DanLuat 2015

Toàn văn các bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam

Chủ đề   RSS   
  • #435028 31/08/2016

    trang_u
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2015
    Tổng số bài viết (2972)
    Số điểm: 37174
    Cảm ơn: 1414
    Được cảm ơn 1495 lần


    Toàn văn các bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam

    Trải qua lịch sử ngàn năm văn hiến, đến thời điểm hiện nay, chúng ta có đến 03 bản Tuyên ngôn Độc lập, bao gồm:

    1. Thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt

    2. “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi

    3. Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Dưới đây là Toàn văn các bản Tuyên ngôn Độc lập của lịch sử Việt Nam:

    1. Thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt

    Bản phiên âm tiếng Hán

    Bản dịch tiếng Việt

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư       

    Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    Sông núi nước Nam, vua Nam ở

    Rành rành định phận tại sách trời

    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

    Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời

    2. “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi

    Bản phiên âm tiếng Hán

    Bản dịch tiếng Việt

    Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết:

    Cái văn:                                       

    Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
    Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.
    Duy ngã Đại Việt chi quốc,
    Thực vi văn hiến chi bang.
    Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
    Nam bắc chi phong tục diệc dị.
    Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,

    Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
    Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
    Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

    Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
    Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong.
    Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan,
    Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.
    Kê chư vãng cổ,
    Quyết hữu minh trưng.

    Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,
    Trí sử nhân tâm chi oán bạn.
    Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;
    Nguỵ đảng hoài gian, cánh dĩ mãi ngã quốc.
    Hân thương sinh ư ngược diệm,
    Hãm xích tử ư họa khanh.
    Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;
    Liên binh kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập niên.
    Bại nghĩa thương nhân, càn khôn ky hồ dục tức;
    Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mỹ hữu kiết di.
    Khai kim trường, tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,
    Thái minh châu, tắc xúc giao long nhi hoàn yêu thộn hải.
    Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh,
    Điễn vật chức thúy cầm chi võng la.
    Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh,
    Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở.
    Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;
    Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.
    Châu lý chi chinh dao trọng khốn,
    Lư diêm chi trữ trục giai không.
    Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,
    Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.
    Thần dân chi sở cộng phẫn,
    Thiên địa chi sở bất dung.

    Dư:

    Phấn tích Lam Sơn,
    Thê thân hoang dã.
    Niệm thế thù khởi khả cộng đái,
    Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.
    Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,
    Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.
    Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,
    Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lý.
    Đồ hồi chi chí
    Ngộ mị bất vong.
    Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi thì,
    Chính tặc thế phương trương chi nhật.

    Nại dĩ:

    Nhân tài thu diệp,
    Tuấn kiệt thần tinh.
    Bôn tẩu tiền hậu giả ký phạp kỳ nhân,
    Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ.
    Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;
    Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

    Nhiên kỳ:

    Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,
    Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.
    Phẫn hung đồ chi vị diệt,
    Niệm quốc bộ chi tao truân.
    Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,
    Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.
    Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm,
    Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.
    Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập;
    Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.
    Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;
    Dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ.

    Tốt năng:

    Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,
    Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo.
    Bồ Đằng chi đình khu điện xế,
    Trà Lân chi trúc phá khôi phi.
    Sĩ khí dĩ chi ích tăng,
    Quân thanh dĩ chi đại chấn.
    Trần Trí, Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,
    Lý An, Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.
    Thừa thắng trường khu, Tây Kinh ký vị ngã hữu;
    Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.
    Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lý;
    Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên.
    Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, ký kiêu kỳ thủ;
    Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.
    Vương Thông lý loạn nhi phần giả ích phần,
    Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.
    Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong;
    Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.
    Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,
    Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô.
    Chấp nhất kỷ chi kiến, dĩ giá họa ư tha nhân,
    Tham nhất thì chi công, dĩ di tiếu ư thiên hạ.

    Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;
    Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.
    Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,
    Bản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.
    Dư tiền ký tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong,
    Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực.
    Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dã;
    Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã Yên chi sơn.
    Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu,
    Nhị thập bát nhật Thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.
    Ngã toại nghênh nhận nhi giải,
    Bỉ tự đảo qua tương công.
    Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,
    Kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.
    Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ,
    Thân mệnh trảo nha chi thần.
    Ẩm tượng nhi hà thủy càn,
    Ma đao nhi sơn thạch khuyết.
    Nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn,
    Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.
    Quyết hội nghĩ ư băng đê,
    Chấn cương phong ư cảo diệp.
    Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,
    Thượng thư Hoàng Phúc diện phược dĩ tựu cầm.
    Cương thi tái Lạng Giang, Lạng Sơn chi đồ,
    Chiến huyết xích Xương Giang, Bình Than chi thủy.
    Phong vân vị chi biến sắc,
    Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.

