ chứng minh sở hữu không rõ ràng, phải áp dụng đến tập quán… mà khó khăn chính từ sự thiếu vắng các quy định của pháp luật hiện hành về đại diện của dòng họ.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 149 của dự thảo BLDS (sửa đổi) “Đại diện là việc một cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi là bên đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi là bên được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

    Về bản chất, Dòng họ được xác định là tổ chức không có tư cách pháp nhân. Điều 119 “Địa vị pháp lý của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự” của Dự thảo ghi nhận: “1. Hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thông qua cá nhân là người đại diện hoặc là thành viên của mình theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

    2. Các thành viên có thể thỏa thuận cử người đại diện thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự vì lợi ích chung”.

    Như vậy, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thông qua cá nhân là người đại diện nhưng lại dẫn chiếu đến “theo quy định của Bộ luật này”, trong khi đó quy định cụ thể về đại diện trong BLDS 2005 và dự thảo BLDS (sửa đổi) không hề đề cập đến người đại diện theo pháp luật của dòng họ.

    Tài sản của dòng họ - những vướng mắc pháp lý

    Việc không ghi nhận vai trò của cá nhân người đại diện của dòng họ tạo ra những rào cản pháp lý rất lớn khiến các vụ án tranh chấp liên quan đến tài sản của dòng họ bị hủy, sửa và kéo dài thời hạn tố tụng. Có thể tổng hợp những vướng mắc cơ bản sau:

    Về truyền thống lịch sử, trên thực tế cũng như trên phương diện pháp lý, đặc biệt là Luật Đất đai, Pháp luật Dân sự, tài sản của dòng họ tồn tại và được ghi nhận thuộc sở hữu chung cộng đồng. Sở hữu chung của cộng đồng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sở hữu của dòng họ hoặc hiểu theo nghĩa hẹp là sở hữu chung của chi, ngành nói riêng.

    Tài sản của chi, ngành có thể là tài sản riêng của chi, ngành đó, có thể là tài sản chung của dòng họ. Vấn đề là, xác định đại diện được hiểu thống nhất theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, điều này sẽ liên quan đến việc xác định tư cách chủ thể tham gia tố tụng khi tranh chấp liên quan đến tài sản của dòng họ không thể hòa giải mà phải khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết tranh chấp.

    Theo quy định tại Điều 283 dự thảo BLDS (sửa đổi): “Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thoả thuận hoặc theo tập quán, vì lợi ích của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật và đạo đức xã hội.

    Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia”.

    Như vậy, với tính chất là tài sản chung hợp nhất thì việc định đoạt tài sản này phải được toàn thể các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thoả thuận hoặc theo tập quán, vì lợi ích của cộng đồng. Có thể so sánh, việc xác định thành viên hộ gia đình trong thực tiễn vướng mắc một lần thì việc xác định thành viên của dòng họ khó khăn và vướng mắc nghìn lần.

    Ngoài ra, pháp luật bảo hộ quyền khởi kiện của người dân, xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự.

    Với lẽ đương nhiên đó, thành viên trong dòng họ khi giả thiết cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của dòng họ bị xâm phạm hoặc tranh chấp sẽ được thực hiện quyền khởi kiện. Những thành viên khác không bị kiện sẽ phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

    Do việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của dòng họ thuộc về tất cả các đồng sở hữu nên tất cả các thành viên trong họ có đủ năng lực hành vi đều phải tham gia tố tụng vì việc giải quyết vụ án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ theo quy định của pháp luật dân sự về định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Tưởng tượng với từng ấy đương sự, Tòa án đều phải triệu tập tham gia tố tụng (chưa tính đến việc không tìm được địa chỉ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người của dòng họ bị mất tích hoặc vắng mặt tại nơi cư trú...) đặt cho Tòa án gánh nặng và áp lực về thời hạn tố tụng như thế nào. Đây cũng là nguyên nhân cơ bản khiến các tranh chấp tài sản liên quan đến “chủ thể là dòng họ” trên thực tiễn xét xử hiện nay đứng trước nguy cơ “án hủy” chiếm tỷ lệ cao nhất do bỏ sót người tham gia tố tụng...

    Cần thiết sửa đổi một số quy định liên quan đến chủ thể dòng họ

    Bên cạnh việc xem xét chủ thể đặc biệt trong quan hệ dân sự như dòng họ, hộ gia đình thì cần thiết ghi nhận quy định về đại diện theo pháp luật của dòng họ.

    Cơ sở để xác định đại diện theo pháp luật của dòng họ hiện trong thực tiễn cũng tồn tại các quan điểm tranh cãi khác nhau:

    Quan điểm thứ nhất tương đối phổ biến chi phối, xác định đại diện của dòng họ là trưởng họ. Quan điểm này được vận dụng từ việc xác định bởi tập quán, cụ thể là, trưởng họ được xác định qua quan hệ huyết thống, tức là con trai trưởng của chi 1 được xác định là trưởng họ đương nhiên. Tập quán này còn được thực hiện theo nguyên tắc cha truyền, con nối.

    Nhiều vụ án trên thực tế, các thẩm phán căn cứ theo chứng cứ là các cuốn gia phả của dòng họ. Đây chính là bộ lịch sử về dòng họ, là điểm tựa để xác định trưởng họ theo huyết thống. Gia phả cũng chính là văn bản chính thức, thiêng liêng của dòng họ, ghi nhận đúng mức công lao, công trạng và thành tích xuất sắc của mỗi người trong họ. Tuy nhiên, không phải dòng họ nào cũng có gia phả, việc xác định trưởng họ cũng có thể dựa vào tập quán của từng địa phương, từng dòng họ.

    Quan điểm thứ hai, trưởng họ được xác định bởi văn bản bầu. Do đặc thù lịch sử của Việt Nam giai đoạn chiến tranh, chế độ cư trú của người Việt Nam, nhiều người trong dòng họ bôn ba định cư ở nước ngoài, nhiều người không sống ở địa phương nơi dòng họ đặt thờ tự trong đó có cả vị trí của trưởng họ được xác định theo huyết thống… Vì vậy, nhiều trường hợp, nhiều địa phương, việc xác định trưởng họ lại căn cứ vào văn bản bầu trưởng họ.

    Thủ tục bầu trưởng họ được lần lượt bầu từ các chi (các trưởng chi, trưởng ngành…) rồi trưởng các chi, ngành đại diện họp bầu trưởng họ…

    Người viết đồng thuận với quan điểm thứ nhất, điều này cũng phù hợp với tập quán tốt đẹp ở tất cả các dân tộc Việt Nam.

    Người đại diện của dòng họ được xác định là trưởng họ. Trưởng họ có thể được xác định bởi tập quán hoặc có thể được xác định qua kết quả bầu của dòng họ trong một số trường hợp như quan điểm thứ hai. Trong trường hợp bầu trưởng họ không được lập thành văn bản thì đương sự có thể chứng minh bằng các chứng cứ khác như lời khai của những người có uy tín, đại diện các chi, ngành thuộc dòng họ, thậm chí là chứng minh việc thực hiện vai trò của trưởng họ trên thực tế như tổ chức cúng giỗ, lễ tết… cho dòng họ.

