Tìm hiểu về các luật sư tiêu biểu của Việt Nam

Chủ đề   RSS   
  • #17224 20/01/2009

    MTAThu
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/04/2008
    Tổng số bài viết (126)
    Số điểm: 1545
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 5 lần


    Tìm hiểu về các luật sư tiêu biểu của Việt Nam

    Chào các bạn
    Tại chủ đề này, chúng ta hãy chia sẻ thông tin về những nhân vật lịch sử, những tấm gương luật sư, luật gia nổi tiếng mà mọi người có thể học tập và noi theo
     
    11601 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #17225   08/09/2008

    MTAThu
    MTAThu
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/04/2008
    Tổng số bài viết (126)
    Số điểm: 1545
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 5 lần


    luật sư và giáo sư Nguyễn Mạnh Tường

    Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học tại trường Albert Sarrault - Hà Nội và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa (Luận án L'individu dans la vieille cité annamite, Code des Lê, D.E., Droit, Montpellier, Imp. de la Presse Montpellier 1932) và Tiến sĩ Quốc gia văn chương (với luận án L'Annam dans la littérature française, D.E., Lettres, Montpellier 1932). Báo chí thời ấy đã coi người thanh niên Việt Nam trong một năm đỗ 2 bằng tiến sĩ là hiện tượng chưa từng có trong nền giáo dục đại học Pháp. Bạn tri âm của ông là Nguyễn Văn Huyên, người cũng làm luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Pháp.

    Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), hay còn gọi là trường Bưởi (từ 1945 đổi tên thành trường Trung học Chu Văn An). Bất mãn với chính sách kỳ thị của Pháp khiến ông bỏ dạy và mở văn phòng luật sư.

    Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp ông làm luật sư và dạy học tại Thanh Hóa và khu ba nói chung. Đến khi hòa bình lập lại năm 1954, ông trở về Hà Nội, là giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).

    Sau 1954 ông giữ các chức vụ Trưởng khoa Đại học Luật Hà Nội, Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Đoàn Luật sư, Phó Trưởng khoa Đại học Sư phạm Hà Nội; thành viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hội Hữu nghị Việt-Pháp, Hội Hữu nghị Việt-Xô và Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, sáng lập viên Câu lạc bộ Đoàn Kết, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên nghiên cứu giáo dục. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự hội nghị đàm phán ở Đà Lạt, dự các hội nghị hoà bình thế giới ở Bắc Kinh và Wien.

    Ngày 30 tháng 10 năm 1956 luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp.

    Ông mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi. Trong sổ tang tưởng niệm nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường, tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã ghi "... Vô cùng thương tiếc giáo sư - luật sư Nguyễn Mạnh Tường - Một trí thức yêu nước đã có cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục của Việt Nam".
    Tác phẩm
    -Luật sư Nguyễn Mạnh Tường để lại 14 tác phẩm bằng tiếng Pháp và 4 tác phẩm tiếng Việt.
    -Văn Phạm Việt Nam (cùng Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim) (1941)
    -Việt Nam Tự Điển (Hội Khai Trí Tiến Đức)
    -Construction de l'Orient (1937)
    -Sourires et Larmes d'une Jeunesse (1937)
    -Pierres de France (1940)
    -Apprentissage de la Méditerranée (1940)
    -Le Voyage et le Sentiment (1940)
    -Một Cuộc Hành Trình (1955)
    -Un Excommunité-HàNội: 1954-1991: Procès d'un intellectuel (Kẻ bị khai trừ-HàNội 54-92:bản án một người trí thức) Quê Mẹ Paris xb 1992
    -Lý luận giáo dục châu Âu: Từ Érasme tới Rousseau thế kỷ XVI, XVII, XVIII - Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội - 1994) 530 trang
    -Aikhylos (Eschyle) và bi kịch cổ đại Hi Lạp - Nhà xuất bản Giáo dục (1996)
    -Virgile - nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La mã cổ đại- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1996) 342 trang


     
    Báo quản trị |  
  • #17226   08/09/2008

    MTAThu
    MTAThu
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/04/2008
    Tổng số bài viết (126)
    Số điểm: 1545
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 5 lần


    Luật sư Nguyễn Hữu Thọ

    Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (10 tháng 7 năm 1910 – 24 tháng 12 năm 1996) là một trong những trí thức miền Nam đi theo Cách mạng và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

    Ông sinh tại Chợ Lớn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1930, ông học luật tại Pháp. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950, bị giam ở Lai Châu rồi Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Sau đó ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diêm bắt và bị giam tại Phú Yên.

    Khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 nhưng chưa có lãnh tụ, phía cộng sản tập trung giải thoát cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ, đang bị quản thúc tại Phú Yên. Việc giải thoát thành công và cuối tháng 11 năm 1961, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh. Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức và luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch.

    Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 6 năm 1969, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn.

    Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất.

    Tháng 4 năm 1980, sau khi Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền Chủ tịch nước cho đến tháng 7 năm 1981.

    Năm 1981, ông là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho đến năm 1987, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988.

    Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996.

     
    Báo quản trị |  
  • #17227   08/09/2008

    MTAThu
    MTAThu
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/04/2008
    Tổng số bài viết (126)
    Số điểm: 1545
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 5 lần


    Luật sư Ngô Bá Thành

    Luật sư Ngô Bá Thành: sinh năm 1931 tại Hà Nội;Tiến sĩ luật ĐH Pari;giải thưởng Levy- Ullmann ( luận án tiến sĩ luật so sánh xuất sắc nhất – Pháp); nguyên giáo sư, giám đốc tổ chức và nghiên cứu Khoa học ĐH Quốc tế giảng dạy luật so sánh Strasbourg( Pháp); đã qua học tập tại các trường ĐH Luật của Mỹ, Anh, Tây Ban Nha; nguyên Chủ tịch Hội phụ nữ quốc tế Sài gòn; nguyên chủ tịch phong trào đòi quyền sống Sài Gòn; nguyên đại diện lực lượng chính trị thứ ba Sài Gòn( bị bắt ở tù 5 năm), nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng Miền Nam ; nguyên chủ nhiệm uỷ ban pháp luật Quốc hội khoá 8, đại biểu Quốc hội khoá 6,7, 8,10; uỷ viên ban dự thảo hiến pháp 1980 và 1992 CHXHCNVN; uỷ viên uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt nam ; uỷ viên Đoàn chủ tịch, phó chủ nhiệm Hội đồng dân chủ- pháp luật UBTƯMTTQVN; phó chủ tịch Hội luật gia Việt nam ... Ngày 20 –3 –2000 bà vinh dự được nhận danh hiệu Người phụ nữ của thiên niên kỷ do tổ chức quốc tế IBC trao tặng. Bà cũng là nữ luật gia xuất sắc nhất của Việt nam trong thế kỷ 20.

