Tình huống tranh chấp thừa kế

Chủ đề   RSS   
  • #398035 30/08/2015

    biennhoem571

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:13/09/2012
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 90
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    Tình huống tranh chấp thừa kế

    Có một vụ việc xảy ra tại xã tôi mong được luật sư tư vấn:

    Ông An à chủ sử dụng hợp pháp 02 thửa đất. Thửa thứ nhất rộng 1.015 m2 có nhà và các tài sản trên đất. Thửa thứ 2 rộng 1.000 m2 là đất trồng tại xã Đông Trúc, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Năm 1980, ông An đi xây dựng kinh tế mới tại Lâm Đồng. Anh Bình là cháu ruột tiếp tục sử dụng 02 thửa đất này. Cho đến nay, hai thửa đất này vẫn chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong bản đồ địa chính xã lập năm 1998 đứng tên anh Bình là người kê khai, sử dụng những thửa đất này. Năm 004, ông An mất, có để lại di chúc cho anh B thừa kế 02 thửa đất của mình. Sinh thời vợ chồng ông An sinh được 2 người con là bà Chính và ông Dưỡng (bố anh Bình). Nay, bà Chính từ Lâm Đồng về kiện đòi thừa kế quyền sử dụng đối với hai thửa đất này. 

    Vậy tôi xin được hỏi luật sư : vụ việc trên đã quá thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì bà Chính có quyền khởi kiện đòi quyền thừa kế không và nếu giải quyết vụ việc trên thì giải quyết theo trình tự nào . Rất mong nhận được sự giúp đỡ của Luật sự . Tôi xin cảm ơn

     
    7096 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #442635   25/11/2016

    thuhong2712
    thuhong2712

    Female
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/10/2016
    Tổng số bài viết (13)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


                Chào bạn! Dựa vào thông tin bạn cung cấp tôi có một số góp ý như sau:

                Thứ nhất, hai mảnh đất của ông An dùng chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận nhưng trong trường hợp này ông An vẫn sẽ có quyền sử dụng đất. Đối với cả hai mảnh đất thì ông An đều sử dụng và không có bất kỳ tranh chấp nào trong khi ông sử dụng. Căn cứ vào điều 184 nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành luật đất đai 2003

    Điều 184. Thời hạn thống nhất thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được thực hiện các quyền về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

    Như vậy có thể suy ra rằng trước ngày 01 tháng 01 năm 2007 người sử dụng đất không cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cũng vẫn có thể thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau:

    Đối với trường hợp bạn kiểm tra mà thấy rằng ông An có các giấy tờ khác quy định tại điều 50 Luật đất đai 2003 thì ông An có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

    Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

    1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

    a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

    c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

    d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

    e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

    2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

    Đối với trường hợp thứ hai, nếu khi kiểm tra mà ông An không có các giấy tờ khác tại khoản 1 điều 50 luật đất đai 2003 thì vì ông An đã sử dụng mảnh đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không có tranh chấp(trong trường hợp này bạn nên đến UBND xã đề nghị UBND xã xác nhận là đất không có tranh chấp), anh Bình đã đứng tên kê khai sử dụng nên ông An có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 4 điều 50 luật đất đai 2003:

    Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

    4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

    Vì ông An có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có thể coi ông An là người có quyền sử dụng hai mảnh đất trên.

               Thứ hai, áp dụng trong trường hợp này thì hai mảnh đất trên thuộc di sản thừa kế của ông An. Và theo ý chí của mình ông An có thể thừa kế hai mảnh đất trên cho anh Bình theo quy định của điều 634 BLDS 1995:

    Điều 634.Quyền thừa kế của cá nhân

    Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

                  Thứ ba, trước khi bà Chính kiện yêu cầu Tòa án thì các bên nên có thủ tục hòa giải theo điều 135 Luật đất đai 2003

    Điều 135. Hoà giải tranh chấp đất đai

    1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

    2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.        

    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

    Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

    Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.

    Trong trường hợp các bên không đồng ý với UBND xã phường thị trấn và một bên có các giấy tờ được quy định tại khoản 1,2 và 5 điều 50 của Luật đất đai 2003 thì bà Chính sẽ kiện ra Tòa án đòi quyền thừa kế đối với hai mảnh đất trên và Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc này theo điêu 136 Luật đất đại 2003

    Điều 136. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

    Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

    1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;

    Tuy nhiên đến nay khi mà đã hết thời hiệu khởi kiện thì bà Chính mới quay về quyền thừa kế đối với hai mảnh đất này thì theo quy định của BLDS 1995 là

    Điều 648.Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

    Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

    Khi hết thời hiệu này thì không thể khởi kiện để đòi phân chia di sản thừa kế nữa. Trong trường hợp này thì vì đã hết thời hiệu khởi kiện nên bà Chính không thể kiện đòi chia lại di sản là hai mảnh đất nữa theo quy định tài điều 163 về thời hiệu

    Điều 163.Thời hiệu

    Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó, thì chủ thể được hưởng quyền dân sự,được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện.

    Nếu trong trường hợp các bên không có giấy tờ quy định tại khoản 1,2 và 5 của điều 50 Luật đất đai 2003 thì trường hợp này sẽ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận thị xã thành phố giải quyết theo khoản 2 điều 136 Luật đất đai 2003:

    Điều 136. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

    Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

    2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

    a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

    b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

             Hiện nay do thông tin bạn cung cấp còn hạn chế nên để biết thêm thông tin chi tiết hãy liên hệ với chúng tôi

     

    NGUYÊN THU HỒNG | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM (www.vietkimlaw.com)

    M: (+84-4) 3.2899.888 - E: luatvietkim@gmail.com

    Ad: CS1- Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN

    CS2 - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |