DanLuat 2015

Toàn văn điểm mới Bộ luật Hình sự sửa đổi 2017

Chủ đề   RSS   
  • #460227 07/07/2017

    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3082)
    Số điểm: 63053
    Cảm ơn: 576
    Được cảm ơn 4080 lần


    Toàn văn điểm mới Bộ luật Hình sự sửa đổi 2017

    >>> Văn bản hợp nhất Bộ luật hình sự mới nhất 2017 

    Chào các bạn, nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu và áp dụng Bộ luật hình sự 2015, sau đây, là bảng so sánh những thay đổi tại Bộ luật hình sự 2015 và Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2015:

    PHẦN 1: SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MANG TÍNH KỸ THUẬT LẬP PHÁP

    STT

    Nội dung

    Bộ luật hình sự 2015

    Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 2015

    1

     

    Nguyên tắc xử lý người phạm tội

    (Điểm d Khoản 1 Điều 3)

     

    Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

     

    Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

    2

    Nguyên tắc xử lý pháp nhân phạm tội

    (Điểm d Khoản 2 Điều 3)

    Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

    Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra

    3

    Phân loại tội phạm

    Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

    1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

    2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

    3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

    4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

    a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

    b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

    c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

    d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

    4

    Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    (Khoản 2 Điều 12)

    2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

    a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

    b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

    c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

    d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

    đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

    e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

    Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

    => Bỏ quy định xử phạt tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

    5

    Chuẩn bị phạm tội

    (Điều 14)

    1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

    2. Người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự:

    a) Điều 108 (tội phản bội Tổ quốc); Điều 110 (tội gián điệp); Điều 111 (tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (tội bạo loạn); Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (tội phá rối an ninh); Điều 119 (tội chống phá cơ sở giam giữ); Điều 120 (tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 121 (tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);

    b) Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);

    c) Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản);

    d) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền).

    3. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

    1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

    2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

    => Thêm tội bị xử lý trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, đó là Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội (Điều 115); Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116) và Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 2017)

    3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự

     

     

     

    6

    Không tố giác tội phạm

    (Điều 19)

     

    1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

    2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

    3. Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

    1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

    2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa

    7

    Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

    (Khoản 1 Điều 51)

    s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

    t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

    x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

    s) Người phạm tội thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải;

    t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

    ...

    x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

    8

    Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

    (Khoản 3 Điều 54)

    3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

    3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”.

    9

    Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án

    (Điều 61)

    Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này.

    Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, khoản 3 và khoản 4 Điều 353, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này

    => Điều 353 quy định tội tham ô tài sản và Điều 354 quy định tội nhận hối lộ

    10

     

    Tha tù trước thời hạn có điều kiện

    (Khoản 1, 2 Điều 66)

    1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Phạm tội lần đầu;

    b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

    c) Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;

    d) Có nơi cư trú rõ ràng;

    đ) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự;

    e) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

    Trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì thời gian đã chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn;

    g) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bố; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy;

    b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.

     

    1. Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Phạm tội lần đầu;

    b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

    c) Có nơi cư trú rõ ràng;

    d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

    đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

    Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

    e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;

    b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.

    11

    Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

    (Điều 71)

    1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

    Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án.

    2. Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

    a) 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;

    b) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

    c) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

    Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản này thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

    3. Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

    4. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích.

    1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

    a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

    b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

    c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

    d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

    Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

    3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.

    (Còn nữa...)

     
    86323 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

2 Trang <12
Thảo luận
  • #461667   18/07/2017

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3082)
    Số điểm: 63053
    Cảm ơn: 576
    Được cảm ơn 4080 lần


    31

    Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng

    (Khỏan 1, 3 Điều 223)

    1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm thất thoát tiền thuế phải nộp từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    b) Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế không đúng quy định Luật quản lý thuế và quy định khác của pháp luật về thuế.

    3. Phạm tội gây thất thoát tiền thuế từ 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm

    1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm thất thoát tiền thuế phải nộp từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    b) Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế không đúng quy định của Luật quản lý thuế và quy định khác của pháp luật về thuế.

    3. Phạm tội gây thất thoát tiền thuế 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

    32

    Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật

    (Khoản 1 Điều 241)

     

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm:

    33

    Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên

    (Khoản 1, 2 Điều 245)

    1. Người nào vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    b) Gây thiệt hại đến cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo tồn nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên có tổng diện tích từ 500 mét vuông (m2) trở lên;

    1. Người nào vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    b) Gây thiệt hại đến cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên có tổng diện tích 500 mét vuông (m2) trở lên;

    34

    Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy

    (Khoản 1 Điều 247)

    1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

     

    35

    Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

    (Khoản 2 Điều 254)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    đ) Vận chuyển với số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên;

    e) Vận chuyển qua biên giới;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    đ) Có số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên;

    e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

     

     

    36

    Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật

    (Khoản 1 Điều 285)

    1. Người nào sản xuất, mua bán, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục đích trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

     

    1. Người nào sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục đích trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

    37

    Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

    (Khoản 3 Điều 287)

     

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

    b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin, giao dịch tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

    b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;

     

    38

    Tội chứa mại dâm

    (Khoản 2, 3 Điều 237)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm từ 11% đến 45%;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

    c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm 46% trở lên.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

    c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

    39

    Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước

    (Khoản 2 Điều 338)

    2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    b) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    b) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

    40

    Tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

    (Khoản 2 Điều 342)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

    c) Thực hiện hành vi trái pháp luật;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

    c) Để Thực hiện hành vi trái pháp luật;

    (Còn nữa...)

     
    Báo quản trị |  
  • #461668   18/07/2017

    Theo bác sau lần sửa đổi này có được áp dụng vào thực tế luôn không?

     
    Báo quản trị |  
  • #461673   18/07/2017

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3082)
    Số điểm: 63053
    Cảm ơn: 576
    Được cảm ơn 4080 lần


    41

    Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới

    (Khoản 2, 3 Điều 346)

    2. Tái phạm hoặc phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm cư trú từ một 01 năm đến 05 năm.

     

    2. Tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm cư trú từ  01 năm đến 05 năm.

     

    42

    Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

    (Khoản 2, 3 Điều 350)

    2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

    3. Phạm tội trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

    43

    Tội tham ô tài sản

    (Khoản 2 Điều 353)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

    44

    Tội nhận hối lộ

    (Khoản 2 Điều 354)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

    45

    Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

    (Khoản 2 Điều 355)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

    đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

    đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

     

    46

    Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

    (Khoản 1 Điều 356)

     

    1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    47

    Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

    (Khoản 1 Điều 357)

    1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

    1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

    48

    Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi

    (Khoản 1, 2 Điều 358)

    1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây dưới mọi hình thức để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ 01 đến 06 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng.

    1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây dưới mọi hình thức để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.

    49

    Tội giả mạo trong công tác

    (Khoản 3, 4 Điều 359)

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 05 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả;

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

    a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 11 giấy tờ giả trở lên;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 06 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả;

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

    a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng 11 giấy tờ giả trở lên;

    50

    Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác

    (Khoản 1, 2 Điều 362)

    1. Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 338 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

    1. Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 338 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

    51

    Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

    (Khoản 2, 3 Điều 368)

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

    c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

    c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    52

    Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

    (Khoản 3 Điều 369)

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

    a) Đối với 05 người trở lên;

    b) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

    a) Đối với 06 người trở lên;

    b) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

    53

    Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật

    (Khoản 3 Điều 372)

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    a) Dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    a) Dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội;

    ...

    54

    Tội bức cung

    (Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 374)

    1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, hỏi cung;

    e) Làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

    b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung;

    e) Dẫn đến Làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

     

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

    b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    55

    Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù

    (Khoản 1, 2 Điều 378)

     

    1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    c) Người được tha trái pháp luật trả thù người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;

    1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    c) Người được tha trái pháp luật trả thù người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;

     

    56

    Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối

    (Khoản 3 Điều 382)

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    b) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.

    ….

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    b) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội.

    57

    Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu

    (Khoản 1 Điều 383)

     

    1. Người làm chứng nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật từ chối khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

    1. Người làm chứng nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật từ chối khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

     

    58

    Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu

    (Khoản 1 Điều 384)

     

    1. Người nào mua chuộc hoặc cưỡng ép người làm chứng, người bị hại, đương sự trong các vụ án hình sự, hành chính, dân sự, kinh tế, lao động khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc không khai báo, không cung cấp tài liệu; mua chuộc hoặc cưỡng ép người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối, người phiên dịch, người dịch thuật dịch xuyên tạc, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

    1. Người nào mua chuộc hoặc cưỡng ép người làm chứng, người bị hại, đương sự trong các vụ án hình sự, hành chính, dân sự khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc không khai báo, không cung cấp tài liệu; mua chuộc hoặc cưỡng ép người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối, người phiên dịch, người dịch thuật dịch xuyên tạc, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

    59

    Tội làm nhục đồng đội

    (Khoản 2 Điều 397)

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    60

    Tội hành hung đồng đội

    (Khoản 1 Điều 398)

    1. Người nào trong quan hệ công tác mà cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của đồng đội mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

    1. Người nào trong quan hệ công tác mà cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của đồng đội mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 134 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

    61

    Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm

    (Khoản 1 Điều 419)

    1. Người nào trong chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường mà chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

     

    1. Người nào trong chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường mà chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

    62

    Hiệu lực thi hành

    (Điều 426)

    Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

     

    Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.