    Từ sự phân tích lý luận và thực tiễn, người viết đề xuất, cần sửa đổi cụ thể quy định tại Điều 149 của Dự thảo, sửa đổi khái niệm đại diện với việc bổ sung bên được đại diện chủ thể mở rộng là “tổ chức không có tư cách pháp nhân”. Cụ thể như sau: Đại diện là việc một cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi là bên đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác, tổ chức không có tư cách pháp nhân khác (sau đây gọi là bên được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

    Đồng thời, cần bổ sung quy định về đại diện theo pháp luật của dòng họ sau  Điều 152 của Dự thảo về “đại diện theo pháp luật của pháp nhân”. Cụ thể là:

    1. Người đại diện theo pháp luật của Dòng họ là Trưởng họ được xác định theo tập quán hoặc theo kết quả bầu của Dòng họ.

    2. Đại diện theo pháp luật có quyền nhân danh Dòng họ xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phù hợp với quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

    3. Người đại diện theo pháp luật có thể xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự với bên mà mình cũng là người đại diện nếu không có xung đột về lợi ích. Trường hợp có xung đột về lợi ích thì giải quyết theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật này.

    4. Người đại diện theo pháp luật thực hiện trung thực quyền, nghĩa vụ của mình, vì lợi ích của Dòng họ, báo cáo và chịu sự giám sát của Hội đồng gia tộc gồm đại diện của các chi, ngành thuộc Dòng họ.

    PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng

    Trưởng Khoa Đào tạo Luật sư - Học viện Tư pháp

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

    Cập nhật bởi honhu ngày 23/04/2015 03:03:39 CH
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)
  • #380559   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    4/ VẬT QUYỀN:

    Góp ý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), PGS. TS Bùi Đăng Hiếu (ĐH Luật Hà Nội) đề nghị xem xét, điều chỉnh, làm rõ một số quy định về vật quyền như: Chiếm hữu, quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt…

    Cân nhắc sự cần thiết của quy định về chiếm hữu

    Bản chất của quy định về chiếm hữu là tạm thời suy đoán quyền sở hữu cho những người đang thực hiện việc chiếm hữu trên thực tế nhằm tránh sự cưỡng đoạt tài sản bằng vũ lực. Do vậy có thể đạt được mục tiêu này bằng việc bổ sung vào mục "Quyền sở hữu" một quy định về nguyên tắc suy đoán quyền sở hữu.

    Quy định “Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu” là không hợp lý, vì đã phủ nhận toàn bộ các trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu được quy định tại Điều 179 Dự thảo. Vấn đề có được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hay không phụ thuộc vào việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật hay không có căn cứ pháp luật, chiếm hữu có ngay tình hay chiếm hữu không ngay tình.

    Đồng thời, cần phân biệt giữa chiếm hữu ngay tình với chiếm hữu hợp pháp. Trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật (không hợp pháp) thì mới phân chia thành ngay tình hay không ngay tình. Theo người viết, không nên yêu cầu người chiếm hữu ngay tình phải trình căn cứ hợp pháp của mình. Cần xác định sự “ngay tình” hay “không ngay tình” dựa trên niềm tin của người đó biết hay không biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật.

    Quy định về chiếm hữu liên tục trong Dự thảo cũng chưa hợp lý. Chiếm hữu có liên tục hay không liên tục không phụ thuộc vào việc trong quá trình chiếm hữu đó có xảy ra tranh chấp hay không xảy ra tranh chấp. Riêng sự kiện có tranh chấp xảy ra chỉ nói lên việc có ai đó muốn phủ nhận hay khẳng định quyền lợi của mình đối với tài sản đó. Thực sự người tranh chấp có quyền hay không còn phụ thuộc vào phán quyết của tòa án. Chiếm hữu liên tục khi trong suốt thời gian đó người chiếm hữu không bao giờ thể hiện ý chí từ bỏ quyền chiếm hữu của mình.

    Cũng theo Dự thảo “Trường hợp có yêu cầu về quyền sở hữu hoặc các vật quyền khác đối với tài sản đang được người khác chiếm hữu thì cơ quan có thẩm quyền chỉ thụ lý giải quyết với điều kiện người có yêu cầu phải chấm dứt hành vi vi phạm với người chiếm hữu và khôi phục tình trạng ban đầu (nếu có)”. Quy định này có thực sự cần thiết không? Chủ sở hữu lấy lại tài sản của mình thì phải được coi là hợp pháp. Chỉ nên loại trừ trường hợp chủ sở hữu sử dụng vũ lực thôi.

    “Địa dịch” hay “quyền địa dịch”?

    Điều 183 của Dự thảo quy định các vật quyền khác có ghi quyền địa dịch. Tuy nhiên, tiêu đề Mục 1 Chương XIV lại là “Địa dịch”. Vậy quy định chính xác là “địa dịch” hay “quyền địa dịch”? Theo Điều 270 của Dự thảo “Địa dịch được đăng ký có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân. Địa dịch không đăng ký chỉ phát sinh hiệu lực đối với hai chủ sở hữu bất động sản liên quan”. Quy định này có ý nghĩa gì? Tại sao phải phân biệt hiệu lực với tất cả mọi người và hiệu lực đối với hai chủ sở hữu?

    Còn Điều 271 của Dự thảo quy định, Địa dịch được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản hưởng địa dịch phù hợp với mục đích sử dụng bất động sản”. Việc đề ra nguyên tắc phải đáp ứng nhu cầu “phù hợp với mục đích sử dụng bất động sản” có thể là quá nhiều. Bản chất ở đây là sự phiền lụy chủ sở hữu chịu địa dịch, là ngoại lệ của nguyên tắc bảo vệ chủ sở hữu, nên chỉ cần đáp ứng nhu cầu tối thiểu của chủ sở hữu hưởng địa dịch là được.

    Ngoài ra, nên chuyển quy định “Chủ sở hữu nhà phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản khác” (Điều 273) sang Mục Hạn chế quyền sở hữu bởi đây là nghĩa vụ của chủ sở hữu chứ không phải là quyền địa dịch.

    Điều 274, khoản 1 có đoạn quy định “Chủ sở hữu bất động sản liền kề có lối đi được đền bù tương ứng những thiệt hại phát sinh”, bản chất của số tiền này là bù đắp cho sự phiền lụy đối với chủ sở hữu chịu địa dịch chứ không phải là bồi thường thiệt hại. Quy định như vậy thì chủ sở hữu chịu địa dịch không thể chứng minh được thiệt hại của mình.

    Làm rõ một số nội dung của quyền hưởng dụng

    Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) quy định “Quyền hưởng dụng là một quyền mà chủ thể có quyền đó được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ vật thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác, với điều kiện việc thực hiện quyền này không được làm thay đổi tính chất, tính năng sử dụng của vật đó”.

    Khái niệm trên mới chỉ nêu lên quyền sử dụng của người không phải chủ sở hữu, chứ chưa giúp phân biệt được quyền hưởng dụng này với quyền của bên thuê trong hợp đồng thuê, bên mượn trong hợp đồng mượn.