     Luật sư Ngô Bá Thành thuộc thế hệ những luật sư đầu tiên ở Việt Nam, cùng thời với các  luật sư  như Nguyễn Thành Vĩnh, Trần Thị Phương Đức… Có lẽ bà cũng là một trong số không nhiều những  luật sư nữ thành danh thuộc thế hệ thứ nhất này, đồng thời cũng là một tên tuổi được bạn bè quốc tế biết đến và bày tỏ lòng ngưỡng mộ.

    Tham gia hoạt động cách mạng ngay từ những năm đầu của tuổi thanh xuân, nhưng cô gái Ngô Bá Thành ngày ấy đã khiến Mỹ Nguỵ phải khiếp sợ và không ngừng cho mật thám theo dõi và tìm cớ bắt bớ, tù đầy. Nhưng lòng yêu nước, cùng với bản lĩnh vững vàng của một luật sư đã giúp người nữ cộng sản Ngô Bá Thành bám trụ kiên cường giữa Sài Gòn máu lửa, cùng đồng chí, đồng đội hoạt động bất chấp mọi hiểm nguy, đấu tranh vì một mục tiêu duy nhất: giành độc lập thống nhất nước nhà.

    Vì vậy dù phải chịu cảnh ra tù vào tội, cuộc sống nhiều khi ngàn cân treo sợi tóc nhưng  người nữ cộng sản - luật sư Ngô Bá Thành vẫn vững vàng vượt qua mọi sóng gió, hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình mà cách mạng đã giao cho: nguyên Chủ tịch Hội phụ nữ quốc tế Sài gòn; nguyên chủ tịch phong trào đòi quyền sống Sài Gòn; nguyên đại diện lực lượng chính trị thứ ba Sài Gòn, nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng Miền Nam.

    Chuyện về luật sư Ngô Bá Thành, tôi đã từng được nghe nhiều, nên cứ thầm ao ước được một lần gặp mặt "nhân vật của lịch sử ấy". Bởi vậy lần đầu tiên chuẩn bị gặp bà, tôi không khỏi lo lắng và tự hình dung: chắc hẳn đó sẽ là một người phụ nữ hơi khô khan và nghiêm khắc. Bởi lẽ bà là một nữ luật sư, đồng thời lại là một nhà hoạt động chính trị lâu năm và rất nổi tiếng. Thời gian tiếp khách có thể phải tính theo phút, thậm chí cả đến đơn vị giây. Và khách tìm đến thì nhiều nên không phải ai cũng có duyên may được tiếp kiến. Trong khi đó tôi lại muốn "tham lam" ngồi hỏi chuyện cả một buổi chiều, chuyện đời, chuyện nghề, có biết bao nhiêu thứ có thế khai thác ở "người phụ nữ của thiên niên kỷ " ấy. Nhưng tôi liệu có 1/10 duyên may? Thật không ngờ, qua điện thoại, luật sư Ngô Bá Thành tiếp tôi khá xởi lởi :" ờ cứ đến đi cháu, muốn hỏi gì thì hỏi".

    Hoá ra bà lại là người rất dễ gần. Đưa quả xoài cát vàng ruộm cho tôi tự gọt, bà ngồi đung đua trên chiếc ghế mây yêu thích của mình, đặt cạnh cửa sổ, mắt hướng vào chiếc ti vi. Và câu chuyện giữa chúng tôi lại do chính luật sư Ngô Bá Thành mở đầu một cách hết sức tự nhiên và thân tình. Bà trò chuyện về các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế với tôi một cách thẳng thắn và nghiêm túc như với một người đã trưởng thành chứ không phải là với một sinh viên luật vừa mói ra trường, còn nhiều bỡ ngỡ và rụt rè. Phong cách nói chuyện của bà khiến người tiếp chuyện thêm tự tin. "ừ, nữ học luật tốt lắm đấy, sao lại nói là không phù hợp. Phụ nữ nhạy cảm và tinh tế, thêm kiến thức vững vàng về pháp luật sẽ rất cần cho xã hội, trước tiên là để nói lên tiếng nói của chính giới mình, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ trong xã hội".

    Luật sư Ngô Bá Thành khoe với tôi công trình nghiên cứu sắp hoàn thành của mình “ Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt nam”. Giọng nói của bà trở nên sôi nổi " Chúng ta cần những quy định cụ thể, những việc làm cụ thể để tạo cơ hội hơn nữa cho người phụ nữ. Bao giờ công trình này xong, cháu đến đây, ta tặng một cuốn".

    Tôi được biết công trình này đã góp phần tích cực nhằm thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và những mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt nam giai đoạn 2001 – 2005, đồng thời triển khai Báo cáo nghiên cứu chính sách “ Đưa vấn đề  giới vào phát triển” của Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tế năm 2000 ( ngân hàng thế giới).

    Bà nói với đầy nhiệt huyết: “Cần phải quán triệt đường lối: sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Phụ nữ hãy tự khẳng định mình. Và hãy tạo điều kiện cho lớp trẻ tự do sáng tạo. Đó là nền tảng của một xã hội văn minh”. Trong lúc bà nói, tôi đã bắt gặp trên khuôn mặt người phụ nữ tuổi ngoại thất tuần ấy những tâm huyết  và trăn trở cả một đời.

    Quả thật, suốt cuộc đời mình, luật sư Ngô Bá Thành đã hoạt động không ngừng nghỉ vì sự tiến bộ của phụ nữ, bà là một tấm gương đáng kính phục cho những người phụ nữ Việt Nam noi theo. ở tuổi mà lẽ ra bà phải được hưởng sự nghỉ ngơi và chăm sóc đặc biệt đề bù đắp lại những năm tháng hoạt động vất vả, song bà vẫn miệt mài làm việc và cống hiến hết mình cho xã hội.

    Giờ đây, người phụ nữ ấy đã được nghỉ ngơi yên tĩnh ở một nơi chốn khác, nhưng  những công trình của bà, những công lao của bà vẫn sẽ còn được người đời nhắc nhớ. Xin vĩnh biệt bà.