     

    (Hết)

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn nguyenanh1292 vì bài viết hữu ích
    coca11 (18/07/2017) kevindoanpy (20/07/2017) nguyennhatcuong82 (08/01/2018)
  • #461678   18/07/2017

    coca11
    coca11

    Sơ sinh


    Tham gia:18/07/2017
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 50
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 4 lần


    Bạn có file .doc không chia sẻ cho mọi người với, cám ơn bạn nhiều.

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn coca11 vì bài viết hữu ích
    nguyenanh1292 (18/07/2017) PhuongThanhksqs (08/05/2018) vietsonla (16/08/2017)
  • #461679   18/07/2017

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3082)
    Số điểm: 63053
    Cảm ơn: 576
    Được cảm ơn 4080 lần


    Tải file toàn văn điểm mới Bộ luật hình sự sửa đổi 2017

    Chào các bạn, để mọi người thuận tiện theo dõi, cập nhật, mình đính file word bên dưới, mọi người có thể tải về xem. Rất mong sự đóng góp ý kiến của mọi người. Chân thành cám ơn! 

     
    Báo quản trị |  
  • #461680   18/07/2017

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3082)
    Số điểm: 63053
    Cảm ơn: 576
    Được cảm ơn 4080 lần


    coca11 viết:

    Bạn có file .doc không chia sẻ cho mọi người với, cám ơn bạn nhiều.

    Mình vừa đính kèm đó, bạn xem coca11 nha. 

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguyenanh1292 vì bài viết hữu ích
    coca11 (18/07/2017)
  • #461685   18/07/2017

    coca11
    coca11

    Sơ sinh


    Tham gia:18/07/2017
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 50
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 4 lần


    cảm ơn bạn nhiều nhé

     
    Báo quản trị |  
  • #462598   27/07/2017

    trang_u
    trang_u
    Top 25
    Female
    Đại học

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2015
    Tổng số bài viết (2972)
    Số điểm: 39544
    Cảm ơn: 1413
    Được cảm ơn 1588 lần


    Tài liệu giới thiệu nội dung Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự 2017 của VKSNDTC

    Chào mọi người, mình xin góp thêm tài liệu để mọi người cùng tham khảo để thực hiện Bộ luật hình sự mới nhất nhé:

    I. NHỮNG NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT SỐ 12/2017/QH14

    1. Một số quy định chung

    1.1. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 - Nguyên tắc xử lý và Điều 51 - Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của BLHS năm 2015 (khoản 1 và khoản 6 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    1.1.1. Về Điều 3 - Nguyên tắc xử lý

    - BLHS năm 1999 chỉ quy định nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội, trong đó không quy định nguyên tắc khoan hồng đối với người đầu thú, cụ thể: Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” (khoản 2 Điều 3).

    - BLHS năm 2015 bổ sung nguyên tắc khoan hồng đối với người đầu thú khi quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội, cụ thể: Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;” (điểm d khoản 1 Điều 3).

    Đồng thời, bổ sung nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội, trong đó có nguyên tắc: “Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra (điểm d khoản 2 Điều 3).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 3 và điểm d khoản 2 Điều 3 của BLHS năm 2015 như sau:

     “Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra(điểm a khoản 1 Điều 1).

    “Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra” (điểm b khoản 1 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) và Luật phòng, chống tham nhũng thì ngoài cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án), còn các cơ quan khác có trách nhiệm phát hiện tội phạm và vi phạm pháp luật như Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước… Nếu cá nhân và pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với các cơ quan này thì cũng cần có chính sách khoan hồng, khuyến khích họ, góp phần phát hiện, xử lý nhanh chóng tội phạm. Việc sửa đổi như trên bảo đảm quy định thống nhất giữa cá nhân phạm tội với pháp nhân thương mại phạm tội về nguyên tắc xử lý.

    1.1.2. Về Điều 51 - Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

    a) - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều quy định tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm” (điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS 2015).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung tình tiết trên như sau “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (điểm a khoản 6 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm đảm bảo phù hợp, thống nhất về nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14.

    b) - BLHS năm 1999 quy định tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm p khoản 1 Điều 46).

    - BLHS năm 2015 đã tách tình tiết nêu trên để quy định thành 02 tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” (điểm s khoản 1 Điều 51).

    - Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi tình tiết giảm nhẹ này theo hướng giữ như quy định của BLHS năm 1999 “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

    - Lý do sửa đổi: việc tách thành 02 tình tiết giảm nhẹ như quy định tại điểm s khoản 1 BLHS năm 2015 là không hợp lý, vì “ăn năn hối cải” không thể là một tình tiết giảm nhẹ độc lập. Việc “ăn năn hối cải” là thái độ, trạng thái tâm lý, không thể hiện hành vi, hoạt động cụ thể của người phạm tội, do đó cần phải gắn liền với “thành khẩn khai báo” mới đủ yếu tố để trở thành 01 tình tiết giảm nhẹ.

    c) - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng” (điểm x khoản 1 Điều 51)

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi như sau: “Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ” (điểm b khoản 6 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi: quy định như điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 dẫn đến cách hiểu quy định này chỉ áp dụng đối với thân nhân liệt sỹ và thân nhân người có công với cách mạng, còn người có công với cách mạng không được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Do đó Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi để bảo đảm tính bao quát, dễ hiểu; đồng thời phù hợp với quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

    1.2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 14 - Chuẩn bị phạm tội của BLHS năm 2015 (khoản 4 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 quy định về khái niệm chuẩn bị phạm tội như sau: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm” (Điều 17).

    - BLHS năm 2015 mở rộng khái niệm chuẩn bị phạm tội, bổ sung hành vi “thành lp, tham gia nhóm ti phm” và có loại trừ các hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm đã cấu thành tội độc lập như: Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113, điểm a khoản 2 Điều 299, cụ thể: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này(khoản 1 Điều 14).

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung cụm từ “thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm” trước cụm từ quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này”, cụ thể: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này” (khoản 4 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: quy định cho rõ ràng hơn.

    1.3. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 - Không tố giác tội phạm của BLHS năm 2015 (khoản 5 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS các năm 1985, 1999 đều quy định về nghĩa vụ tố giác tội phạm của công dân và trách nhiệm hình sự của công dân về hành vi không tố giác tội phạm (Điều 19 BLHS năm 1985, Điều 22 BLHS năm 1999), trong đó trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của người bào chữa được xác định như mọi công dân khác và được điều chỉnh chung trong quy định  “Người nào” của BLHS năm 1985 và năm 1999.

    - BLHS năm 2015: trên cơ sở cân nhắc đặc thù của hoạt động bào chữa, mối quan hệ giữa người bào chữa với người được bào chữa nên BLHS năm 2015 đã có sự điều chỉnh hợp lý hơn chính sách này theo hướng thu hẹp một phần phạm vi trách nhiệm hình sự của người bào chữa so với công dân khác trong việc không tố giác tội phạm. Theo đó, khoản 3 Điều 19 quy địnhNgười bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này”.

    - Luật số 12/2017/QH14 có sự sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 19 như sau: Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung:

    + Trong quá trình xây dựng Luật số 12/2017/QH14, Ban thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị phương án: chỉ quy định trách nhiệm hình sự của người bào chữa trong trường hợp “không tiết lộ thông tin về tội phạm do chính người mà mình bào chữa thực hiện đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc), Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 112 (Tội bạo loạn), Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và Điều 123 (Tội giết người) khi có căn cứ rõ ràng cho thấy tội phạm đó đang thực hiện hoặc đang chuẩn bị thực hiện mà cần thiết phải ngăn chặn hậu quả xảy ra”.

    + Tham khảo kinh nghiệm của một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Đức, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha... cho thấy: các nước đều quy định trong những trường hợp nhất định luật sư được tiết lộ thông tin về thân chủ của mình trong quá trình hành nghề để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của xã hội, cộng đồng nhằm ngăn chặn hậu quả của tội phạm.

    Do đây là vấn đề được nhiều Đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội quan tâm nên sau khi báo cáo cơ quan có thẩm quyền, cân nhắc kỹ nhiều mặt, Quốc hội đã tiếp thu một phần ý kiến của  Đại biểu Quốc hội, của Ban thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam để chỉnh lý khoản 3 Điều 19 của BLHS 2015 theo hướng quy định chặt chẽ hơn điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm, cụ thể: chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp người bào chữa không tố giác các tội quy định tại Chương XIII hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

    1.4. Sửa đổi, bổ sung Điều 29 - Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự của BLHS năm 2015 (điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999 quy định Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 25).

    - BLHS năm 2015 bỏ cụm từ “Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác”, cụ thể: “Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận” (điểm c khoản 2 Điều 29).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 29 theo hướng lấy lại quy định của BLHS năm 1999, bổ sung cụm từ “Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác” vào đầu điểm này, cụ thể: Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận” (điểm a khoản 1 Điều 2).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 25 của BLHS năm 1999 để bảo đảm chặt chẽ.

    b) - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 bổ sung quy định: Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 29).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 29 như sau: “Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự(điểm a khoản 1 Điều 2).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung:

    + Thay thế cụm từ “Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý” bằng cụm từ “Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng”: Trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác thì không phụ thuộc vào lỗi cố ý hay lỗi vô ý, nếu được người bị hại hoặc đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Quy định này là phù hợp với Điều 155 của BLTTHS về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Tuy nhiên, cách quy định như BLHS năm 2015 có thể dẫn đến trường hợp hiểu khác nhau, không phân biệt được trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng có cần phải do lỗi vô ý hay không. Do vậy, Luật số 12/2017/QH14 đã có sự sửa đổi phù hợp để tạo sự thống nhất trong cách hiểu.