    Quy định “Đối tượng của quyền hưởng dụng có thể là bất động sản, động sản là vật” tối nghĩa và không hợp lý. Ngay tại các quy định phía dưới có cả quyền hưởng dụng đối với cổ phần, mà cổ phần thường được xếp vào nhóm động sản dưới dạng quyền tài sản.

    Một quy định nữa, không thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định vật quyền, đó là “Chủ sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp vào công ty có quyền tham dự các cuộc họp của đại hội cổ đông hoặc hội nghị thành viên công ty nhằm sửa đổi điều lệ công ty; người hưởng dụng  có quyền tham dự các cuộc họp khác của đại hội đồng cổ đông hoặc hội nghị thành viên công ty với tư cách người nắm giữ số cổ phần hoặc phần vốn góp liên quan”.

    Ngoài ra, từ “dùng” trong quy định “Quyền dùng vật của người khác và quyền ở nhà của người kháccó phải là “sử dụng” không? Quyền dùng vật của người khác này có phải là quyền hưởng dụng không? Nếu đúng là quyền hưởng dụng thì có đặc thù gì mà phải quy định thành điều riêng với thuật ngữ riêng như vậy?

    Nên phân biệt rõ “quyền bề mặt” với “quyền sở hữu vật trên đất”

    Điều 291 của Dự thảo nêu khái niệm quyền bề mặt như sau: “Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể được sử dụng mặt đất, khoảng không trên mặt đất và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác”.

    Theo người viết, cần cân nhắc mục đích của quy định về quyền bề mặt là để nhằm giải quyết vấn đề gì? Bởi, quy định như thế này sẽ dẫn đến thực trạng là Nhà nước là chủ sở hữu, người khác được giao quyền sử dụng đất, rồi người khác nữa lại được giao quyền bề mặt. Điều này càng gây khó khăn cho Nhà nước trong việc quản lý nguồn tài nguyên đất.

    Do vậy, nên xây dựng khái niệm quyền bề mặt để thay thế cho khái niệm quyền sử dụng đất hiện hành. Khi đó chỉ còn Nhà nước và chủ thể được Nhà nước giao quyền bề mặt mà thôi.

    Quyền bề mặt tồn tại từ trước khi có vật trên đất và tồn tại độc lập với quyền sở hữu vật trên đất. Nếu vật trên đất không còn nữa thì quyền bề mặt vẫn tồn tại, chủ thể quyền bề mặt có thể tạo lập vật mới trên bề mặt đó.

    Quy định tại Điều 294 “Chủ thể quyền bề mặt có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vật đó” làm cho không phân biệt được chủ sở hữu với chủ thể của quyền bề mặt.

    Và khoản 1, khoản 2 Điều 295 dường như đã nhầm lẫn quyền bề mặt với quyền sở hữu vật trên đất. Vật trên đất không còn thì quyền bề mặt không chấm dứt. Người có quyền bề mặt có thể tạo dựng vật mới trên bề mặt đó.

    Quyền bề mặt là vật quyền chứ không phải là một loại tài sản, do vậy không nên dùng thuật ngữ “chủ sở hữu” ở đây.

    PGS.TS Bùi Đăng Hiếu

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

    Cập nhật bởi honhu ngày 23/04/2015 03:04:06 CH
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)
  • #380560   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    5/ MANG THAI HỘ

    Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định nội dung mang thai hộ. Đây là một chế định pháp lý mới, cần phải được nghiên cứu đưa vào Bộ luật Dân sự (sửa đổi) lần này với tư cách là một quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh về quan hệ mang thai hộ.

    Tuy các nội dung mang thai hộ đã được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nhưng chưa đầy đủ, còn nhiều vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn giao dịch mà Luật này chưa đề cập tới.

    Vấn đề là cần phải đi sâu phân tích, làm rõ lý luận, dự báo tình huống và các khía cạnh pháp lý khác, làm cơ sở cho việc bổ sung những nội dung rõ ràng hơn trong chế định về mang thai hộ vào Bộ luật Dân sự (sửa đổi), tạo ra những định chế pháp lý chặt chẽ để điều chỉnh loại hình mang thai hộ này một cách tốt nhất.

    Theo Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

    Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định tương đối đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, nhưng lại không quy định cụ thể quyền nghĩa vụ vật chất của các bên trong quan hệ mang thai hộ vì mục đích thương mại.

    Mặt khác, Luật này chưa dự liệu tình huống người mang thai hộ bị tai biến dẫn đến tử vong hoặc tàn tật suốt đời vì lý do mang thai hộ để xác định chủ thể gánh chịu hậu quả dân sự. Đây là một điểm mà Bộ luật Dân sự bắt buộc phải bổ sung.

    Mang thai hộ cũng là quyền về nhân thân

    Từ những căn cứ như đã phân tích trên đây, nội dung quan hệ mang thai hộ phải được biên soạn thành một chế định có tính hệ thống để đưa vào bổ sung trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) lần này.

    Với ý nghĩa đó, người viết đề xuất, tại Điều 39 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) cần bổ sung quyền được mang thai hộ cho người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

    Đưa nội dung mang thai hộ vào điều này là hợp lý vì mang thai hộ cũng là quyền về nhân thân và là một quy trình sinh học có sự can thiệp kỹ thuật ngành Y như việc hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể khác mà điều luật này đã quy định.

    Về hợp đồng mang thai hộ, đây là một loại giao dịch dân sự có điều kiện đặc biệt bởi giao dịch này sẽ làm phát sinh, thay đổi cả trên lĩnh vực sinh lý và tâm lý của người mang thai hộ (nhất là lĩnh vực tình cảm), nó còn có liên quan đến nhiều mối quan hệ trong cuộc sống của các chủ thể khác tham gia... cho nên cần phải quy định chặt chẽ về nội dung, hình thức của loại hợp đồng này.

    Theo người viết, hợp đồng này nên biên soạn thành một mục riêng và đưa vào chương XVI là phù hợp với tính chung nhất là loại hợp đồng nhưng mang tính đặc thù riêng, không trùng lắp với các loại hợp đồng khác.

    Về nội dung, cần quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng, trong đó phải tính đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người mang thai hộ khi có sự cố xảy ra xuất phát từ việc mang thai hộ này (kể cả trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo).

    Việc đề xuất đưa nội dung mang thai hộ thành những quy phạm vào Bộ luật Dân sự (sửa đổi) lần này có ý nghĩa bổ sung, tạo sự đồng bộ giữa hai ngành luật, sát hợp hơn với thực tiễn đời sống xã hội, bảo đảm cho các quan hệ dân sự được điều chỉnh một cách chặt chẽ hơn.

    LS Đoàn Công Thiện

    Chủ  nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

    Cập nhật bởi honhu ngày 23/04/2015 03:04:32 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #380562   23/04/2015

    quanghunghn
    quanghunghn

    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/02/2015
    Tổng số bài viết (56)
    Số điểm: 535
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 26 lần


    Với đề xuất thứ 2 của tác giả là bỏ thời hiệu yêu cầu chia tài sản thừa kế, tôi nghĩ là cần phải xem lại.