    Kỳ Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;
    Kỳ Mộc Thạnh chúng văn Liễu Thăng đại bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.
    Lãnh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;
    Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng.
    Lưỡng lộ cứu binh, ký bất toàn chủng nhi câu bại,
    Các thành cùng khấu, diệc tương giải giáp dĩ xuất hàng.
    Tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;
    Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.
    Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;
    Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.
    Bỉ ký uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;
    Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.
    Phi duy mưu kế chi cực kỳ thâm viễn,
    Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.
    Xã tắc dĩ chi điện an,
    Sơn xuyên dĩ chi cải quán.
    Càn khôn ký bĩ nhi phục thái,
    Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.
    Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ,
    Vu dĩ tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ.
    Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu, nhi trí nhiên dã.

    Ô hô!

    Nhất nhung đại định,
    ngật thành vô cạnh chi công;
    Tứ hải vĩnh thanh,
    đản bố duy tân chi cáo.

    Bá cáo hà nhĩ,
    Hàm sử văn tri.

    Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.

    Từng nghe:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
    Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Song hào kiệt thời nào cũng có.

    Cho nên:
    Lưu Cung tham công nên thất bại,
    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
    Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
    Việc xưa xem xét,
    Chứng cớ còn ghi.

    Vừa rồi:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
    Để trong nước lòng dân oán hận.
    Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
    Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
    Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
    Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
    Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
    Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
    Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
    Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
    Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
    Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
    Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
    Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
    Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
    Nặng nề những núi phu phen,
    Tan tác cả nghề canh cửi.
    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
    Lẽ nào trời đất dung tha,
    Ai bảo thần nhân chịu được?

    Ta đây:


    Núi Lam sơn dấy nghĩa
    Chốn hoang dã nương mình
    Ngẫm thù lớn há đội trời chung
    Căm giặc nước thề không cùng sống
    Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
    Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
    Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
    Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
    Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
    Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
    Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
    Chính lúc quân thù đang mạnh.

    Lại ngặt vì:

    Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
    Nhân tài như lá mùa thu,
    Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
    Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
    Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
    Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

    Thế mà:

    Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
    Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
    Phần vì giận quân thù ngang dọc,
    Phần vì lo vận nước khó khăn,
    Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
    Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
    Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
    Ta gắng trí khắc phục gian nan.
    Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
    Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
    Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
    Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

    Trọn hay:

    Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Lấy chí nhân để thay cường bạo.
    Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
    Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
    Sĩ khí đã hăng
    Quân thanh càng mạnh.
    Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
    Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
    Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
    Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
    Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
    Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
    Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
    Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
    Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
    Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
    Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
    Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
    Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ
    Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
    Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
    Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

    Bởi thế:
    Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
    Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
    Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
    Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
    Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
    Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
    Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
    Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
    Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
    Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
    Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
    Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
    Lại thêm quân bốn mặt vây thành
    Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
    Sĩ tốt kén người hùng hổ
    Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
    Voi uống nước, nước sông phải cạn.
    Đánh một trận, sạch không kình ngạc
    Đánh hai trận tan tác chim muông.
    Cơn gió to trút sạch lá khô,
    Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
    Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
    Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
    Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
    Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
    Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
    Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

    Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
    Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
    Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
    Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
    Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
    Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
    Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
    Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
    Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
    Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
    Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
    Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
    Chẳng những mưu kế kì diệu
    Cũng là chưa thấy xưa nay
    Xã tắc từ đây vững bền
    Giang sơn từ đây đổi mới
    Càn khôn bĩ rồi lại thái
    Nhật nguyệt hối rồi lại minh
    Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
    Muôn thuở nền thái bình vững chắc
    Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

    Than ôi!

    Một cỗ nhung y chiến thắng,
    Nên công oanh liệt ngàn năm
    Bốn phương biển cả thanh bình,
    Ban chiếu duy tân khắp chốn.

    Xa gần bá cáo,
    Ai nấy đều hay.

    3. Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Hỡi đồng bào cả nước,

    Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

    Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

    Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

    Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

    Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

    Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

    Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

    Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

    Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

    Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

    Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

    Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

    Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

    Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

    Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

    Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

     
    10755 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn trang_u vì bài viết hữu ích
    Xmen-8711 (01/09/2016)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #435029   31/08/2016

    trang_u
    trang_u
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2015
    Tổng số bài viết (2972)
    Số điểm: 37174
    Cảm ơn: 1414
    Được cảm ơn 1495 lần


    Mình có sưu tập được bản gốc Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn bản Bình Ngô Đại Cáo và bản Nam Quốc Sơn Hà thì chưa có nên bạn nào có sưu tập được share mình với nhé

    Tuyên ngôn Độc lập

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn trang_u vì bài viết hữu ích
    Xmen-8711 (01/09/2016)

0 Thành viên đang online
-