    (Nguồn: phongdiep.net)

     
    Báo quản trị |  
  • #17228   07/11/2008

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Luật sư Phan Anh

     

    Tưởng nhớ Phan Anh

    Hoàng Xuân Hãn

    Sau những năm các phong trào thanh niên cách mạng bùng nổ, 1929-31, chính quyền thuộc địa thấy cần phải nới rộng trung học và đại học tại Đông Dương. Dân ta hiếu học, đã hưởng ứng ngay.

    Tại Hà Nội, các trường công tư đào tạo từng lớp thanh niên đủ kiến thức tài năng để dự học các trường đại học : khoa Y, khoa Dược và khoa Luật. Kết quả là kề trước cuộc đại chiến 1939 tại Âu Châu và nhất là cuộc đại chiến Thái Bình Dương, tại nước ta sẵn có một thế hệ thanh niên trí thức, có đủ tài cán chuyên nghề, nhiều lòng muốn phục vụ tổ quốc. Họ sau nầy sáp nhập với nhóm cách mạng bấy giờ hoặc đang bị giữ trong lao tù, hoặc đang náu tiếng với nhân dân, để gây một phong trào yêu nước vô song, từ bàn tay trắng mà chống nổi mọi cuộc ngoại xâm.

    Chính Phan Anh thuộc thế hệ ấy. Sau khi tốt nghiệp luật khoa tại Hà Nội, Anh đã tới Paris, soạn các đề án về luật hiến pháp và ngoại giao, để tính đường tương lai giảng dạy luật khoa. Nhưng năm 1939, tình hình Âu Châu thành nguy ngập. Anh cùng các bạn du học phải trở về nước. Chẳng bao lâu, nhân Pháp bị bại trận, Nhật Bản tăng áp lực đối với Đông Dương. Chính quyền ở đây muốn lấy lòng trí thức, phải cho người bản xứ hành nghề luật sư. Nhờ vậy Phan Anh mới vào tập sự nghề luật sư tại một phòng cạnh nhà lao Hoả Lò, khá gần nhà tôi.

    Tôi thuộc vào lớp hơi sớm hơn Anh. Năm 1936, tôi đã từ Pháp về dạy khoa toán tại Trường Bưởi, trường mới được mang huy hiệu " Lycée ". Bấy giờ hiếm giáo sư, cho nên tôi phải phục vụ nhiều lớp, nhiều trường. Chung quy tôi không có thời giờ tiếp xúc nhiều với thế hệ Phan Anh. Vả tình hình chiến tranh tại Âu Châu, tư thế quân đội Nhật bản tại Đông Dương thúc giục tôi phải để tâm hoàn thành và công bố công trình mà tôi đã ôm ấp trong gần mười năm : DANH TỪ KHOA HỌC. Bấy giờ lòng ái quồc nồng nàn của nhân dân, nhất là của thanh niên, đã bộc lộ. Một hôm Phan Anh tới tìm tôi và bày tỏ ý kiến của một nhóm trí thức trẻ muốn ra một tờ báo nguyệt san, đặt tên là THANH NGHỊ (1), hỏi ý tôi nên bàn luận thế nào và nhờ tôi cộng tác. Tôi đã đáp rằng:

    « Bây giờ trăm mắt đổ xô vào hành động của thanh niên trí thức ta : quốc dân, chính quyền, thực dân Pháp và cả quan sát nhân Nhật. Tuy trong thực tế mình không có quyền chính trị, nhưng hãy cứ tự coi mình như con dân một nước độc lập. Đối với mọi việc đáng suy nghĩ, thì cứ nêu lên mà bàn với tư tưởng mới, thực tế. Chắc rằng toà kiểm duyệt cũng không cấm viết, mà độc giả sẽ dần quen với những suy nghĩ đứng đắn và trách nhiệm (Phan Anh rất đồng ý). Ví như tôi, tôi nghĩ một dân tộc độc lập phải có đủ danh từ để biểu diễn mọi ý về văn hóa. Vì lẽ ấy, tôi đã soạn một tập DANH TỪ KHOA HỌC và đang bàn, với anh em khoa học cho ra một tạp chí KHOA HỌC, nó bổ túc cho báo THANH NGHỊ của các anh. Nhưng cũng vì thế mà tôi không có thời giờ viết thường xuyên giúp Anh về khoa học. Trái lại, sở thích riêng của tôi là sử và cổ văn. Tôi nhận thày có nhiều khả năng góp phần mới. Nếu tôi có những điểm mới thuộc các đề tài ấy tôi sẽ đăng vào tạp chí của các anh » (2).

    Từ đó, chúng tôi thành bạn thâm giao ; một lẽ nữa là các nội nhân chúng tôi là đôi bạn đồng môn và đồng nghiệp. Trong hơn bốn năm liền, thỉnh thoảng tôi rảo bước trên phố Trường Thi, quay sang phố Quán Sứ, đến góc phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, nhìn xuống một cửa sổ dưới thấp ; nếu thấy một cái đầu tóc cắt vuông đang cúi xuống bàn trên các hồ sơ, thì biết đó là Phan Anh đang làm việc. Tôi xuống, gõ cửa bước vào. Anh đứng dậy, mắt cười, rồi chúng tôi bàn tán chuyện nước nhà và chuyện thế giới. Mà thực vậy ! Tương lai chúng ta chắc chắn đổi nhiều ! Thế Pháp đã tàn. Thế Nhật đầu bùng sau xẹp. Đức chắc sẽ thua ; Mỹ đã tiến dần về phía tây, chiếm lại Phi-lip-pin, chắc chẳng bao lâu nữa sẽ đổ bộ vào đất ta. Các nước thực dân cũ trên Đông Nam Á, như Anh, Mỹ, Hà Lan đều đã hứa độc lập cho các thuộc quốc mất vào tay Nhật. Nhờ hiệp ước " Cùng bảo-vệ Đông Dương " ký vào giữa năm 1941, mà hai quân đội Nhật và Pháp vẫn dung nhau trên đất nước ta. Tổng thống Mỹ doạ cất quyền của Pháp sau khi giải phóng Đông Dương. Trong những lúc được mời tiếp xúc hoặc với toàn quyền đô đốc Decoux, hoặc với thủ lĩnh kháng Nhật trung tướng Mordant, tôi chỉ nghe họ khuyên trí thức ta đừng nghe những lời hứa Anh Mỹ. Trong lúc ấy, họ không giấu nổi sự dự bị đón tiếp quân đồng minh. Phan Anh và tôi cùng nhau phân tích quân đội Pháp và quân Mỹ có thể đổ bộ cứu quân Pháp ở đây. Nếu quân Pháp không được cứu, thì chắc rằng Nhật sẽ đem Kì Ngoại Hầu Cường Để từ Nhật Bản về và đảng Ngô Đình Diệm sẽ cáng đáng lâm thời vận mệnh nước trước lúc hoà bình. Nhưng nếu Mỹ đổ bộ cứu Pháp thì ắt Nhật ở đây sẽ thua. Bấy giờ cơ cấu thuộc quốc vẫn nguyên, mà mình không vũ lực, thì sẽ mất một cơ hội độc lập như đã mất cơ hội đại chiến trước : cuộc khởi nghĩa Duy Tân hỏng vì nội phản, việc tiếp nhập Phục Việt hỏng vì bất lực ; còn bản yêu sách độc lập của Nguyễn Ái Quốc trước nhân viên Hội Nghị Hoà Bình Versailles thì cũng chỉ có tính cách tượng trưng ". Trong phòng giấy nhỏ ở cạnh Hỏa Lò, tôi đã ngỏ những thắc mắc lo lắng ấy. Vào cuối năm 1944, tại.thành phố Hà Nội đã có những việc rải truyền đơn, hô khẩu hiệu cách mạng, kêu gọi dân đánh Nhật, đánh Pháp; ngoài đường lại có một vài vụ phá cột đèn, phá điếm điện thế. Tôi lại bảo Phan Anh:

    « Mặc dầu Pháp đàn áp, nhưng đảng cách mạng vẫn còn tổ chức. Nghe nói Liên Hợp Quốc Cộng Trung Quốc và cố vấn Mỹ cung cấp vũ khí cho ta để đánh Nhật; nếu sự ấy là thật, thì may gì ta cũng sẽ dự phần chiến thắng Nhật, và có cơ đòi lại độc lập cho ta. Trong nhóm Thanh Nghị, nghe nói có người trong đảng. Vậy, ngoài tuyên truyền, mặc dầu là vũ trang. Cách mạng có thực lực cơ bản gì không ? »

    Phan Anh chỉ cười mà đáp rằng : « Tôi cũng nghe như vậy ! »

    Chúng tôi chẳng lấy làm lạ khi nghe tiếng súng nổ suốt đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945, và rạng ngày sau các đài truyền thanh cho hay rằng quân đội Pháp tại Đông Dương đã bị Nhật giải giáp. Sự lạ là không thấy Mỹ phản ứng giúp Pháp và Nhật không đưa Cường Để về. Trái lại, chính phủ Nhật sai sứ thần tới Huế chuyển lời chính phủ Nhật Bản cho vua Việt Nam rằng chính quyền thuộc địa Pháp đã bị khử trừ, và nếu Việt Nam tuyên bố độc lập, thì chính phủ Nhật Hoàng thừa nhận. Hơn một tuần sau, chúng tôi mới được tin rằng Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập, quyết định tự cầm quyền với tôn chỉ " DÂN VI QUÍ " (3) và kêu gọi tất cả nhân dân hỗ trợ.

    Ngày 23 tháng ấy, một viên lãnh sự Nhật tới đưa tôi ba bức thư, một gửi cho tôi ; hai thư kia nhờ tôi chuyển hộ. Những thư này do văn phòng vua ở Huế, nhờ sứ quán Nhật chuyển mời Vũ Văn Hiền, Phan Anh và tôi vào Huế để bàn cùng Bảo Đại nên thực hiện độc lập tương lai cho nước bằng cách nào. Sau khi gặp nhóm Thanh Nghị, Hiền và Anh bằng lòng cùng tôi đáp lời mời và cùng đi. Bấy giờ ở Huế, cũng như khắp nước, lòng ái quốc của nhân dân lên cực độ. Cho đến nhà Vua, cũng chịu ảnh hưởng chung. Vậy đã có thư mời nhiều trí thức, nhiều chính khách có tiếng, ngoài những người đang bị lao tù. Riêng được mời một số nhân vật mà quân đội Nhật đã giấu để khỏi bị công an thực dân bắt, nhất là Trần Trọng Kim và Ngô Đình Diệm. Nhưng quân đội Nhật không chuyển thư mời cho Diệm, vì Diệm chủ trì đưa Cường Để thay Bảo Đại, mà Nhật lại không muốn có chuyện xáo lộn trên đất Việt Nam. Tuy vậy, Kim, Hiền, Anh và tôi đồng ý rằng : " Thế Nhật Bản chỉ còn đứng được hơn một năm là cùng. Chính phủ nào bắt đầu từ bây giờ cũng chỉ có chừng nấy để củng cố thế độc lập của nước ta mà thôi. Vậy nên khuyên Vua mời Ngô lập chính phủ vì y được người Nhật tin và nhóm nhân dân " thân Nhật " ủng hộ ". Không ai bảo ai, những người được mời đều khuyên Bảo Đại như vậy. Đổng lý văn phòng vua bấy giờ là Phạm Khắc Hoè, tuy thuộc quan trường bảo hộ, nhưng có " óc tân tiến ", lại là dây liên lạc giữa Bảo Đại với thanh niên và nhiều chính khách yêu nước ở Huế. Hoè lại viết thư cho Diệm, nói Vua mời về lập nội các. Lần nầy Nhật chịu chuyển thư, nhưng Diệm từ chối, lấy cớ bệnh không về. Cuối cùng Trần Trọng Kim, tuy còn ốm, phải nhận lời Bảo Đại nằn nì tha thiết lập một chính phủ cách tân, trong ấy Phan Anh phụ trách bộ Thanh niên để tránh tiếng bộ Quốc phòng, vì ta chưa có bộ đội và không muốn để ai hiểu lầm và lợi dụng. Còn mục tiêu chung thì gấp rút trong khoảng một năm, tập cho quốc dân quen với tính cách độc lập tự tin, để đến khi hoà bình trở lại, Đồng minh không có cớ đặt ách ngoại trị vào cổ dân ta. Trong khoảng ba tháng, Phan Anh đã lập được tại nhiều tỉnh những thanh niên đoàn học tập vũ nghệ, và nhất là lập được tại Huế một trường võ bị cao cấp, gọi là trường THANH NIÊN TIỀN TUYẾN để một số sinh viên đại học cũ tập thành sĩ quan. Chính phủ lại yêu cầu quân đội Nhật trả lại những khí giới họ đã tịch thu, và thả ra những quân nhân người Việt, để họ huấn luyện thanh niên học tại các trường võ bị.