    + Bổ sung cụm từ “, đã t nguyn sa cha, bi thường thit hi hoc khc phc hu qu vào sau cụm từ “tài sn ca người khác”: quy định chặt chẽ hơn về căn cứ để người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nhằm tránh miễn trách nhiệm hình sự một cách tràn lan, phù hợp hơn với thực tiễn.

    1.5. Sửa đổi, bổ sung Điều 61 - Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án của BLHS năm 2015 (khoản 8 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 chỉ quy định về việc không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung quy định về việc không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với 02 tội: (1) tội tham ô tài sản (khoản 3 và khoản 4 Điều 353) và (2) tội nhận hối lộ (khoản 3 và khoản 4 Điều 354).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: đảm bảo chính sách hình sự nghiêm khắc đối với 02 tội phạm này.

    1.6. Sửa đổi, bổ sung Điều 66 - Tha tù trước thời hạn có điều kiện của BLHS năm 2015 (khoản 9 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 quy định Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây: c) Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;…” (khoản 1 Điều 66).

    - Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 66 theo hướng đưa nội dung điểm c lên đoạn đầu khoản 1, cụ thể: Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:…” (khoản 9 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm hiểu thống nhất là trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện mà không bắt buộc kèm theo điều kiện “đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù”.

    b) - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 quy định: Trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì thời gian đã chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn(điểm e khoản 1 Điều 66).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1 Điều 66 như sau: Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì...” (khoản 9 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để phù hợp với Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng[1].

    2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội

    2.1. Sửa đổi, bổ sung liên quan đến phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015- khoản 3 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” (khoản 2 Điều 12).

    - BLHS năm 2015 thu hẹp phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số loại tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê cụ thể tại khoản 2 Điều 12; riêng đối với 03 tội danh: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 141) và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) thì phải chịu trách nhiệm hình sự cả về loại tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi như sau: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này” (khoản 3 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: bảo đảm nhất quán về chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 2015 (thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi), đồng thời phù hợp nguyên tắc“những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” đã được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên.

    2.2. Sửa đổi, bổ sung liên quan đến phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội (khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015 - khoản 4 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 quy định có tính khái quát như sau: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” (Điều 17).

    - BLHS năm 2015 quy định người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 04 tội danh là: (1) tội giết người, (2) tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, (3) tội cướp tài sản và (4) tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 3 Điều 14).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015 theo hướng thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, cụ thể: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 02 tội danh là tội giết người và tội cướp tài sản (khoản 4 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này và bảo đảm sự thống nhất về chính sách hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

    2.3. Sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện để đương nhiên được xóa án tích (khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015 - khoản 19 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 quy định chung: “Thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của Bộ luật này” (khoản 1 Điều 77).

    - BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới” (khoản 2 Điều 107).

    - Luật số 12/2017/QH14 quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: (1) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; (2) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; (3) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; (4) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm (khoản 19 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: bảo đảm tính nhất quán, đồng bộ và có sự phân hóa trong cách quy định thời hạn xóa án tích là căn cứ vào mức hình phạt đã tuyên và thời hạn này đối với người bị kết án dưới 18 tuổi ngắn hơn so với người  từ đủ 18 tuổi trở lên.

    3. Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội

    3.1. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 - Phân loại tội phạm của BLHS năm 2015 (khoản 2 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung cách phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại theo hướng viện dẫn cách phân loại đối với cá nhân phạm tội là căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện để quy định tương ứng hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

    - Lý do bổ sung: để áp dụng các quy định khác liên quan như xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử trong BLTTHS.

    - Ví dụ: khoản 4 Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán) quy định:

    “4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

    a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

    b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;

    c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

    d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.

    Việc phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại được xác định như sau:

    (1) Đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại điểm a khoản 4 Điều 211 (Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 211): căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm do cá nhân thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 211 thuộc loại tội phạm nào thì pháp nhân thương mại thuộc loại tội phạm đó. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 211 thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Do vậy, pháp nhân thương mại phạm tội tại điểm a khoản 4 thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng.

    (2) Tương tự, xác định được pháp nhân thương mại phạm tội tại điểm b khoản 4 Điều 211 thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

    (3) Đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại điểm c khoản 4 Điều 211 (Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của BLHS – là trường hợp pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm): việc phân loại tội phạm cũng căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà pháp nhân thương mại đã thực hiện (cấu thành khoản 1 Điều 211 thì thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng; cấu thành khoản 2 Điều 211 thì thuộc loại tội phạm nghiêm trọng).

    3.2. Mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

    - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324) (các khoản 11, 102 và 122 Điều 1).

    - Lý do bổ sung: BLHS năm 2015 không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 02 tội danh này là chưa bảo đảm thực hiện yêu cầu hình sự hóa hành vi tài trợ khủng bố và rửa tiền đối với pháp nhân trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như Công ước của Liên hợp quốc năm 1988 về chống vận chuyển trái phép chất ma túy và các chất hướng thần; Công ước của Liên hợp quốc năm 1999 về ngăn chặn tài trợ cho khủng bố; Công ước của Liên hợp quốc năm 2000 về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia…), có thể dẫn đến những bất lợi cho Việt Nam trong quan hệ quốc tế và ảnh hưởng nhiều mặt đến kinh tế - xã hội[2]. Do vậy, Luật số 12/2017/QH14 đã mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324).

    3.3. Sửa đổi, bổ sung về cách tổng hợp hình phạt chính trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội của BLHS năm 2015 (Điều 86 BLHS năm 2015 - khoản 13 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 quy định cách tổng hợp hình phạt chính trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội như sau: (1) Nếu các hình pht đã tuyên cùng là pht tin thì các khon tin pht được cng li thành hình pht chung; (2) Hình pht đã tuyên là đình ch hot đng có thi hn đi vi tng lĩnh vc c th thì không tng hp; (3) Hình pht tin không tng hp vi các loi hình pht khác (khoản 1 Điều 86).

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung như sau: “1. Đối với hình phạt chính: a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung. Hình phạt tiền không tổng hợp với các hình phạt khác; b) Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực hoặc hình phạt đã tuyên cùng là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong lĩnh vực đó; c) Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong cùng lĩnh vực thì được tổng hợp thành hình phạt chung nhưng không vượt quá 04 năm; d) Nếu trong số các hình phạt đã tuyên có hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của Bộ luật này thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với toàn bộ hoạt động; đ) Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau thì không tổng hợp.” (khoản 13 Điều 1).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: bổ sung cho đầy đủ hơn các trường hợp tổng hợp hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm nhiều tội.

    3.4. Sửa đổi, bổ sung các điều 188, 189, 200, 225, 226, 227 và 232 của BLHS năm 2015 (các khoản 38, 39, 47, 52, 53, 54 và 55 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 có 07/31 điều luật (Điều 188 (Tội buôn lậu), Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), Điều 200 (Tội trốn thuế), Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan), Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp), Điều 227 (Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên) và Điều 232 (Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản) mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự không có sự tương đồng giữa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội và cá nhân phạm tội. Cụ thể, tại 07 điều luật trên, ngoài quy định về các tình tiết như thu lợi bất chính, giá trị tài sản bị thiệt hại, giá trị hàng hóa, tỷ lệ tổn thương cơ thể cho người khác như áp dụng đối với cá nhân thì còn phải có thêm tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi theo hướng quy định mức khởi điểm về thu lợi bất chính, giá trị tài sản bị thiệt hại hoặc giá trị hàng hóa... thì sẽ xử lý hình sự ngay mà không kèm theo điều kiện “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”; chỉ giữ lại ở một số điều luật quy định trường hợp dưới mức khởi điểm thì phải có thêm điều kiện “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì mới xử lý hình sự.

    - Ví dụ: Điều 232 BLHS năm 2015 quy định:

    “Điu 232. Ti vi phm các quy đnh v khai thác, bo v rng và qun lý lâm sn

    5. Pháp nhân thương mi phm ti quy đnh ti Điu này, thì b pht như sau: a) Phm ti thuc trường hp quy đnh ti khon 1 Điu này, đã b x pht vi phm hành chính v hành vi này mà còn vi phm, tr trường hp quy đnh ti đim g khon 1 Điu này, thì b pht tin t 300.000.000 đng đến 1.000.000.000 đng;”.

    Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi điểm a khoản 5 Điều 232 theo hướng, bỏ tình tiết “đã b x pht vi phm hành chính v hành vi này mà còn vi phm”, cụ thể như sau:

    “a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm đồng bộ và tránh vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.

    4. Sửa đổi, bổ sung mức định lượng về tỷ lệ tổn thương cơ thể trong các khung của một số điều luật

    4.1. Về cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể

    - BLHS năm 1999 chỉ quy định tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người; còn việc tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người do các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành BLHS năm 1999 quy định.

    - BLHS năm 2015 có 03 cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể trong trường hợp phạm tội có hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người: (1) tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người; (2) tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này; (3) kết hợp vừa tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người, vừa tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người.