    Trong bài viết khá dài của tác giả không đặt ra câu hỏi tại sao chúng ta phải quy định thời hiệu thừa kế, nếu tác giả trả lời câu hỏi này trong điều kiện VN thì sẽ không viết như vậy.

    Ngoài ra, trong lý do thứ 4 tác giả đưa ra là việc quy định thời hiệu thừa kế như vậy sẽ mâu thuẫn với điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2011. Tác giả đã có sự nhầm lẫn.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn quanghunghn vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)
  • #380582   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    6/ CƠ CHẾ NGƯỜI GIÁM HỘ

     Những thay đổi trong quy định về “cơ chế giám hộ” tại dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) sẽ khiến việc giám hộ phải đi qua những thủ tục hành chính rườm rà mà những người yếu thế khó có thể thực hiện được.

    Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995 quy định 3 cơ chế giám hộ cho những người chưa thành niên mà không còn cha mẹ và những người mắc bệnh tâm thần là: “Giám hộ đương nhiên của những người gần gũi thân thích của người được giám hộ dựa trên nguyên tắc xác lập tự động và không phụ thuộc vào ý muốn của người giám hộ; Giám hộ của những cá nhân và tổ chức từ thiện trong xã hội; Giám hộ của Nhà nước thông qua cơ quan LĐTB&XH”.

    Ba cơ chế giám hộ như nêu trên là hợp lý, đã thể hiện được mối tương quan giữa gia đình-xã hội-Nhà nước trong trách nhiệm trợ giúp cho những người thuộc thế yếu của xã hội.

    Việc giám hộ trước hết do những người gần gũi, thân thích nhất của người được giám hộ đảm trách, là giám hộ đương nhiên, không phụ thuộc vào bất cứ thủ tục hành chính nào. Nếu những người gần gũi, thân thích nhất này không đảm trách được việc giám hộ thì đến lượt các cá nhân hảo tâm và các tổ chức từ thiện trong xã hội đảm trách theo sự tự nguyện. Cuối cùng, nếu không có ai trong số nêu trên thì Nhà nước sẽ nhận trách nhiệm giám hộ.

    Tuy nhiên, trong BLDS 2005 có hai thay đổi lớn trong cơ chế giám hộ.

    Thay đổi thứ nhất, BLDS 2005 quy định những người mắc bệnh tâm thần sẽ chỉ được xác lập giám hộ sau khi người mắc bệnh tâm thần đó được Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự. Điều này dường như không phù hợp với nhận thức pháp lý của số đông người dân. Do vậy những người mắc bệnh tâm thần được giám hộ sẽ là rất ít chỉ vì họ chưa được Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

    Thứ hai, BLDS 2005 đã lược bỏ quy định về cơ chế giám hộ của Nhà nước (thông qua cơ quan LĐTB&XH). Việc Nhà nước đảm trách việc giám hộ là một trong những biểu hiện tốt đẹp nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”. Do vậy, việc bãi bỏ cơ chế giám hộ của Nhà nước trong BLDS 2005 là không hợp lý.  

    Dự thảo BLDS (sửa đổi) chưa xử lý được các bất cập nêu trên của BLDS 2005. Hơn thế nữa, Dự thảo lại bổ sung một số thay đổi chưa hợp lý như lược bỏ cơ chế giám hộ đương nhiên (mặc nhiên xác lập) của những người gần gũi thân thích trong gia đình. Theo quy định tại Dự thảo thì mọi trường hợp giám hộ đều chỉ được xác lập theo quyết định của UBND cấp xã.

    Dự thảo bổ sung quy định, việc giám sát việc giám hộ cũng cần phải được xác lập theo quyết định của UBND cấp xã, “UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có thẩm quyền cử người giám hộ, người giám sát” (khoản 1 Điều 72). Tiếp theo đó, khoản 4 Điều 72 quy định “Việc giám hộ, giám sát phải được đăng ký theo quy định của pháp luật về hộ tịch”.

    Những thay đổi này làm cho việc giám hộ phải qua những thủ tục hành chính quá rườm rà mà những người yếu thế khó có thể thực hiện được, việc xác lập giám hộ trở nên khó khăn hơn, từ đó càng làm cho những người mắc bệnh tâm thần và người chưa thành niên khó có cơ hội được hưởng cơ chế giám hộ.

    Qua các phân tích trên, người viết kiến nghị, nên khôi phục lại các quy định về giám hộ trong BLDS 1995 để bảo vệ tốt hơn quyền của những người được giám hộ.

    PGS.TS Bùi Đăng Hiếu

    Trường Đại học Luật Hà Nội

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

     
    Báo quản trị |  
  • #380585   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    7/ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

    Quan hệ chuyển quyền sử dụng đất có tính đặc thù nhất trong các quan hệ dân sự hiện nay. Do vậy, vấn đề  “Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất” tiếp tục được đưa vào Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) là một quyết định hợp lý của các nhà làm luật.

    Theo quy định quyền về chuyển quyền sử dụng đất tại Dự thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) sửa đổi thì“người sử dụng đất có quyền thỏa thuận với chủ thể khác về việc chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất và các quyền sử dụng đất khác theo quy định của Luật Đất đai”.

    Cân nhắc quy định về chuyển quyền sử dụng đất

    Có ý kiến cho rằng, vấn đề “Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất” cần được đưa vào Dự thảo BLDS (sửa đổi) để xác định rõ tính chất “dân sự” của hoạt động này, phân biệt với các chuyên ngành luật khác.

    Tuy nhiên, theo chúng tôi, lập luận nêu trên không xác đáng, bởi BLDS 2005 hay Dự thảo BLDS (sửa đổi) đều định nghĩa rất rõ các quan hệ dân sự bao gồm “các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các quan hệ khác hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Do vậy, quan hệ chuyển quyền sử dụng đất, cho dù không được quy định tại một mục riêng trong dự thảo BLDS (sửa đổi) thì vẫn mặc nhiên được thừa nhận là quan hệ dân sự và chịu sự điều chỉnh của BLDS nếu pháp luật chuyên ngành không quy định.

    Đối với quy định “người có quyền sử dụng đất có quyền thỏa thuận với chủ thể khác”, có ý kiến cho rằng quy định này dường như hạn chế quyền đề nghị giao kết hợp đồng của chủ thể khác trong quan hệ chuyển quyền sử dụng đất. Ý kiến thứ hai lại cho rằng quyền đề nghị giao kết hợp đồng chỉ áp dụng với chủ thể có quyền đối với tài sản, còn chủ thể khác chỉ có quyền chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị giao kết. Do vậy, quy định tại Điều 523 Dự thảo BLDS (sửa đổi) không mâu thuẫn với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng của các chủ thể trong giao dịch dân sự.

    Tuy nhiên, dù theo cách hiểu thứ nhất hay cách hiểu thứ hai, thì giá trị thực tiễn của quy định trên gần như không có.

    Ví dụ, anh A không thể khởi kiện anh B vì đã đề nghị anh A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh B, vì pháp luật dân sự quy định chỉ anh A (chủ sử dụng đất) mới có quyền thỏa thuận.