    Tuy biết rằng chúng tôi chỉ nhận nhiệm vụ mang tính cách tạm thời với hi sinh, nhưng chính phủ và tất cả nhân viên say sưa với công việc, tranh thủ với thời gian. Nhưng thế Nhật tan chóng hơn mình đoán. Chính phủ toan từ chức để Vua có thời giờ họp những người cách mạng chống Nhật, phòng khi đối thoại với Đồng minh. Đầu tháng bảy, nguyên soái Nhật, trung tướng Suchi Hachi, báo tin muốn trao trả chính quyền Nam bộ, Bắc bộ và sự quản lí các công vụ Đông Dương cũ. Một nửa chính phủ ra Hà nội, đi cùng thủ tướng. Đến nơi, Hiền và Anh được các bạn Thanh Nghị cho hay rằng phong trào cách mạng chống Nhật đã bành trướng từ Cao Bằng đến vùng Bắc Kạn, Thái nguyên. Họ có tổ chức và có vũ khí Mỹ cho. Chúng tôi hơi yên tâm, nhưng cũng tự hỏi rằng vũ khí Mỹ đã cho có bằng khí giới Nhật sẽ cho khi Mỹ đổ bộ. Thủ tướng nhờ bắt liên lạc với nhân vật cao cấp trong phong trào để thương lượng lợi chung, nhưng rồi lại gặp một đảng viên rất trẻ chỉ biết tuyên truyền. Không đợi lâu được, chính phủ trở về Huế để lo việc tiếp thu chủ quyền Nam phần. Tôi phải ở lại Hà Nội, tiếp tục thu nhận cơ quan đại học. Trước lúc từ giã Phan Anh, tôi dặn các sự đã bàn : tôi sẽ đồng tình từ chức và khuyên những người cách mạng sẵn sàng lập chính phủ mới. Trần Trọng Kim trở về Huế, đề cử Nguyễn Văn Sâm làm khâm sai Nam phần. Trước khi rút lui chính phủ giúp Vua hiệu triệu người mới. Nhưng biến cục chiến tranh Thái Bình Dương giồn giập. Bom nguyên tử ném vào đất Nhật. Nhật hoàng ra lệnh cho quân đội mình đầu hàng. Có tin quân đội Anh và Trung Quồc sẽ vào Việt Nam nhận sự đầu hàng của quân Nhật. Ở Bắc phần, khâm sai Phan Kế Toại từ chức, đảng VIỆT MINH kháng Nhật ra lệnh tổng khởi nghĩa. Lãnh tụ đảng, Hồ Chí Minh, về Hà Nội ; thực ra không mấy ai biết đó là ai. Những tin đồn "đoàn quân Việt Mỹ" sắp về, làm cho toàn dân say sưa phấn khởi. Hành động cuối cùng của Chính phủ Huế là giúp Vua, đại diện chính thức quốc tế của Việt Nam, đánh điện cho chủ tịch năm nước Đồng minh, yêu cầu nhìn nhận sự độc lập đã thành của nước. Rồi phái Hồ Tá Khanh vào Nam, Phan Anh ra Bắc để trấn tĩnh nhân dân và tra xét tình hình. Phong trào cách mạng không đáp lời mời hợp tác của Bảo Đại. Trái lại, ngày 21 tháng 8, yêu cầu vua thoái vị. Bấy giờ đã biết Hồ Chí Minh cũng là Nguyễn Ái Quốc, Bảo Đại bèn tuyên bố thoái vị (24-8), để chính phủ cách mạng dễ thương thuyết độc lập với Đồng minh. Trên đường ra Bắc và vào Nam, Phan Anh và Hồ Tá Khanh đều bị cách mạng bắt giữ rồi được thả ra.

    Ngày 28 tháng 8, Hồ Chí Minh chính thức lập chính phủ cách mạng đầu tiên, trong đó ít ra cũng có ba bốn bạn Phan Anh trong nhóm Thanh Nghị. Trong Nam, nhờ quân Anh giúp, quân Pháp chiếm lại Sài Gòn rồi đánh lên miền Bắc. Những sĩ quan đầu tiên điều khiển cuộc Nam tiến là những cựu sinh viên trường Tiền Tuyến lập bởi Phan Anh. Quân Trung Quốc ồ ạt kéo vào Bắc việt để tiếp thu vũ khí quân Nhật. Những người Việt chống Pháp từ trước lưu vong, nay theo về, với danh nghĩa Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Họ được quân Trung Quốc hỗ trợ để tranh quyền với chính phủ lâm thời. Một mặt khác, quân Pháp đã được quân Trung Quốc bằng lòng cho ra Bắc thay thế mình. Muốn ngăn cản quân Pháp thì chính phủ lâm thời bất lực ; muốn điều đình để đợi thời thì phải có hoà khí bên trong. Vì vậy Hồ Chí Minh đã cấp tốc tổ chức bầu quốc hội, dành riêng cho các đảng quốc gia 70 ghế, và ngày 2 tháng 3, nhóm quốc hội giải tán chính-phủ " Việt Minh " lâm thời. Một chính phủ liên hiệp và kháng chiến được thành lập với một số nhân vật tựng trưng '' quốc gia " : Nguyễn Hải Thần (phó chủ tịch), Huỳnh Thúc Kháng (nội vụ), Nguyễn Tường Tam (ngoại giao), Vĩnh Thụy (tức là Bảo Đại, cố vấn) và Phan Anh giữ bộ quốc phòng, có lẽ vì Anh đã từng giữ bộ thanh niên dưới triều Bảo Đại.

    Phan Anh tìm tôi để bàn chuyện. Anh cho biết rằng tình hình nước rất bối rối. Tại Trùng Khánh, Tưởng Giới Thạch đã bán rẻ Bắc kì cho Pháp và đành ép ta nhận các điều kiện Pháp đã đưa ra để đem quân ra Bắc. Anh Mỹ không bênh ta vì họ cần Pháp ở Âu Châu để chống Nga. Các người đảng quốc gia thì không tự lượng sức mình, cứ tưởng có thể mượn sức quân Tưởng ngăn Pháp đổ bộ. Nghe nói có hôm Lư Hán (tướng Vân Nam) toan bắt cụ Hồ, và có lúc cụ Hồ đã toan cùng Bảo Đại trao đổi chức năng, chủ tịch chính phủ và cố vấn, cho dễ điều đình. Anh nói : ''Chính trị phải thực tế. Chi bằng toàn dân đoàn kết, tuỳ sức mình mà kí với Pháp hiệp ước thuận lợi nhất để tồn tại và điều đình kiên trì về sau " .