    Ví dụ: Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    …e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

    g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    …b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

    - Luật số 12/2017/QH14 chỉ quy định 02 cách tính: (1) tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người; (2) tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này (đối với những trường hợp do lỗi vô ý với hậu quả gây thương tích cho nhiều người). Đồng thời, sửa đổi toàn bộ quy định của BLHS năm 2015 có quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể để bảo đảm cách tính thống nhất, phù hợp với từng nhóm khách thể được bảo vệ.

    - Ví dụ: Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ[3]

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    …b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    …e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    …b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;- Lý do sửa đổi, bổ sung: khắc phục tình trạng có trường hợp trùng lặp,  có trường hợp lại bỏ lọt tội phạm như cách quy định tại BLHS năm 2015.

    4.2. Về tình tiết “Gây rối loạn tâm thần và hành vi”

    - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 bổ sung tình tiết “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân”, tuy nhiên quy định tách riêng với tình tiết “Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân”.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi theo hướng nhập tình tiết “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” với tình tiết “Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân” trong những điều luật quy định cả 02 tình tiết này; và quy định mức tỷ lệ “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” bằng với mức tỷ lệ “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân”.

    - Ví dụ: + Điểm g, điểm h khoản 2 Điều 169 BLHS năm 2015 quy định:

    “Điu 169. Ti bt cóc nhm chiếm đot tài sn

    2. Phm ti thuc mt trong các trường hp sau đây, thì b pht tù t 05 năm đến 12 năm:…

    g) Gây thương tích hoc gây tn hi cho sc kho ca người b bt làm con tin mà t l tn thương cơ th t 11% đến 30%;

    h) Gây ri lon tâm thn và hành vi ca nn nhân t 11% đến 45%;”.

    + Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi 02 điểm này theo hướng như sau:

    “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:…

    g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để phù hợp với thực tiễn.

    5. Sửa đổi, bổ sung Điều 134 - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của BLHS năm 2015 (khoản 22 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    5.1. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung trường hợp dùng vũ khí, vật liệu nổ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tình tiết định tội tại điểm a khoản 1 Điều 134.

    - Lý do bổ sung: để phù hợp với thực tiễn phòng, chống tội phạm.

    5.2. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều quy định “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” là tình tiết định tội.

    - Luật số 12/2017/QH14 bỏ quy định “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” tại điểm c khoản 1 Điều 134.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm chính sách hình sự xử lý công bằng vì Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần ban hành Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể không quy định về trường hợp “gây cố tật nhẹ”; thực tiễn giám định tổn thương cơ thể, các cơ quan giám định cũng gặp vướng mắc trong việc xác định thế nào là “cố tật nhẹ”.

    5.3. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe đối với người chữa bệnh cho mình là tình tiết định tội tại điểm d khoản 1 Điều 134.

    - Lý do bổ sung: để răn đe, hạn chế tình trạng hành hung nhân viên y tế đang gia tăng trong thực tiễn.

    5.4. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác khi đang bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cũng là tình tiết định tội tại điểm g khoản 1 Điều 134.

    - Lý do bổ sung: để thống nhất với quy định của BLTTHS năm 2015, bao quát hết các trường hợp có thể xảy ra trong thực tiễn.

    5.5. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều quy định “phạm tội 02 lần trở lên”“phạm tội đối với 02 người trở lên” là tình tiết định tội tại khoản 1 các điều 104 và 134.

    - Luật số 12/2017/QH14 không quy định“phạm tội 02 lần trở lên”“phạm tội đối với 02 người trở lên” là tình tiết định tội tại khoản 1 Điều 134 mà chỉ quy định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 134.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: việc quy định tại điểm d khoản 1 “phạm tội 02 lần trở lên” và điểm đ khoản 1 Điều 134 của BLHS năm 2015“phạm tội đối với 02 người trở lên” là không phù hợp vì các trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% không phải là tội phạm nên không được tính là phạm tội 02 lần trở lên hoặc phạm tội đối với 02 người trở lên.

    5.6. - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 quy định trường hợp “Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” có khung hình phạt cao nhất đến tù chung thân và được sắp xếp cùng với khung hình phạt trong trường hợp làm chết 02 người trở lên.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa lại theo hướng quy định tình tiết “Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” cùng khung hình phạt với tình tiết làm chết 01 người.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: đảm bảo phân hóa tội phạm phù hợp hơn.

    5.7. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với trường hợp gây thương tích dẫn đến chết người có cùng mức hình phạt đối với Tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 123 (cùng là 15 năm tù).

    - Luật số 12/2017/QH14 điều chỉnh lại mức cao nhất của khung hình phạt đối với trường hợp gây thương tích làm chết người là 14 năm tù.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự trên cơ sở tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

    5.8. - BLHS năm 1999 chỉ quy định về trách nhiệm hình sự đối với tất cả các trường hợp chuẩn bị phạm tội ở Phần chung như sau: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” (Điều 17).

    - BLHS năm 2015 quy định về trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định cả ở Phần những quy định chung (khoản 2 Điều 14) và cả ở những điều luật cụ thể, chẳng hạn Điều 134 quy định: “Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm” (khoản 7) để xử lý đối với những hành vi có tính nguy hiểm cao cho xã hội, cần được ngăn chặn, xử lý sớm, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này, tránh trường hợp để xảy ra hậu quả nghiêm trọng mới xử lý hình sự. Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xử lý hình sự quá rộng.

    - Luật số 12/2017/QH14 cũng quy định về trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định cả ở Phần những quy định chung (khoản 2 Điều 14) và ở Điều 134 nhưng theo hướng thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, theo đó: “Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm” (khoản 6 Điều 134).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm quy định chặt chẽ, có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn.

    6. Sửa đổi một số điều luật có quy định tình tiết từ định lượng sang định tính (các điều 162, 283, 284, 301, 304, 305, 306, 311363)

    - BLHS năm 1999 có nhiều quy định mang tính định tính ở các chương của Bộ luật.

    - BLHS năm 2015 định lượng cụ thể tất cả các tình tiết mang tính định tính, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII) và các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu (Chương XXV).

    - Luật số 12/2017/QH14 quay trở lại cách quy định như BLHS năm 1999 về các tình tiết có tính định tính tại các điều 162 (Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật), 283 (Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 284 (Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), 301 (Tội bắt cóc con tin), 304 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự), 305 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ), 306 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự), 311 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc) và 363 (Tội đào nhiệm) BLHS năm 2015.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bảo đảm bao quát được hết các trường hợp phạm tội và linh hoạt trong xử lý tội phạm.

    7. Sửa đổi, bổ sung một số điều tại Chương các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 2015 (các khoản 34, 35, 36 Điều 1 và điểm c khoản 3 Điều 2 của Luật số 12/2017/QH14)

    7.1. Về tình tiết định tội “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về tinh thần đối với người bị hại” (các điều 172, 173, 174, 175  và 178 của BLHS năm 2015)

    - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 bổ sung tình tiết định tội “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về tinh thần đối với người bị hại” tại các điều 172, 173, 174, 175 và 178.

    - Luật số 12/2017/QH14 không quy định tình tiết“tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” mà chỉ giữ lại quy định tình tiết “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ” là tình tiết định tội tại các điều 172, 173, 174, 175 và 178.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: bảo đảm tính khả thi, bởi khi chứng minh tình tiết “tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ quan của người bị hại, dẫn đến khó khăn trong việc chứng minh và xử lý tội phạm.

    7.2. Về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 của BLHS năm 2015)

    - BLHS năm 1999 quy định hành vi “bỏ trốn” là một trong các tình tiết định tội của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điểm a khoản 1 Điều 140).

    - BLHS năm 2015 bỏ hành vi “bỏ trốn” trên[4].

    - Luật số 12/2017/QH14 kế thừa quy định của BLHS năm 1999, bổ sung lại hành vi “bỏ trốn” là một trong các tình tiết định tội của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điểm a khoản 1 Điều 175).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bảo đảm xử lý được các trường hợp vay, mượn, thuê … tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

    8. Bỏ các khoản có quy định nhắc lại cấu thành cơ bản

    - BLHS năm 201530 điều luật (các điều: 235, 260, 261, 262, 263, 264, 265, 267, 268, 269, 270, 271, 272, 273, 274, 275, 276, 278, 279, 280, 283, 295, 298, 308, 309, 310, 312, 313, 315 và 360) có cách quy định nhắc lại cấu thành cơ bản.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi theo hướng bỏ các quy định nhắc lại cấu thành cơ bản, trừ Điều 235 (xem chi tiết tại mục 12.1 của tài liệu).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: tránh chồng chéo, mâu thuẫn, tùy tiện trong áp dụng; bảo đảm thống nhất về kỹ thuật lập pháp đảm bảo trật tự sắp xếp các khung hình phạt từ nhẹ đến nặng, đồng thời hạn chế việc hình sự hóa quá rộng.- Ví dụ: BLHS năm 2015 có 07 điều (các điều: 260, 261, 265, 267, 272, 295 và 309) không xác định được cấu thành cơ bản ở khoản 1 hay khoản 4 hoặc khoản 5 nên khi xảy ra trường hợp hành vi phạm tội có hậu quả thuộc cấu thành cơ bản thứ hai và có một trong các tình tiết quy định ở các khoản tăng nặng (khoản 2, khoản 3) nên không rõ sẽ bị xử lý theo khoản tăng nặng hay theo khoản cấu thành cơ bản thứ hai. Như Điều 260 về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định: 4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. (khoản 4). Như vậy, nếu có hậu quả gây thương tích từ 31% đến 60% (thuộc khoản 4) nhưng lại có một trong các tình tiết thuộc cấu thành tăng nặng ở khoản 2 (người phạm tội không có giấy phép lái xe hoặc gây tai nạn rồi bỏ trốn...) thì không rõ sẽ bị xử lý tăng nặng theo khoản 2 hay vẫn chỉ bị xử lý theo cấu thành cơ bản thứ hai thuộc khoản 4 Điều này. Cách quy định này dẫn đến tùy tiện trong áp dụng. Do đó, Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi theo hướng bỏ nội dung tại khoản 4 Điều 260 nêu trên.