    Thực chất thì việc rao bán, thỏa thuận hay thực hiện giao dịch chuyển quyền sử dụng đất có thể được thực hiện bởi bất kỳ ai nếu được sự cho phép “hợp pháp” của người sử dụng đất. Quy định trên vừa thừa (đã được pháp luật quy định) lại vừa chưa đầy đủ (hạn chế quyền của các chủ thể trong giao dịch dân sự), do vậy Dự thảo BLDS (sửa đổi) không nên quy định nội dung này.

    Có nên quy định hình thức của hợp đồng?

    Về hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, theo khoản 1 Điều 525 Dự thảo BLDS (sửa đổi), hợp đồng về chuyển quyền sử dụng đất phải thỏa mãn hai yêu cầu: Bằng văn bản; phù hợp với quy định của bộ luật này, pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.

    Có một số ý kiến không đồng tình với yêu cầu thứ 2, bởi lẽ quy định này dường như can thiệp quá sâu vào quyền tự thỏa thuận và định đoạt của đương sự và dễ gây ra các cách hiểu sai lầm.

    Thực tế, các tranh chấp trong giao dịch dân sự liên quan đến hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất xảy ra khá phổ biến, nên các nhà làm luật cần phải giải thích cụ thể “thế nào là phù hợp”.

    Trong quá trình dự thảo BLDS (sửa đổi), đã có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề “có nên quy định hình thức của hợp đồng” và “mục đích của quy định này”? Bởi thực tế hiện nay, có rất nhiều giao dịch bị tòa án tuyên vô hiệu do vi phạm hình thức, trong đó có không ít trường hợp lợi dụng quy định của pháp luật để lật hợp đồng. Ngoài ra, sự chú trọng quá mức về hình thức hợp đồng (do pháp luật quy định) có thể sẽ vi phạm đến nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện thỏa thuận của các chủ thể.

    Ý kiến khác lại cho rằng quan hệ chuyển quyền sử dụng đất vốn rất phức tạp, nên cần phải tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch và chuẩn mực nhất có thể để trước tiên là bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia, thứ nữa là tăng cường sự quản lý, giám sát của Nhà nước, và công cụ đầu tiên mà các nhà lập pháp có thể sử dụng đó là quy định về hình thức của hợp đồng.

    Nhìn chung, luật hóa hình thức hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là điều cần thiết, nhưng nếu xây dựng như trong dự thảo BLDS (sửa đổi), thì dường như chưa thỏa mãn được mục tiêu này.

    Lý do là, mặc dù Dự thảo đã tách hình thức hợp đồng với trình tự, thủ tục hợp đồng, tuy nhiên sự tách bạch này chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu, lý luận. Còn với người dân, thì họ mong chờ một điều gì hơn thế, đó là sự dễ hiểu, dễ vận dụng.

    Đồng thời, mọi sự mù mờ trong pháp luật đều có nguy cơ trở thành sự hỗn loạn khi áp dụng trong thực tiễn, như trên đã phân tích, sự “phù hợp” với quy định pháp luật cần được giải thích cụ thể hơn, đặc biệt là phải có sự phân biệt giữa các khái niệm “hình thức hợp đồng”, “mẫu hợp đồng”, “điều khoản mẫu” trong hợp đồng.

    Do đó, hình thức hợp đồng không phải là mẫu hợp đồng, mà nó đơn giản chỉ là cách biểu hiện ra bên ngoài của sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể, cách biểu hiện đó có thể bằng lời nói, hành vi hoặc văn bản. Còn với “mẫu hợp đồng”, thì đó chỉ là một dạng văn bản dưới dạng tài liệu tham khảo, các bên có thể áp dụng, có thể không. Còn “điều khoản mẫu” thiên về nội dung hợp đồng, tương tự như mẫu hợp đồng, “điều khoản mẫu” có giá trị định hướng và tham khảo chứ không phải quy định bắt buộc.

    Do vậy, nếu quy định về hình thức, chỉ nên dừng ở quy định bằng “văn bản”. Trong trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác, thì có thể tham chiếu đến khoản 2 Điều 10 Dự thảo BLDS (sửa đổi).

    Bảo đảm 4 tiêu chí của hợp đồng

    Quyền chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng đất đã được quy định chi tiết trong pháp luật chuyên ngành, trong đó người sử dụng đất có các quyền năng tương ứng với căn cứ xác lập, mục đích sử dụng hay thời hạn sử dụng đất. Tuy nhiên, những đặc điểm pháp lý cơ bản của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, giúp người dân phân biệt hợp đồng này với các loại hợp đồng khác, lại chưa được đề cập đến trong mục này. Do vậy, pháp luật dân sự nên dành điều luật đầu tiên của mục 6 Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất quy định về các đặc điểm pháp lý cơ bản của hợp đồng này.

    Để bảo đảm hài hòa giữa những nguyên tắc chung và riêng khi giao kết các loại hợp đồng này, có thể xem xét sửa đổi, bổ sung Điều 523 dự thảo BLDS (sửa đổi) như sau:

    “Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ thể khác về việc chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, các quyền sử dụng đất khác trên cơ sở tuân thủ các quy định của Bộ luật này và pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, mục đích, thời hạn sử dụng đất, hình thức và các trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng”.

    Khi thiết lập giao dịch chuyển quyền sử dụng đất, đòi hỏi các chủ thể phải xác định được các nội dung, điều khoản cơ bản cần phải có để bảo đảm các tiêu chí: Điều kiện giao kết của hợp đồng; Bảo đảm khả năng thực hiện của hợp đồng; Thông tin về đối tượng hợp đồng; Cơ chế giải quyết tranh chấp.

    Pháp luật dân sự đã có quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói chung, nhưng hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất lại có thêm những điều kiện riêng. Do đó, khi các hợp đồng dân sự đặc thù được đưa vào dự thảo BLDS (sửa đổi), thì các điều kiện riêng để hợp đồng đó có hiệu lực nên được đưa vào.

    Với những giao dịch phổ biến, đặc thù, phức tạp, lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ tranh chấp như chuyển quyền sử dụng đất, pháp luật nên xây dựng các quy định cụ thể nhất có thể và giảm thiểu đến mức tối đa sự tham chiếu đến pháp luật chuyên ngành.

    Một yêu cầu nữa trong phần nội dung hợp đồng, đó là “khả năng thực hiện của hợp đồng”. Bảo đảm tiêu chí này, hợp đồng phải đưa ra các thông tin cần thiết: Chủ thể, đối tượng hợp đồng, giá cả,... Nếu không có các nội dung này, thì sẽ không có cơ sở để thực hiện hợp đồng.

    Đối tượng hợp đồng cũng là yếu tố không thể thiếu, nếu không có đối tượng, thì sẽ không thể xác định hợp đồng này xác lập để làm gì, đối tượng hợp đồng vừa là mục đích, vừa là động cơ để các chủ thể xác lập giao dịch với nhau.

    Tương tự đối với giá cả, theo người viết, giá cả cần được coi là đối tượng hợp đồng để tạo sự bình đẳng với các đối tượng khác. Khi giao kết hợp đồng, một bên hướng tới tiền, một bên hướng tới hàng (tài sản khác), như vậy mục đích của các chủ thể này là bình đẳng.