    Anh cũng đồng ý với tôi, chức vị bộ trưởng quốc phòng chỉ là tượng trưng. Bộ đội ở trong tay chủ tướng Võ Nguyên Giáp. Như thế là hợp lí trong trường hợp này. Bấy giờ chỉ có Việt Minh mới có điều kiện thực tế tổ chức gấp một bộ đội làm hậu thuẫn cho chính phủ chống thực dân, có phương tiện tổ chức du kích khắp thôn quê nếu quân Pháp muốn đặt đô hộ trở lại. Liền sau đó, ngày 6 tháng 3, Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh (Quốc Dân Đảng) kí với Sainteny (cả ba tên đều là giả) hiệp ước để quân đoàn Leclerc đổ bộ lên Hải Phòng, đáp lại lời hứa của nước Pháp " nhận Cộng Hoà Việt Nam là một nước tự do, có chính phủ riêng, có quốc hội riêng, có quân đội riêng, và có tài chính riêng ; nhập phần Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Về điều thống nhất ba Kỳ, thì chính phủ Pháp cam đoan sẽ chấp nhận sụ quyết định của nhũng dân tộc sẽ được trưng cầu ý kiến ".

    Quân Pháp đổ bộ liền lên bến Hải Phòng, mặc dầu một nhóm bộ đội Trung Quốc đột kích. Chỉ một mình Giáp và Phan Mỹ, em ruột Phan Anh, tiếp xúc với Leclerc. Bộ trưởng quốc phòng hoàn toàn ngoài cuộc ! Bắt đầu từ ngày 18-3, quân đội thiết giáp Pháp ồ ạt thị oai ở các đường Hà Nội. Bấy giờ ai cũng nhận thấy rằng chính phủ mình, cộng hoà hay quân chủ, quốc gia hay cộng sản, nếu không quân đội nghiêm túc, nhân dân ủng hộ, ngoại giao khôn khéo, thì cánh thực dân lập lại chế độ thuộc địa như xưa. Bấy giờ đã hay tin rằng đô đốc d'Argenlieu với đoàn cố vấn hành chánh không đồng ý " rộng rãi " với đại tướng Leclerc và tay mật vụ Sainteny. Hồ Chí Minh quyết định bước sang giai đoạn điều đình cấp tốc với chính phủ Pháp. Hiền và tôi đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt với Nguyễn Tường Tam và Võ Nguyên Giáp làm trưởng và phó chủ tịch (19-4 / 11-5-1946). Trù bị đây là trù bị cho hội nghị chính thức tại Paris định họp vào mùa hè năm ấy. Đã dự bị Nguyễn Tường Tam và Phạm Văn Đồng làm trưởng và phó phái đoàn, Vũ Văn Hiền và Phan Anh sẽ là chân quan trọng. Nhưng d'Argenlieu định phá hội nghị. Ông đã bịa ra Hội nghị trù bị để có thời giờ lập nước Nam kì tự trị, rồi họp một hội nghị Đà lạt thứ hai (1-8) với các nước Mên, Lào, Nam kì và xứ Mọi. Những chính khách Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội đều bỏ chức và trốn tránh sang Trung Quốc. Nguyễn Tường Tam không đi dự Hội nghị Paris nữa. Vũ Văn Hiền bị bệnh cũng không đi. Ngày 31 tháng 5, Phan Anh từ giã tôi, theo Chủ tich nước ta và phái đoàn điều đình lên máy bay đi Pháp, mặc dầu d'Argenlieu muốn hoãn chuyến đi này lại, vì tại Pháp chưa có quốc hội, chưa có chính phủ chính thức.

    Khi Chủ tịch và phái đoàn ta tới đất Pháp, họ phải đợi ở miền nam nước Pháp, " du lịch " chung quanh Biarritz đến gần cuồi tháng 6, sau khi những đảng hữu thắng trong cuộc bầu cử 2-6 và G. Bidault thành lập chính phủ. Chủ tịch phải đợi đến 22-6 mới lên Paris và được tiếp đón long trọng. Còn các phái viên, như Phan Anh, thì lên Paris sớm, kẻ tham quan phong cảnh, người nối dây liên lạc. Phan Anh chú ý về sở học của mình là luật khoa. Muốn làm bớt uy thế của Việt Nam và tránh ảnh hưởng của các tả đảng Pháp, chính phủ Bidault quyết định hội nghị họp tại Fontainebleau. Hội nghị bắt đầu ngày 6-7. Chủ tịch đoàn là Phạm Văn Đồng, tổng báo cáo viên là Phan Anh. Phan Anh lại là chân lí luận chắc chắn, biện từ sắc bén ; thân hình thấp nhưng đầy đặn, đầu tóc vuông vắn. Bấy giờ, các nhà báo có kẻ chú ý đến Anh, và nói đùa Phan Anh là " một cái lon thuốc hút (pot à tabac) nhưng mà thuốc cay đậm ".

    Rồi hội nghị nầy, cũng như hội nghị Đà Lạt, thất bại vì ta không thể chịu ách nặng Liên bang Đông Dương và nhất là không thể chịu để lìa tách Nam bộ. Phái bộ đành bỏ dở Hội đàm ra về. Xuống tàu Pasteur ngày 14-9, để chủ tịch chính phủ ta ở lại kí với M. Moutet, bộ trưởng hải ngoại, một " tạm ước " trước khi ra về. Ngày 19-9, cụ Chủ tịch xuống tàu binh Dumont-d'Urville đi Đông Dương, ngày 18-10 hội đàm với d'Argenlieu ở vịnh Cam Ranh. Ngày 20-10 về đến Hà Nội. Trong gần 5 tháng, Chủ tịch đi vắng mà chỉ trở về với một tạm ước kém hiệp ước tháng 3 ! Trong nước, phái thực dân lấn áp dần dần : thành-lập Nam kì tự trị, chiếm các vùng dân tộc thiểu số, một vài điểm chiến lược hay kinh tế như tỉnh lị Lạng Sơn, Bắc Ninh, phủ Toàn quyền, toà Tài chánh, và tự thu quan thuế ở Hải Phòng.