    9. Sa đi, b sung Điu 190 - Ti sn xut, buôn bán hàng cm và Điu 191 - Ti tàng tr, vn chuyn hàng cm ca BLHS năm 2015 (khoản 40 và khoản 41 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    9.1. Sa đi, b sung theo hướng có mức định lượng riêng về số lượng/khối lượng đối với đi tượng là thuc lá điếu nhp lu và pháo n

    - BLHS 1999 xử lý các hành vi này vào các tội buôn lậu hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới (nếu qua biên giới); hoặc buôn bán hàng cấm (nếu buôn bán trong nội địa). Số lượng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định dưới các tình tiết định tính là: số lượng lớn, số lượng rất lớn và số lượng đặc biệt lớn. Sau đó, liên ngành tư pháp trung ương đã hướng dẫn cụ thể, trong đó có hướng dẫn cụ thể về số lượng pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu.

    - BLHS năm 2015 không quy định có tính định tính như BLHS 1999 mà quy theo giá trị chung với những hàng phạm pháp khác với số tiền 100 triệu đồng trở lên.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi theo hướng có mức định lượng riêng về khối lượng/số lượng đối với đối tượng là pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu, theo đó, (1) buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng từ 1.500 bao trở lên; (2) sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển pháo nổ với khối lượng từ 06 kg trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 190 hoặc Điều 191.

    - Trước khi có Luật đầu tư năm 2014, hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa bị xử lý về Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm theo quy định tại Điều 155 BLHS năm 1999.

    Từ khi Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực (01/7/2015), do Luật không quy định kinh doanh pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu là ngành nghề cấm kinh doanh mà thuộc ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nên hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa không bị xử lý hình sự.

    Từ khi Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư có hiệu lực (ngày 01/01/2017), do Luật bổ sung quy định “kinh doanh pháo nổ” vào ngành nghề “cấm đầu tư kinh doanh” nhưng không quy định “kinh doanh thuốc lá điếu nhập lậu” vào ngành nghề “cấm đầu tư kinh doanh” nên từ ngày 01/01/2017 chỉ xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ mà không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu.

    Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi Điều 190 - Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và Điều 191 - Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của BLHS năm 2015 bổ sung quy định cụ thể mức định lượng riêng về khối lượng/số lượng đối với đối tượng là pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu. Do đó, từ thời điểm Luật số 12/2017/QH14 có hiệu lực (01/01/2018) các hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu đều phải bị xử lý hình sự.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: Nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước về tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng chống hàng lậu, hàng cấm, đặc biệt là đối với một số mặt hàng cấm nhưng phổ biến trên thị trường hiện nay là thuốc lá điếu nhập lậu và pháo nổ.

    9.2. Quy định mức định lượng khác nhau giữa đối tượng là “hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng” với đối tượng là “hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam”

    - BLHS năm 2015 quy định chung, không có sự phân hóa về định lượng giữa 02 đối tượng là “hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng” với đối tượng là “hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam”.

    - Luật số 12/2017/QH14 quy định mức định lượng khác nhau giữa 02 đối tượng này theo hướng giá trị đối với hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng thấp hơn giá trị hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam để xử lý hình sự.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: phù hợp với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đảm bảo sự phân hóa trách nhiệm hình sự.

    - Ví dụ: Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi khoản 1 Điều 190 BLHS năm 2015 như sau:

    “d) Sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    đ) Sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;”.

    10. Sa đi, b sung các điu 192, 193, 194 và 195 ca BLHS năm 2015 (các khoản 42, 43, 44 và 45 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    10.1. - BLHS năm 1999 quy định việc xác định giá trị của hàng giả phải căn cứ theo giá hàng thật.

    - BLHS năm 2015 quy định về việc tính giá trị của hàng giả theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn; trường hợp không xác định được các loại giá nêu trên thì xác định theo giá của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng.

    - Luật số 12/2017/QH14 kế thừa và bổ sung trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999, theo đó, lấy giá hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng để xác định giá trị của hàng giả.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: việc sửa đổi, bổ sung nêu trên phù hợp với khách thể được bảo vệ là trật tự quản lý kinh tế, đấu tranh phòng, chống hàng giả và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Đồng thời, việc chỉ lấy một loại giá làm căn cứ xác định giá trị của hàng giả để xử lý hành chính cũng như xử lý hình sự là bảo đảm thống nhất, chặt chẽ trong áp dụng pháp luật; nếu xác định giá trị hàng giả theo quy định của BLHS năm 2015 thì dễ dẫn đến tùy tiện trong xử lý.

    10.2. - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định tình tiết “thu lợi bất chính” tại khoản 1 các điều 192, 195.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung tình tiết này với mức định lượng cụ thể  vào khoản 1 Điều 192 và khoản 1 Điều 195.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: khoản 1 Điều 192 và khoản 1 Điều 195 (là cấu thành cơ bản) không có tình tiết về thu lợi bất chính nhưng khoản tăng nặng của các điều luật này đều có tình tiết thu lợi bất chính, dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Vì vậy, việc bổ sung tình tiết “Thu lợi bất chính” vào khoản 1 Điều 192 và khoản 1 Điều 195 (từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng) là phù hợp.

    11. Sa đi, b sung mt s điu ti Mc 3 - Các ti phm khác xâm phm trt t qun lý kinh tế ti Chương các ti xâm phm trt t qun lý kinh tế ca BLHS năm 2015 (các khon 55, 56 và 57 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    11.1. Về sửa đổi, bổ sung Điều 232 - Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (khoản 55 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999 quy định mang tính định tính.

    - BLHS năm 2015 định lượng cụ thể đối với các hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, trong đó có: (1) Khai thác trái phép rừng sản xuất; (2) Khai thác trái phép rừng phòng hộ; (3) Khai thác trái phép rừng đặc dụng, tuy nhiên không có sự phân biệt là loại rừng trồng hay rừng tự nhiên (các điểm a, b và c ở các khoản).

    - Luật số 12/2017/QH14 phân hóa, định lượng cụ thể các hành vi khai thác trái phép thuộc 03 loại rừng trên thuộc rừng trồng hay rừng tự nhiên theo hướng, cơ bản giữ mức định lượng của BLHS năm 2015 để quy định cho loại rừng trồng, bổ sung mức định lượng mới, thấp hơn mức định lượng của loại rừng trồng đối với hành vi khai thác trái phép rừng tự nhiên.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: có sự phân hóa hình sự đối với những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau.

    b) - BLHS năm 1999 quy định mang tính định tính.

    - BLHS năm 2015 định lượng cụ thể đối với hành vi khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ, tuy nhiên không có sự phân biệt giữa (1) thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA và (2) thực vật rừng thông thường ngoài gỗ trị (điểm d ở các khoản).

    - Luật số 12/2017/QH14 phân hóa, định lượng cụ thể hành vi khai thác trái phép 02 loại thực vật rừng ngoài gỗ trên theo hướng, cơ bản giữ mức định lượng của BLHS năm 2015 để quy định cho loại thực vật rừng thông thường ngoài gỗ, bổ sung mức định lượng mới, thấp hơn mức định lượng của loại thực vật rừng thông thường ngoài gỗ đối với hành vi khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA (điểm g ở các khoản).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: có sự phân hóa hình sự đối với những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau.

    11.2. Về sửa đổi, bổ sung Điều 233 - Tội vi phạm quy định về quản lý rừng (khoản 56 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 quy định về hành vi giao, thu hồi, cho phép chuyển mục đích sử dụng đối với “đất trồng rừng”.

    - Luật số 12/2017/QH14 bỏ quy định về hành vi này, đồng thời bổ sung hành vi “cho thuê rừng” vào điểm a khoản 1, điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 của Điều 233.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bao quát hết các trường hợp, các hành vi vi phạm có thể xảy ra trong quản lý rừng.

    11.3. Về sửa đổi, bổ sung Điều 234 - Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (khoản 57 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    Trong quá trình xây dựng Luật số 12/2017/QH14, có ý kiến đề nghị đưa Điều 234 về Chương XIX - Các tội phạm về môi trường cho phù hợp với khách thể bảo vệ. Tuy nhiên, Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã có đối tượng bảo vệ là các loài động vật hạn chế buôn bán và khách thể là trật tự quản lý kinh tế nên được đặt tại Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là phù hợp. Do đó, Luật số 12/2017/QH14 vẫn giữ Điều 234 tại Chương XVIII.

    a) - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

     - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung dấu hiệu “thu lợi bất chính” vào khoản 1 Điều 234.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa khoản 1 (khung cơ bản) với khoản 2, khoản 3 của Điều 234 (khoản 2, khoản 3 là khung tăng nặng, quy định về dấu hiệu thu lợi bất chính).

    b) - BLHS năm 1999 quy định mang tính định tính.