    Ngoài ra, việc quy định giá cả là điều khoản bắt buộc và là đối tượng hợp đồng còn có ý nghĩa về việc xác định nghĩa vụ tài chính với nhà nước và thuận tiện cho quá trình giải quyết tranh chấp và tính án phí (trong trường hợp xảy ra tranh chấp).

    Cơ chế giải quyết tranh chấp cũng cần được luật hóa để tạo sự minh bạch và thông thoáng cho các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất. Bởi cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai phức tạp hơn so với các giao dịch khác, không chỉ do tòa án giải quyết mà trong một số trường hợp còn giải quyết thông qua con đường hành chính hoặc thực hiện thủ tục hòa giải cơ sở bắt buộc tại UBND…

    Trên thực tế, các giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất hiện nay không đơn thuần chỉ có đất, mà còn có các tài sản gắn với đất (cây cối, nhà ở, văn phòng, kết cấu hạ tầng, nhà xưởng trong khu công nghiệp...). Trong khi đó quy chế pháp lý đối với tài sản gắn với đất có sự khác biệt cơ bản với quyền sử dụng đất bởi tính đặc thù về quyền sở hữu.

    Do vậy, dự thảo BLDS (sửa đổi) nên dành một khoản để quy định về giao dịch này trên cơ sở làm rõ các giao dịch về tài sản gắn liền với đất (mua bán tài sản gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất; mua bán tài sản gắn với đất thuê; cho thuê quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất...) và nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với những giao dịch này.
     

    LS. Nguyễn Thuỳ Trang

    Đoàn Luật sư TP Hà Nội

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)
  • #380590   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    8/ PHẠM VI NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

    Chúng tôi đề xuất giữ nguyên khoản 1, Điều 144 Bộ luật Dân sự (BLDS) hiện hành, đồng thời nên bỏ ra khỏi dự thảo quy định “trường hợp phạm vi quyền đại diện không được xác định cụ thể thì bên đại diện có quyền nhân danh bên được đại diện xác lập, thực hiện hành vi cần thiết, hợp lý trong quản lý tài sản, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền, lợi ích của bên được đại diện”.

    Tầm quan trọng của việc xác định phạm vi đại diện

    Trong giao dịch dân sự, chúng ta thường xuyên phải vận dụng cơ chế đại diện, tức là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Khi giao dịch được xác lập, thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện thì người được đại diện chịu sự ràng buộc của giao dịch. Ngược lại, nếu giao dịch được xác lập, thực hiện ngoài phạm vi đại diện thì, về nguyên tắc, người được đại diện không chịu ràng buộc bởi giao dịch được xác lập, thực hiện trên danh nghĩa của họ. Chính vì vậy, việc xác định phạm vi đại diện của người đại diện rất quan trọng trong thực tế đời sống.

    Nếu là đại diện theo ủy quyền (như A ủy quyền cho B bán tài sản của mình cho người thứ ba), phạm vi đại diện được xác định theo ủy quyền và khi có khó khăn thì chỉ cần giải thích việc ủy quyền. Còn nếu là đại diện theo pháp luật (tức đại diện theo quy định của pháp luật như đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hay quyết định của cơ quan có thẩm quyền như quyết định của Tòa án đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự), chúng ta phải dựa vào quy định của pháp luật và bài viết này chỉ tập trung vào xác định phạm vi đại diện theo pháp luật. Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta cùng nhau nghiên cứu một vụ việc đã gặp phải trong thực tiễn xét xử Việt Nam.

    Cụ thể, trong Điều lệ của Công ty TL có nội dung “tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của công ty trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Công ty này có người đại diện theo pháp luật là Tổng Giám đốc và Tổng Giám đốc công ty TL đã xác lập hợp đồng với một công ty khác của Việt Nam. Trong hợp đồng mà người đại diện theo pháp luật của Công ty TL xác lập có thỏa thuận chọn Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam khi có tranh chấp. Thực tế, các bên có tranh chấp và bên đối tác kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam nhưng Công ty TL không đồng ý với lý do “việc Tổng giám đốc Công ty TL ký thỏa thuận chọn Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam tại Điều 13.3 của hợp đồng bán lẻ là vượt quá thẩm quyền và cho rằng thỏa thuận trọng tài này bị vô hiệu” (về vụ việc này, xem thêm Đỗ Văn Đại: Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb. CTQG 2013 (tái bản lần thứ tư), Bản án số 21-24).

    Sự khác nhau giữa Bộ luật dân sự và dự thảo

    Về vấn đề đang được quan tâm, đối với BLDS hiện hành, chúng ta có quy định tại khoản 1 Điều 144 theo đó: “Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.Như vậy, để biết người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện một giao dịch nhất định hay không (như trong ví dụ trên là Tổng Giám đốc Công ty TL có được ký thỏa thuận trọng tài hay không), chúng ta xem có “pháp luật có quy định khác” hay không. Nếu pháp luật không có quy định khác thì được suy luận rằng giao dịch này thuộc phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật. Trong ví dụ nêu trên, không có quy định nào của pháp luật không cho phép đại diện của Công ty TL xác lập thỏa thuận trọng tài và điều lệ của công ty nêu trên không là quy định của “pháp luật”. Do đó, Tổng Giám đốc có quyền đại diện công ty xác lập thỏa thuận trọng tài và thực tế, Tòa án Nhân dân TPHCM đã theo hướng này khi Công ty TL khiếu nại ra Tòa án nhân dân TPHCM. Cụ thể: Tòa án cho rằng lập luận của Công ty TL “là không có cơ sở. Vì Điều lệ của Công ty TL là quy định nội bộ của công ty. Khi công ty quan hệ với đối tác là Công ty S. Việt Nam, Tổng Giám đốc kiêm đại diện theo pháp luật của Công ty TL đã tự nguyện chọn Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam giải quyết tranh chấp, thỏa thuận này phù hợp với khoản 3, Điều 317 Luật Thương mại, phù hợp với Điều 9 Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Điều 16 Luật Trọng tài thương mại”.

    Đối với vấn đề nêu trên, dự thảo sửa đổi BLDS có quy định khác, sẽ kéo theo những hệ quả khác. Cụ thể, theo Điều 156 dự thảo về Phạm vi quyền đại diện, “phạm vi quyền đại diện được xác định theo nội dung ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật” và "trường hợp phạm vi quyền đại diện không được xác định cụ thể thì bên đại diện có quyền nhân danh bên được đại diện xác lập, thực hiện hành vi cần thiết, hợp lý trong quản lý tài sản, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền, lợi ích của bên được đại diện”. Nếu quy định này của dự thảo được thông qua, chúng ta phải xem xét thỏa thuận chọn trọng tài nêu trên có “cần thiết, hợp lý trong quản lý tài sản, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền, lợi ích của” Công ty TL hay không.