    Cụ Chủ tịch vẫn giữ thái độ trấn tĩnh. Nhưng các nhân viên, sau 5 tháng ở Pháp về với nhiều nỗi lo âu và thất vọng. Coi chừng mỗi người phải quyết đi vào một chí hướng. Tôi còn nhớ khi gặp thi sĩ Xuân Diệu. Đại biểu báo chí vừa về, anh ta bảo với mọi người : '' Có nhiều thể chế cộng hoà, ta phải liệu chọn ". Phan Anh, về hình thức vẫn là bộ trưởng quốc phòng, chắc đã được Giáp, nhất là Phan Mỹ, cho biết rõ tình hình nguy ngập về võ bị. Tôi phải đợi đến hôm cụ Chủ tich về, chiêu đãi thân sĩ, mới có dịp gặp lại Phan Anh. Tôi cũng được mời vì là nhân viên hội nghị Đà Lạt. Bước vào phòng khách, tôi thấy người kết cụm trò chuyện xôn xao. Trông sang một góc buồng, thấy Phan Anh ngồi một mình với một cuốn sách ở tay. Tôi liền bước thẳng tới. Anh đứng dậy, tươi cười bắt tay. Tôi đùa đọc câu Kiều:

    " Chi bằng riêng một biên thuỳ ! "

    Anh vội mỉm cười mà bảo:

    " Chớ đọc nối câu sau ".

    Chúng tôi đều biết đến câu sau : " Sức này đã dễ làm gì được nhau ". Tôi hiểu ý của Anh, nhưng tôi cũng đùa đáp:

    '' Sao lại sợ ? Đó là lời phái đoàn ta phải nói với Pháp ! ".

    Câu nói ấy là ngẫu nhiên, chứ bấy giờ tôi chưa biết lời tướng Salan đã bảo Hoàng Minh Giám sau khi ta từ chối mọi điều ức hiếp của Pháp, rằng : "Sự đã rõ ràng, chỉ còn cách đánh nhau giữa chúng ta !".

    Tôi hỏi : '' Đọc sách gì thế ? "

    Anh giở bìa sách. Tôi đọc : " LE ZERO ET L' INFINI ".

    Tôi hơi ngạc nhiên, Anh liền bảo : " Không phải sách toán đâu ! Sách này hiện là best-seller bên Pháp, tôi mới mua về ". Tôi hỏi qua nội dung thì Anh chỉ cười không đáp. Vừa lúc ấy viên lãnh sự Anh, Trebor Wilson, là một người Anh đã làm lãnh sự nhiều năm ở Hà Nội, và người ta cho là một thám tử đặc sắc, đi lại gần chúng tôi, vì y đã biết tôi qua thư kí của y là một đàn bà người Anh và vợ bạn tôi là Hà Văn Vượng. Y chào Anh và tôi, rồi nhìn trừng trừng bìa sách của Anh, tủm tỉm cười và nói : " Bonne lecture ! ", nghĩa là " Đọc tốt nhỉ ! ". Bấy giờ tôi không hiểu câu khen bí mật kia. Sau tôi mới biết sách ấy có một tiếng giội lớn bên Âu Châu vì chỉ trích thâm trầm chế độ và tư tưởng của Staline trong các vụ giết các bạn hữu đồng chí (4).

    Sau đó tôi gặp Anh, nói chuyện lâu. Anh cho hay rằng mình tưởng có thể tựa vào các tả đảng ở Pháp để dễ điều đình hơn. Nhưng họ còn khắc nghiệt hơn cả hữu đảng, vì trong khi tranh giành bầu cử, họ sợ mang tiếng đã phá sản quyền lợi quốc gia. Kết luận là sự nhượng bộ trước áp lực thực dân cũng không đủ ; sự hoà giải giữa các đảng phái trong nước cũng chỉ làm yếu tổ chức binh bị. Vì vậy một chính phủ mới được thành lập, thải những phần tử tượng trưng. Võ Nguyên Giáp trở lại bộ quốc phòng. Ấy vào ngày 3 tháng 11 năm 1946. Từ đó đến tháng 5 năm 1954, tôi không gặp lại Phan Anh nữa. Từ bấy giờ, cánh thực dân và cánh quân nhân nhất quyết lập lại chính quyền Pháp trên đất Việt. Họ dùng phép " làm trước cãi sau " mà lấn dần dần, để cho ta phản ứng lại thì ta thành khiêu khích. Bấy giờ họ sẽ dùng vũ lực là thanh toán " dễ dàng " vấn đề Việt Nam.

    Ngày 20 tháng 11, vịn vào việc tranh chấp quan thuế ở Hải Phòng, tướng Valluy đã tàn sát và chiếm thị trấn: dân Hà Nội sợ bị tập kích như vậy, nên phần lớn tản cư. Tôi không biết Phan Anh đi về đâu. Hai bộ đội sợ nhau, nên hành động bảo vệ bị coi là hành động khiêu khích (5). Trong tinh thần ấy, chiến tranh Pháp Việt bùng nổ từ tối ngày 19-12. Năm sau tôi mới biết Phan Anh đã lên Chiến khu Việt Bắc với Cụ Hồ.

    Hoàng Xuân Hãn

    (bài đã đăng Đoàn Kết số 431, 02.1991)

     

     
    Báo quản trị |  
  • #17229   07/01/2009

    haminhgiap
    haminhgiap
    Top 500
    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:18/09/2008
    Tổng số bài viết (183)
    Số điểm: 485
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 6 lần


    Một chủ đề rất hữu ích để chúng ta nhìn lại con người và sự kiện!

    Cảm ơn bạn trathainguyen đã lập chủ đề này cho mọi người cùng tham khảo!

    Tôi xin bổ xung thông tin về một số LUẬT SƯ khác có tên tuổi và đóng góp cho cộng đồng và lịch sử pháp luật Việt Nam:


    1./ Luật sư Ngô Bá Thành

    Nữ luật sư Ngô Bá Thành (1931 - 2004), tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô Bá Thành là tên người chồng quá cố của bà) nguyên là Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật Quốc hội các khoá 6, 7, 8 và 10, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam.

    Bà sinh ra tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là con gái của ông Phạm Văn Huyến, bác sĩ thú y đầu tiên của Việt Nam. Năm 26 tuổi, bà bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ Luật tại Pháp. Sau đó, bà được đích thân Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thời bấy giờ, ông Dag Hammarskjöld, mời làm việc cho ban luật quốc tế với tư cách là nữ luật gia Việt Nam đầu tiên thông thạo ba hệ thống pháp luật và ba ngoại ngữ Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Tuy nhiên bà đã từ chối để nhận một công việc khác tại Việt Nam.