    - BLHS năm 2015: định lượng cụ thể về trị giá của động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã hạ mức định lượng về trị giá của động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật.

    -  Ví dụ:

    + Điểm a khoản 1 Điều 234 BLHS năm 2015 quy định hành vi sau đây sẽ bị xử lý hình sự “Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp giá trị từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; động vật hoang dã thông thường khác giá trị từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng...”

    + Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 234 theo hướng: hành vi sau đây sẽ bị xử lý hình sự “Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc động vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 700.000.000 đồng...”

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xử lý hình sự đối với các hành vi nêu trên và đảm bảo phù hợp với quy định về Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242).

    12. Sa đi, b sung một số điều tại Chương các tội phạm về môi trường (các khoản 58, 61 và 64 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    12.1. Về sửa đổi, bổ sung Điều 235 - Tội gây ô nhiễm môi trường của BLHS năm 2015 (khoản 58 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 2015 có khoản 3 nhắc lại cấu thành cơ bản tại khoản 1.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã lấy khoản 3 (của BLHS năm 2015) là khoản nhắc lại cấu thành cơ bản thứ hai làm cấu thành cơ bản tại khoản 1 và chỉnh lý lại về định lượng của khoản này và các khoản khác của điều luật theo hướng hạ mức định lượng và hạ số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với nước thải và khí thải.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: tránh chồng chéo, mâu thuẫn, tùy tiện trong áp dụng; bảo đảm thống nhất về kỹ thuật lập pháp đảm bảo trật tự sắp xếp các khung hình phạt từ nhẹ đến nặng, đồng thời phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    b) - BLHS năm 2015 quy định cách tính bằng số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép hoặc vượt mức giới hạn theo quy định đối với hành vi xả nước thải có chứa chất phóng xạ và hành vi phát tán ra môi trường bức xạ, phóng xạ.

    - Luật số 12/2017/QH14 chuyển đổi cách tính từ số lần sang cách tính theo liều và suất liều với đơn vị tính là milisivơ. Cụ thể, xả thải ra môi trường nước thải, chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ vượt giá trị liều từ 50 milisivơ (mSv) trên năm trở lên hoặc giá trị suất liều từ 0,0025 milisivơ (mSv) trên giờ trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm tạo thuận lợi cho việc đo đạc, tính toán trong thực tiễn, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế về an toàn bức xạ. Mức định lượng phù hợp theo đánh giá của Ủy ban an toàn phóng xạ quốc tế (ICRP) về tác động sinh học của bức xạ (mức liều từ 50 milisivơ/năm hoặc từ 0,0025 milisivơ/giờ bắt đầu có dấu hiệu làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người).

    c) - BLHS năm 2015 chỉ quy định đối với hành vi chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường “chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy”.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi thành hành vi chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường “chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy”, đồng thời bổ sung hành vi chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường những chất thải nguy hại khác với mức định lượng cao hơn so với hành vi trên.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: đảm bảo tính đầy đủ, chính xác.

    d) - BLHS năm 1999 quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là yếu tố định tội nhưng không lượng hóa cụ thể.

    - BLHS năm 2015 quy định việc định tội căn cứ vào hành vi và định lượng cụ thể về khối lượng, thể tích chất thải có thông số vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, nhưng không quy định dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” tại các khoản của Điều luật.

    - Luật số 12/2017/QH14 tiếp tục có quy định định lượng cụ thể như BLHS năm 2015, đồng thời bổ sung tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” vào khoản 2 và “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” vào khoản 3 Điều 235.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm phân hóa tội phạm và bao quát được các tình huống có thể xảy ra trên thực tế.

    e) - BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã bổ sung tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” tại các điểm b, c, e và g khoản 1 Điều 235.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp với các quy định khác tại Điều luật.

    12.2. Về sửa đổi, bổ sung Điều 239 - Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam của BLHS năm 2015 (khoản 61 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 2015 không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã bổ sung trường hợp đưa chất thải nguy hại khác vào lãnh thổ Việt Nam tại điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 239.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 235 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14.

    12.3. Về sửa đổi, bổ sung Điều 244 - Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của BLHS năm 2015 (khoản 64 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 2015 quy định hành vi “tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật...” (điểm b khoản 1 Điều 244).

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung cụm từ “không thể tách rời sự sống” vào sau cụm từ “bộ phận cơ thể” tại điểm b khoản 1 Điều 244 của BLHS năm 2015.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm xử lý các trường hợp buôn bán, vận chuyển bộ phận không thể tách rời sự sống tương đương với động vật sống trong trường hợp không chứng minh được hành vi săn bắt, giết động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp. Đối với sản phẩm khác của động vật cũng đã được quy định cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều này nên không bỏ lọt hành vi.

    13. Sửa đổi, bổ sung một số điều tại Chương các tội phạm về ma túy của BLHS năm 2015 (các khoản 65, 66, 67, 68, 69 và 70 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung các quy định về tội phạm ma túy theo hướng:

    + Bổ sung chất XLR-11 vào cấu thành các tội: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248), Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) và Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252).

    + Bổ sung lá khát (lá cây Catha edulis)” vào các điều khoản tương ứng của các tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) và Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252).

    + Bổ sung quy định có tính dự liệu hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định vào các điều khoản tương ứng của các tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) và Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252).

    + Sửa đổi Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy) theo hướng: ngoài tình tiết định tội “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” còn bổ sung tình tiết đã bị kết án về một trong các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: Nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để xử lý các hành vi phạm tội về ma tuý, tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

    14. Bãi bỏ Điều 292 (khoản 141 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14); sửa đổi, bổ sung Điều 206 - Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng của BLHS năm 2015 (khoản 48 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14) và bổ sung điều luật mới - Điều 217a - Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp (khoản 51 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14);

    - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 bổ sung 01 tội danh mới –Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 292).

    - Luật số 12/2017/QH14 bỏ Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông quy định tại Điều 292 của BLHS năm 2015 để bảo đảm sự thống nhất, bình đẳng trong chính sách xử lý đối với các hành vi kinh doanh trái phép. Đồng thời, do cần thiết xử lý một số hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội danh này đang diễn biến phức tạp, dư luận quan tâm và yêu cầu phải xử lý hình sự, Luật số 12/2017/QH14 đã chỉnh lý theo hướng: Đối với hành vi “kinh doanh vàng trái phép hoặc kinh doanh ngoại hối trái phép” được bổ sung vào Điều 206 (Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng); hành vi vi phạm quy định về kinh doanh đa cấp được bổ sung điều luật mới tại Điều 217a[5] (Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp). Trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo thì có thể xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) hoặc Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290).

    15. Sa đi, b sung Điu 317 - Ti vi phm quy đnh v an toàn thc phm ca BLHS năm 2015 (khon 119 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999 chỉ quy định các trường hợp người nào biết rõ thực phẩm không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn mà vẫn chế biến, cung cấp hoặc bán gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe người khác thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    - BLHS năm 2015 mở rộng phạm vi về đối tượng xử lý hình sự, quy định đối với một số hành vi, không kèm theo mức định lượng cụ thể thì bị xử lý hình sự ngay.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng bổ sung mức định lượng.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bảo đảm chặt chẽ trong cấu thành tội phạm của Điều 317 và hạn chế việc hình sự hóa tràn lan đối với tội phạm này.

    b) - BLHS năm 2015 chỉ quy định về hậu quả gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm d khoản 1 Điều 317).

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung hậu quả gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 người trở lên, theo hướng, nếu thực hiện một trong những hành vi quy định tại các điểm của khoản 1 Điều này hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm mà gây hậu quả như đã nêu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bao quát hết các trường hợp có thể xảy ra để xử lý.

    c) - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung hành vi “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: đáp ứng yêu cầu thực tiễn, xử lý nghiêm các trường hợp này đang xảy ra phổ biến hiện nay.

    d) - BLHS năm 1999 sử dụng từ “biết rõ”, theo đó, người phạm tội phải “biết rõ” thực phẩm đó là không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn mà vẫn chế biến, cung cấp hoặc bán mới bị xử lý hình sự.

    - BLHS năm 2015 sử dụng từ “biết rõ”.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã thay thế từ “biết rõ” bằng từ “biết”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: đảm bảo tính khả thi, tạo thuận lợi cho việc chứng minh tội phạm, do việc chứng minh người phạm tội có “biết rõ” hay không là rất khó trên thực tế.

    16.  Sa đi, b sung Điu 322 - Ti t chc đánh bc hoc gá bc ca BLHS năm 2015 (khon 121 Điu 1 ca Lut số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999 quy định mang tính định tính.

    - BLHS năm 2015 quy định hành vi “Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;” là tình tiết định tội của tội này. Quy định này không rõ việc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong trường hợp có 02 chiếu bạc trở lên có phải diễn ra trong cùng một lúc hay không và quy định cho 10 người đánh bạc trở lên có kèm theo số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hay không.