    Hạn chế của dự thảo và đôi điều đề xuất

    Hướng như dự thảo nêu trên là không thuyết phục vì không tạo an toàn pháp lý trong giao lưu dân sự. Làm sao để người thứ ba (như trong vụ việc nêu trên là Công ty S. Việt Nam) biết được thỏa thuận trọng tài trên có “cần thiết, hợp lý trong quản lý tài sản, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền, lợi ích của” Công ty TL hay không trong khi điều lệ lại quy định là giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Hơn nữa, đối tác của Công ty TL không phải lúc nào cũng biết được điều lệ của Công ty TL để biết rằng công ty này giới hạn thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật. Với hướng của dự thảo, rủi ro sẽ đè nặng vào đối tác của công ty trong khi đó điều lệ có thể được thay đổi ở bất kỳ thời điểm nào và thật khó cho đối tác mỗi lần làm việc với Công ty TL lại phải nghiên cứu toàn bộ điều lệ của công ty, điều không khả thi trong giao lưu dân sự.

    Hướng của dự thảo cũng không phù hợp với xu hướng trên thế giới về đại diện. Từ năm 1968, một chỉ thị của châu Âu đã theo hướng công ty chịu sự ràng buộc của giao dịch do cơ quan của mình xác lập ngay cả khi giao dịch này vượt quá phạm vi mục đích hoạt động của công ty. Ở Pháp, để bảo vệ cho người thứ ba, án lệ Pháp đã phải can thiệp để cho rằng “trong mối quan hệ với người thứ ba, công ty chịu sự ràng buộc của giao dịch do chủ tịch hội đồng quản trị xác lập cho dù không phù hợp với mục đích hoạt động của công ty, trừ trường hợp người thứ ba đã biết hoặc đã phải biết giao dịch đó vượt quá mục đích hoạt động” (CA Orléans, ch. com., 24 nov. 2011, n° 10/03266). Ở đây, chúng ta thấy họ hướng tới bảo vệ người thứ ba rất triệt để.

    Nếu dùng phương pháp so sánh thì pháp luật nước ngoài nêu trên bảo vệ người thứ ba tốt hơn BLDS hiện hành của chúng ta và BLDS hiện hành của chúng ta bảo vệ người thứ ba tốt hơn dự thảo sửa đổi BLDS. Điều đó có nghĩa là chúng ta hiện nay đã kém hơn thiên hạ và dự thảo có nguy cơ làm cho tình hình còn kém hơn nữa.

    Từ những phân tích trên, chúng ta thấy việc dự thảo sửa đổi BLDS sẽ làm cho tình hình “tồi tệ hơn” so với BLDS. Đã có quá nhiều giao dịch bị vô hiệu hóa xuất phát từ quy định về đại diện, đã có quá nhiều phán quyết trọng tài bị hủy hay không được công nhận xuất phát từ quy định về đại diện trong BLDS hiện hành.

    Với kinh nghiệm từ khi làm Trọng tài viên đã giải quyết nhiều tranh chấp và Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học pháp lý của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (nơi giải quyết rất nhiều tranh chấp về giao dịch được xác lập thông qua đại diện), tôi cho rằng quy định mới sẽ là “cái bẫy nguy hiểm” đối với người ngay tình và sẽ là công cụ hữu hiệu cho người có “tà tâm” đi “lừa” người khác thông qua các quy định mang tính “nội bộ” như tòa án đã nêu trong vụ việc trên.

    Nói cách khác, nếu chúng ta thay đổi về cách xác định phạm vi đại diện như dự thảo nêu trên thì tình hình có nguy cơ tồi tệ hơn so với BLDS hiện hành đối với sự an toàn pháp lý trong giao lưu dân sự.

    Do đó, chúng tôi đề xuất giữ nguyên khoản 1 Điều 144 BLDS hiện hành (nêu trên) vì điều khoản này đã phát huy ưu điểm như vụ việc nêu trên đã cho thấy. Đồng thời chúng ta nên bỏ ra khỏi dự thảo quy định “trường hợp phạm vi quyền đại diện không được xác định cụ thể thì bên đại diện có quyền nhân danh bên được đại diện xác lập, thực hiện hành vi cần thiết, hợp lý trong quản lý tài sản, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền, lợi ích của bên được đại diện”. Điều đó có nghĩa là, thay vào vị trí của quy định này trong dự thảo, chúng ta lấy lại quy định cũ theo đó “Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

    PGS. TS. Đỗ Văn Đại

    Trưởng Khoa Luật Dân sự - ĐH Luật TPHCM

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015)
  • #380592   23/04/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    9/ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

    Trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi, nội dung "Hợp đồng vay tài sản" có thay đổi một số chi tiết về nghĩa vụ trả nợ của người vay, mức lãi suất và nội dung thực hiện hợp đồng.

    Khoản 5 Điều 489 Dự thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) sửa đổi quy định nghĩa vụ của người vay chậm trả đối với loại vay có lãi và có thời hạn thì người vay phải trả phần quá hạn là 150% lãi suất vay theo hợp đồng, thay vì theo lãi suất cơ bản của ngân hàng như trước (khoản 5 điều 474 BLDS năm 2005).

    Về lãi suất, theo khoản 3 Điều 491 Dự thảo BLDS sửa đổi, mức lãi suất thỏa thuận tối đa đã nâng lên 200% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước đối với loại vay tương ứng so với quy định hiện hành là 150% (khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005).

    Về nội dung trả lại tài sản vay trước kỳ hạn đối với loại hợp đồng có kỳ hạn và có lãi, tại khoản 2 Điều 493 Dự thảo BLDS sửa đổi quy định bên vay có nghĩa vụ trả lãi với mức hợp lý, thay vì phải trả lãi toàn bộ theo kỳ hạn (nếu không có thỏa thuận khác) như luật hiện hành (khoản 2 Điều 478 BLDS năm 2005)

    Nghiên cứu nội hàm 3 nội dung điều khoản nêu trên có thể thấy Dự thảo BLDS sửa đổi có nhiều điểm điều chỉnh thích ứng hơn với thực tiễn giao dịch vay tài sản trong xã hội, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ, bảo đảm cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách công bằng hơn so với quy định hiện hành.

    Tuy nhiên, tìm hiểu sâu hơn những khía cạnh pháp lý trong Dự thảo BLDS sửa đổi, có 2 vấn đề cần xem xét.

    Xác định về tranh chấp lãi

    Theo khoản 2 Điều 476 BLDS 2005 thì: Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

    Còn khoản 1 Điều 491 Dự thảo BLDS sửa đổi quy định: Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất thì lãi suất được xác định theo lãi suất luật định, nếu không có lãi suất luật định thì coi như hợp đồng vay không có lãi, trừ trường hợp luật có quy định khác.

    Ở nội dung mới, Dự thảo BLDS sửa đổi quy định dẫn chiếu áp dụng Luật khác mang tính chung chung, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra sự rắc rối trong quá trình giải quyết tranh chấp khi có phát sinh, cuối cùng lại quy vào chế định vay không có lãi. Đây là điều bất hợp lý, gây thiệt cho người có tài sản cho vay và tạo kẽ hở cho những người vay có ý thức gian dối lợi dụng làm lợi cho mình.

    Thiết nghĩ, trong trường hợp này (tranh chấp về lãi mà không xác định được mức lãi suất), điều luật nên quy ước chung là áp dụng mức lãi suất 150% so với lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là phù hợp. Quy định như vậy sẽ dung hòa được quyền lợi và nghĩa vụ cho các bên tham gia khi có phát sinh tranh chấp.

    Trả lại tài sản vay trước kỳ hạn trong hợp đồng

    Theo khoản 2 Điều 478 BLDS 2005 thì: Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác.

    Quy định như trên là chưa hợp lý (vì phải trả lãi phần thời gian không sử dụng vốn vay), cần phải điều chỉnh là đúng. Tuy nhiên với quy định: Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn đồng thời có nghĩa vụ trả lãi với mức hợp lý (khoản 2 Điều 493 Dự thảo BLDS sửa đổi) thì lại là một chế định cũng không rõ ràng, dễ khiến dẫn đến tình trạng... tùy nghi áp dụng trong thực tiễn.

    Trong thực tế, các tổ chức tín dụng đã áp dụng hình thức “thu lệ phí trả nợ trước hạn” với một tỷ lệ nhất định trên số vốn đối với số tiền khách hàng vay trả trước kỳ hạn. Có thể đây là cơ sở thực tiễn để các chuyên gia soạn thảo đưa ra chế định nêu trên.

    Có thể nói với hình thức “thu lệ phí trả nợ trước hạn” mà các tổ chức tín dụng đã thực hiện là hợp lý, do đó nên quy định một tỷ lệ nhất định trên mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận vào khoản 2 Điều 493 Dự thảo BLDS sửa đổi và xem đó như là một biện pháp bảo đảm giá trị của khoản tài sản trong thời gian tương ứng mà người vay phải chịu khi trả trước kỳ hạn.

    Trên đây là hai vấn đề cần làm sáng tỏ thêm những cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc góp ý xây dựng BLDS sửa đổi.

    LS Đoàn Công Thiện
    Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang

    (Theo www.chinhphu.vn)

     

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    vbi (01/05/2015) kimkim8450 (28/09/2016)
  • #382379   08/05/2015

    honhu
    honhu
    Top 75
    Female
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (739)
    Số điểm: 28578
    Cảm ơn: 85
    Được cảm ơn 749 lần


    10/ Những hợp đồng nằm ngoài hệ thống luật sẽ không còn?!

    Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong phần về thực hiện hợp đồng” là một trong những qui định mới của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) nên vẫn còn những băn khoăn về tính khả thi và cần thiết.

    Giữ quan hệ hợp đồng nhưng loại trừ bất công

    Dẫn hai vụ việc đã gặp phải trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam (một vụ việc tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam-VIAC và một vụ việc tại TAND) liên quan đến nhu cầu thay đổi giá đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, PGS.TS.Đỗ Văn Đại, Trưởng Khoa Luật Dân sự - Đại học Luật TP.HCM, Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam cho rằng, điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi là trường hợp xuất hiện những sự kiện không lường trước được, không làm cho hợp đồng không thể thực hiện được, nhưng khi thực hiện thì bên phải thực hiện sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với dự tính hay bên nhận thực hiện có được giá trị thấp hơn rất nhiều so với dự tính. Nghĩa là, “Hợp đồng vẫn có thể thực hiện nhưng bất công bằng xuất hiện với một bên và có lợi cho bên còn lại”.

    Vậy nên, quy định cho phép điều chỉnh lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi là cần thiết để loại bỏ bất công bằng giữa các bên, có tiền lệ và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Việt Nam, đồng thời tương thích với xu hướng chung của thế giới hiện nay. 

    PGS.TS.Đỗ Văn Đại khẳng định hiện nay chưa có quy định mang tính khái quát cho việc điều chỉnh lại các hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi. Do đó, nếu theo đúng nguyên tắc, các bên phải tuân thủ hợp đồng như đã giao kết và  bất công bằng sẽ xuất hiện. Nếu cho phép điều chỉnh lại hợp đồng (tức không buộc thực hiện hợp đồng như đang tồn tại trước việc thay đổi hoàn cảnh bằng cách thay đổi hợp đồng hay chấm dứt hợp đồng như Dự thảo đang quy định sẽ loại trừ được bất công bằng và có thể vẫn duy trì được quan hệ hợp đồng giữa các bên nếu hợp đồng được điều chỉnh lại.

    Thực tế, PGS.TS.Đỗ Văn Đại nhận thấy, đối với trường hợp chưa có văn bản cho phép điều chỉnh lại hợp đồng, Tòa án cũng đã tự tiến hành điều chỉnh lại hợp đồng khi các bên có tranh chấp. Đây chính là cơ sở thực tiễn để xem xét bổ sung qui định điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong Dự thảo BLDS (sửa đổi).

    “Phù hợp với nguyên tắc thiện chí” cũng là một nguyên nhân để PGS.TS.Đỗ Văn Đại khẳng định sự cần thiết của qui định này. Phân tích cụ thể, ông cho biết bên cạnh nguyên tắc tuân thủ hợp đồng thì còn nguyên tắc khác cho phép điều chỉnh lại hợp đồng. Đó là nguyên tắc thiện chí trong quan hệ dân sự đã được kế thừa qua các BLDS đến Dự thảo BLDS (sửa đổi).

    Lược qui định “thừa” để qui định cô đọng

    Tuy nhiên, ông Đại cho rằng việc Dự thảo đang “bỏ quên” Trọng tài khi điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi “sẽ dẫn tới bất cập trong quá trình vận dụng khi các bên có thỏa thuận trọng tài”. Vì thế, cần bổ sung Trọng tài trong trường hợp liên quan đến việc điều chỉnh lại hợp đồng. Để cùng với Tòa án, Trọng tài sẽ xác định có tồn tại sự thay đổi hoàn cảnh hay không và nếu có sự thay đổi hoàn cảnh, cách thức điều chỉnh hợp đồng như thế nào cho thỏa mãn “lẽ công bằng” nếu các chủ thể không quyết định chấm dứt hợp đồng.

    Bên cạnh đó, trong Dự thảo hướng các bên tới đàm phán, thương lượng đồng thời đưa ra quy định trong trường hợp việc đàm phán, thương lượng bất thành. Song, thực ra quy định như vậy là “thừa” vì “trách nhiệm dân sự của một bên từ chối thương lượng hay chấm dứt thương lượng một cách không thiện chí có thể được triển khai thông qua việc áp dụng các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng” – ông Đại phân tích.

    Hơn nữa, “chừng nào hợp đồng chưa được điều chỉnh lại hay chưa bị Tòa án (Trọng tài) cho chấm dứt thì hợp đồng vẫn có hiệu lực thực hiện giữa các bên” nên các bên phải thực hiện cho dù các bên tiến hành thương lượng hợp đồng. Vì vậy và trên cơ sở kinh nghiệm nước ngoài nêu trên, PGS.TS. Đỗ Văn Đại đề xuất bổ sung vào Dự thảo quy định theo đó “các bên tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình trong quá trình thỏa thuận điều chỉnh hợp đồng”./.

    Phương An

    (Theo baophapluat.vn)

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    kimkim8450 (28/09/2016)

0 Thành viên đang online
-