    - Luật số 12/2017/QH14 quy định rõ việc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong trường hợp có 02 chiếu bạc trở lên phải diễn ra trong cùng một lúc và kèm theo số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên thì mới bị xử lý hình sự. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 322 được sửa đổi như sau: Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để bảo đảm tính rõ ràng, áp dụng thống nhất, tránh xử lý quá rộng hoặc xử lý tràn lan.

    b) - BLHS năm 2015 quy định trường hợp sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý, sở hữu của mình cho người khác đánh bạc là chưa bao quát hết được các trường hợp tổ chức đánh bạc.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã được chỉnh lý theo hướng tách hành vi tổ chức đánh bạc (điểm a khoản 1) thì không quy định về địa điểm, còn hành vi gá bạc (điểm b khoản 1) thì phải quy định địa điểm.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: việc tách điểm a khoản 1 và điểm b khoản 1 là do tính chất hành vi có sự khác nhau, không chồng chéo nhau, mục đích nhằm bao quát hết các trường hợp tổ chức đánh bạc.

    c) - BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14 đã bổ sung điểm c khoản 2 Điều 322 như sau “c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: nhằm bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự, thống nhất với cách quy định trong tội đánh bạc (Điều 321).

    17. Một số vấn đề khác

    17.1. Sửa đổi, bổ sung Điều 377 - Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật của BLHS năm 2015 (khoản 135 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều quy định là “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật”.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung từ “bắt” và điều chỉnh lại tên điều như sau: “Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để đảm bảo đầy đủ, phù hợp với nội dung của điều luật.

    b) - BLHS năm 1999: không quy định.

    - BLHS năm 2015 quy định người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi “quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật” là một trong những tình tiết định tội (điểm b khoản 1 Điều 377).

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung cụm từ “Ra lệnh” trước cụm từ “quyết định bắt”. Cụ thể như sau: “b) Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;”

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để đảm bảo đầy đủ, phù hợp với quy định của BLTTHS năm 2015. 

    17.2. Sửa đổi, bổ sung Điều 391 - Tội gây rối trật tự phiên tòa của BLHS năm 2015 (khoản 139 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

    a) - BLHS năm 1999: không quy định về tội danh này.

    - BLHS năm 2015 mới chỉ quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây rối trật tự tại phiên họp.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: bảo đảm tính đầy đủ, bao quát được các trường hợp có thể xảy ra trong thực tiễn.

    b) - BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt tại khoản 1 là “phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm”.

    - Luật số 12/2017/QH14 nâng mức hình phạt tại khoản 1 theo hướng: “phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi này.

    c) - BLHS năm 2015 mới chỉ quy định trường hợp hành hung thành viên Hội đồng xét xử là tình tiết định khung tặng nặng của tội danh này.

    - Luật số 12/2017/QH14 bổ sung tình tiết “hành hung người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác cũng là tình tiết định khung tăng nặng của tội danh này tại khoản 2.

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: đảm bảo đầy đủ và công bằng trong chính sách xử lý hình sự.

    d) - BLHS năm 2015: không quy định.

    - Luật số 12/2017/QH14  bổ sung loại trừ tội danh có cùng tính chất (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản - Điều 178 và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác - Điều 134).

    - Lý do sửa đổi, bổ sung: để tránh mâu thuẫn, chồng chéo trong áp dụng pháp luật.

    Ngoài ra, Luật số 12/2017/QH14 có những sửa đổi, bổ sung về kỹ thuật trong một số điều khoản cụ thể của BLHS năm 2015 liên quan đến các quy định viện dẫn, sử dụng từ ngữ cũng như các sửa đổi khác về kỹ thuật nhằm bảo đảm tính chính xác, logic, rõ ràng, tạo thuận lợi cho việc giải thích và áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật trong thực tiễn.

    I. NGHỊ QUYẾT SỐ 41/2017/QH14 VỀ THI HÀNH BLHS SỐ 100/2015/QH13 ĐÃ ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU THEO LUẬT SỐ 12/2017/QH14 VÀ VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA BLTTHS SỐ 101/2015/QH13, LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ SỐ 99/2015/QH13, LUẬT THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM SỐ 94/2015/QH13

    Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV bên cạnh việc thông qua Luật số 12/2017/QH14 đã thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành BLHS số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của BLTTHS số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (gọi tắt là Nghị quyết số 41/2017/QH14). Nghị quyết số 41/2017/QH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/7/2017, trong đó quy định một số nội dung cơ bản sau đây:

    1. Về thời điểm BLHS năm 2015 và các bộ luật, luật liên quan có hiệu lực thi hành

    - Kể từ ngày 01/01/2018, BLHS năm 2015 (Bộ luật hợp nhất của BLHS số 100/2015/QH13 và Luật số 12/2017/QH14), BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành; thống nhất áp dụng đồng bộ các quy định của các BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức điều tra hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

    - Các quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành BLTTHS năm 2015 được quy định như sau:

    + Điều 1 về thời điểm áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015: Thay thế “ngày 01/7/2016”  bằng “ngày 01/01/2018”;

    + Điều 2 về thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong hoạt động hỏi cung bị can theo quy định của BLTTHS năm 2015 được lùi thời điểm áp dụng từ “ngày 01/01/2019” thành từ “ngày 01/01/2020”.

    2. Về việc áp dụng BLHS năm 2015

    2.1. Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 được công bố

    Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 quy định việc tiếp tục thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS số 100/2015/QH13 và Luật số 12/2017/QH14. Trong đó lưu ý một số nội dung sau:

    a) Quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: không đề nghị áp dụng hình phạt tử hình đối với ng­ười phạm tội mà BLHS số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015) đã bỏ hình phạt tử hình (Điều 133. Tội cướp tài sản; Điều 157. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm; Điều 194. Tội tàng trữ trái phép, chiếm đoạt chất ma túy; Điều 231. Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Điều 316. Tội chống mệnh lệnh; Điều 322. Tội đầu hàng địch – Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

    * Thực hiện quy định này, lưu ý: khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự, không đề nghị áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đồng thời phối hợp với Toà án cùng cấp rà soát đầy đủ, chính xác những trường hợp đã tuyên hình phạt tử hình thuộc trường hợp nêu trên và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chư­a thi hành án để Toà án đã xét xử sơ thẩm báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân cho ng­ười bị kết án.

     b) Quy định tại điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: trường hợp đã tuyên hình phạt tử hình nh­ưng chư­a thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 BLHS năm 2015 (Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn) để Toà án báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân cho ng­ười bị kết án.

    * Thực hiện quy định này, cần chủ động phối hợp với Toà án cùng cấp đã xét xử sơ thẩm rà soát đầy đủ, chính xác những tr­ường hợp đã tuyên hình phạt tử hình nh­ưng chư­a thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 BLHS năm 2015 để Toà án báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân cho người bị kết án.

    c) Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14:hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa”. BLHS năm 2015 không xóa bỏ tội phạm đó, mà chỉ thay đổi một số yếu tố cấu thành tội phạm, theo hướng có lợi cho người phạm tội, làm cho một số hành vi mà BLHS năm 1999 coi là tội phạm nay không còn bị coi là tội phạm. Vì vậy, nếu hành vi của họ thuộc trường hợp này thì phải đình chỉ. Theo đó, bị can, bị cáo đang trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì phải miễn chấp hành hình phạt còn lại; người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án thì phải miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

    Ví dụ: Nguyễn Văn A đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 80.000.000 đồng theo khoản 1 Điều 145 BLHS năm 1999. Nhưng do khoản 1 Điều 180 BLHS năm 2015 đã thay đổi yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự; vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn A không cấu thành tội phạm nữa.

    Ví dụ: Phạm Văn B (chưa có tiền án, tiền sự) đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc giá trị 4.000.000 đồng theo khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999. Nhưng do khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 đã thay đổi yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi đánh bạc giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự; vì vậy, hành vi của Phạm Văn B không cấu thành tội phạm nữa.

    d) Quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: “trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa”. Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội đã được áp dụng các quy định có lợi (lần 1) của BLHS số 100/2015/QH13 nhưng vẫn bị coi là tội phạm. Đến Luật số 12/2017/QH14 đã thay đổi cấu thành tội phạm dẫn đến hành vi của họ không bị coi là tội phạm. Họ tiếp tục được áp dụng các quy định có lợi (lần 2) theo Luật số 12/2017/QH14. Vì vậy, nếu bị can, bị cáo đang trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì phải miễn chấp hành hình phạt còn lại; người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án thì phải miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

    Ví dụ: Trần Văn C đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% theo khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999 và đã được áp dụng các quy định có lợi (lần 1) theo khoản 4 Điều 260 BLHS số 100/2015/QH13 (bỏ hình phạt tù) nhưng kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 được công bố, bỏ khoản 4 Điều 260 BLHS số 100/2015/QH13; vì vậy, Trần Văn C tiếp tục được áp dụng quy định có lợi (lần 2) theo Luật số 12/2017/QH14, theo đó hành vi của Trần Văn C không cấu thành tội phạm vì luật không quy định là tội phạm nữa.

    đ) Quy định tại điểm e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm;các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015”. Như vậy, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi phạm vào tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc 28 tội danh quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015. Hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thuộc 2 tội danh quy định tại khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015. Đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thuộc 25 tội danh quy định tại khoản 2 Điều 14 BLHS năm 2015.

    * Do đó, khi giải quyết vụ án hình sự, các trường hợp đã thực hiện hành vi mà BLHS năm 1999 quy định là tội phạm nhưng BLHS năm 2015 không quy định là tội phạm theo các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 lưu ý:

    - Đối với trường hợp đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can:

    + Nếu vụ án đang điều tra, thì yêu cầu Cơ quan điều tra áp dụng một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 và Điều 164 BLTTHS năm 2003 ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án; trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

    Trường hợp đã khởi tố bị can mà Viện kiểm sát chưa phê chuẩn thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra hoặc tự mình áp dụng một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, Điều 126 và Điều 112 BLTTHS năm 2003 ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can.

    + Nếu vụ án đang trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát áp dụng một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 và Điều 169 BLTTHS năm 2003 ra quyết định đình chỉ vụ án; trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ không liên quan đến tất cả các bị can, thì đình chỉ vụ án đối với từng bị can.

    + Nếu vụ án đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Viện kiểm sát áp dụng một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 và Điều 181 BLTTHS năm 2003 rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.

    + Tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên áp dụng một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 và Điều 195 BLTTHS năm 2003 rút toàn bộ quyết định truy tố; trong tr­ường hợp vụ án có nhiều bị cáo, bị cáo phạm nhiều tội thì sau khi đọc cáo trạng, Kiểm sát viên trình bày việc rút toàn bộ quyết định truy tố đối với bị cáo hoặc rút quyết định truy tố đối với một hoặc một số hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14.

    + Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng một trong các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 và Điều 251 BLTTHS năm 2003 đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị cáo.

    + Đối với đối t­ượng đ­ược quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 mà đang bị truy nã thì xử lý như sau:

    Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can ra quyết định đình nã;

    Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định truy nã ra quyết định đình nã;

    Trường hợp trong giai đoạn xét xử thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định đình nã;

    Trường hợp trong giai đoạn thi hành án thì Viện kiểm sát yêu cầu Giám thị trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định đình nã.

    Quy định tại điểm e này không áp dụng đối với trường hợp đối tượng còn bị truy nã về hành vi phạm tội khác.

    + Việc không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can và việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với các tr­ường hợp quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 là đình chỉ việc xử lý hình sự. Các vấn đề khác liên quan đến vụ việc như:­ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, trả lại tài sản…(kể cả xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) hoặc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội phạm khác, các bị can, bị cáo khác trong vụ án (nếu có) vẫn tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật.

    + Khi Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can thì Viện kiểm sát phải giải thích cho ngư­ời được huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can, ngư­ời được đình chỉ vụ án biết việc đình chỉ là do thay đổi chính sách hình sự của Nhà nư­ớc, không phải là trường hợp bị oan, sai và họ không thuộc trường hợp được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

     - Trong quá trình kiểm sát việc thi hành án:

     Phải kiểm sát chặt chẽ việc miễn chấp hành hình phạt; đồng thời phối hợp với Toà án cùng cấp rà soát đầy đủ, chính xác các trư­ờng hợp được miễn chấp hành hình phạt (kể cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung) quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14. Lưu ý một số trường hợp sau đây:

    + Đối với ngư­ời đang chấp hành án phạt tù thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, nơi người đó đang chấp hành án, đề nghị Tòa án cùng cấp ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

    Trường hợp ngư­ời bị kết án đang thi hành án treo thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự cấp khu vực nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt rà soát và báo cáo để Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu đề nghị Tòa án cùng cấp ra quyết định miễn chấp hành hình phạt tù đang được hưởng án treo.

    + Đối với ngư­ời bị xử phạt tù đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt, thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc đề nghị Tòa án cùng cấp ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

    + Đối với người đang chấp hành án cải tạo không giam giữ thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực, nơi người đó cư trú hoặc làm việc, đề nghị Tòa án cùng cấp ra quyết định miễn chấp hành án.

    + Khi kiểm sát việc miễn chấp hành hình phạt cần lưu ý, đối với các trường hợp quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 chỉ quy định việc miễn chấp hành hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung nếu có); những vấn đề khác liên quan như:­ trách nhiệm bồi thư­ờng thiệt hại, xử lý vật chứng, trả lại tài sản… thì ngư­ời được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thi hành.

    e) Quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 thì đương nhiên được xóa án tích.

    g) Quy định tại điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: tiếp tục thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 (Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành); điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 (Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích).

    h) Quy định tại điểm i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: chỉ áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS năm 2015. Các quy định khác của BLTTHS năm 2015 có lợi cho người phạm tội so với BLTTHS năm 2003 nhưng không phải để thi hành các quy định có lợi của BLHS năm 2015 thì cũng chưa áp dụng.

    Ví dụ: Phải áp dụng ngay thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 368 BLTTHS năm 2015 để thi hành quy định tại Điều 66 BLHS năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Chưa áp dụng thời hạn tạm giam để điều tra là 05 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng (kể cả gia hạn) theo Điều 173 BLTTHS năm 2015 (thời hạn này ngắn hơn 01 tháng so với Điều 120 BLTTHS năm 2003, theo đó quy định là 06 tháng).

    2.2. Kể từ ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành (01/01/2018)

    Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết quy định việc áp dụng toàn bộ quy định của của BLHS năm 2015 kể từ ngày 01/01/2018, trong đó lưu ý một số nội dung sau:

    - Quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, đối với những hành vi phạm tội mà Tòa án đã áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xét xử và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/01/2018, thì không căn cứ vào những quy định của BLHS năm 2015 khác với quy định của BLHS năm 1999 đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm. Chỉ được kháng nghị giám đốc thẩm trường hợp: (1) dựa vào căn cứ khác; (2) đã kháng nghị trước ngày 01/01/2018, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14.

    Ví dụ: Lê Văn D bị kết án về tội sử dụng trái phép tài sản theo khoản 3 Điều 142 BLHS năm 1999 (do gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) và bản án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/01/2018. Từ ngày 01/01/2018, không căn cứ vào khoản 3 Điều 177 BLHS năm 2015 (tương ứng về hình phạt) quy định “sử dụng trái phép tài sản trị giá 1,5 tỉ đồng trở lên” để kháng nghị giám đốc thẩm bởi tình tiết này là quy định khác với tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 142 BLHS năm 1999.

    - Thực hiện quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 kể từ ngày 01/01/2018, tiếp tục thực hiện việc giám định hàm lượng chất ma túy để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được đối với 04 trường hợp: (1) chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch; (2) chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; (3) xái thuốc phiện; (4) thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Các trường hợp khác thực hiện theo đúng quy định của BLTTHS năm 2015.

    Từ nay cho đến trước ngày 01/01/2018, tiếp tục áp dụng các văn bản hướng dẫn hiện hành: Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999; Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 để thực hiện việc giám định hàm lượng chất ma túy…



    [1] Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định: “Đối tượng hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Pháp lệnh này bao gồm: 1. Người có công với cách mạng: a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; c) Liệt sĩ; d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; h) Bệnh binh; i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; m) Người có công giúp đỡ cách mạng.

    2. Thân nhân của người có công với cách mạng quy định tại khoản 1 Điều này”.

    [2] - Ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư nước ngoài, đến dòng tiền vốn đầu tư vào Việt Nam, các dự án vay vốn, các giao dịch tài chính, ngân hàng với nước ngoài;

    - Gây khó khăn cho hoạt động tài chính, ngân hàng, tín dụng cũng như các hoạt động kinh tế khác;

    - Ảnh hưởng lớn đến uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế mà lâu nay chúng ta đang cố gắng tạo dựng….

    [3] Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi điều 1 Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017

    [4] Tuy nhiên, Công văn số 306/TANDTC-PC ngày 12/10/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” khi giải quyết vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trong đó nêu rõ: việc khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 không quy định cụ thể dấu hiệu “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” không phải là quy định có lợi cho người phạm tội để áp dụng từ ngày 01/7/2016.

    [5] Đây là một trong những hình thức kinh doanh trái phép bị xử lý hình sự. Mặc dù BLHS năm 2015 đã bỏ Điều 159 – Tội kinh doanh trái phép, nhưng một số hành vi kinh doanh trái phép ở một số lĩnh vực vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, như Điều 227. Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên quy định: “1. Người nào vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên trong đất liền, hải đảo, nội thủy, vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và vùng trời của Việt Nam mà không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

     

    Cập nhật bởi trang_u ngày 27/07/2017 09:57:51 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #476375   29/11/2017

    các điểm mới của BLHS sửa đổi năm 2017 khi nào mới có phần 2 vây Dan luật

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn tranvanthuantpxabhtay vì bài viết hữu ích
    nguyenanh1292 (29/11/2017)
  • #476384   29/11/2017

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3082)
    Số điểm: 63053
    Cảm ơn: 576
    Được cảm ơn 4080 lần


    tranvanthuantpxabhtay viết:

    các điểm mới của BLHS sửa đổi năm 2017 khi nào mới có phần 2 vây Dan luật

    Chào bạn tranvanthuantpxabhtay, bạn vui lòng tải file đính kèm này, mình đã thực hiện đầy đủ cả 2 phần bạn nhé! Cám ơn bạn đã quan tâm theo dõi. 

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguyenanh1292 vì bài viết hữu ích
    PhuongThanhksqs (08/05/2018)
  • #478132   12/12/2017

    hoangdieu
    hoangdieu

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:29/09/2008
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    CÒN NỮA LÀ Ở ĐÂU VẬY

     

     
    Báo quản trị |  
  • #480164   28/12/2017

    cảm ơn a nhiều nhé

     

     
    Báo quản trị |