    Bà là Phó Chủ tịch Hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật Quốc hội, Đại biểu Quốc hội từ khóa 6 đến khóa 8 và khóa 10. Tuy nhiên trong lần ứng cử tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 vào Quốc hội khóa 9, bà đã không được bầu. Trong trả lời phỏng vấn của đài BBC, bà đã tức giận gọi đây là sự gian lận. Đến khóa sau, bà được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ra ứng cử tại Hà Nội và đã trúng cử vào Quốc hội khóa 10 (1997). Tới lần bầu cử Quốc hội khóa 11, bà cũng ra ứng cử tại Hà Nội nhưng đã thất cử mặc dù đang là Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa 10.

    Năm 1998 Uỷ ban về Phụ nữ của Viện Tiểu sử Hoa Kỳ (ABI) đã bầu bà là "Người phụ nữ của năm 1998". Cũng năm đó Trung tâm tiểu sử quốc tế (IBC) bầu bà là "Người phụ nữ thiên niên kỷ", đồng thời trao cho bà chức vụ Phó tổng giám đốc Trung tâm tiểu sử quốc tế đầu tiên khu vực châu Á".

    2./ Luật sư Nguyễn Hữu Thọ



    Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (10 tháng 7 năm 1910–24 tháng 12 năm 1996) là một trong những trí thức miền Nam đi theo Cách mạng và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

    Ông sinh tại Chợ Lớn, Sài gòn

    (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1930, ông học luật tại Pháp và trở về nước năm 1933. Hành nghề luật sư khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ, ông luôn bảo vệ công lý, bênh vực người d

    ân vô tội trước tòa án thực dân. Năm 1947, ông đã vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo... ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn gửi Chính phủ Pháp, đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950, bị giam ở Lai Châu rồi Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Sau đó ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diêm bắt và bị giam tại Phú Yên.

    Khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 nhưng chưa có lãnh tụ, phía cộng sản tập trung giải thoát cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ, đang bị quản thúc tại Phú Yên. Việc giải thoát thành công và cu

    ối tháng 11 năm 1961, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh. Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức và luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch.

    Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 6 năm 1969, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn.

    Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất.

    Tháng 4 năm 1980, sau khi Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền Chủ tịch nước cho đến tháng 7 năm 1981.

    Năm 1981, ông là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho đến năm 1987, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988.

    Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996.

    3./ Luật sư Vũ Trọng Khánh

    Ông Vũ Trọng Khánh (13 tháng 3, 1913 – 1996) là một luật sư người Việt Nam. Ông là Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Sinh ra trong một gia đình tiểu thương ở Hà Nội. Đỗ cử nhân luật năm 1936 tại Hà Nội, ông từng mở văn phòng luật sư ở Hải Phòng và tích cực tham gia hoạt động bí mật cũng như bào chữa cho nhiều chiến sĩ cách mạng tại tòa án của người Pháp.

    Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông nhận chức Thị trưởng Hải Phòng, rồi được cử làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp tháng 8 năm 1945.

    Ông là thành viên Ủy ban dự thảo Hiến pháp được lập ra ngày 20 tháng 9 năm 1945.

    Ông tham gia soạn thảo nhiều văn bản pháp qui cho chính quyền, tham gia kháng chiến và về tiếp quản Hà Nội tháng 10 năm 1954, rồi tiếp quản Hải Phòng tháng 5 năm 1955.

    Ông từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hải Phòng, Chủ tịch Hội Luật gia Hải Phòng.

    Luật sư Vũ Trọng Khánh mất vào đầu năm 1996.

    4./ Luật gia, Giáo sư Vũ Đình Hòe


    Ông Vũ Đình Hòe (sinh năm 1912) là luật gia, nhà báo, Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Ông nguyên quán làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, là hậu duệ đời thứ tư của Tiến sĩ Vũ Tông Phan (1800-1841).

    Tốt nghiệp khoa Luật khóa 2 của Đại học Đông Dương, Vũ Đình Hoè chọn nghề dạy học ở các trường tư thục nổi tiếng Thăng Long và Gia Long, nơi mà ông từng được mời đứng lớp khi còn là sinh viên để lấy tiền trang trải học phí.

    Ông tham gia nhóm trí thức cấp tiến Thanh Nghị, làm Chủ nhiệm tạp chí văn chương, chính trị và kinh tế Thanh Nghị, xuất bản từ ngày 15 tháng 5 năm 1941 đến tháng 8 năm 1945.

    Ông cùng Phan Thanh, Hoàng Minh Giám tham gia phân bộ Đảng Xã hội Pháp của Jaurès, cùng nhà văn Nhất Linh và kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện lập Hội Ánh sáng chuyên dựng nhà tranh tre hợp vệ sinh cho dân nghèo.

    Ông là một trong các thành viên sáng lập của Đảng Dân chủ Việt Nam (30 tháng 6 năm 1944) và giữ chức ủy viên Trung ương Đảng. Sau này Đảng Dân chủ tham gia vào Mặt trận Việt Minh.

    Ngày 16 tháng 5 năm 1945, Hội Tân Việt Nam được thành lập và Vũ Đình Hòe làm Tổng thư ký. Ông cũng làm Phó Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ (thành lập năm 1938) mà Hội trưởng là Nguyễn Văn Tố.

    Ông nhận nhiệm vụ vào Bắc Bộ phủ (nhờ có Nguyễn Văn Huyên giới thiệu) thuyết phục Khâm sai Phan Kế Toại từ chức, sau đó đi Huế thuyết phục hai người đồng sáng lập Thanh Nghị là Phan Anh và Vũ Văn Hiền rút ngay ra khỏi chính phủ Trần Trọng Kim.

    Ông có quan hệ thân thiện với các lãnh tụ cộng sản như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Tháng 8 năm 1945 ông được cử đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào do Việt Minh tổ chức ở Tuyên Quang để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

    Ông là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, đại diện cho Đảng Dân chủ.

    Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 rồi thay luật gia Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong suốt 15 năm sau đó. Trên cương vị Bộ trưởng Quốc gia giáo dục, ông cho mở cửa lại Đại học Đông Dương, từ nay là Đại học Quốc gia giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt. Bản thân ông cũng trở thành một trong những vị giáo sư đầu tiên của nền đại học Việt Nam mới, cùng Võ Nguyên Giáp giảng môn Kinh tế cho các lớp xã hội - chính trị đặc biệt.

    Năm 1957, ông là một trong số 29 thành viên Ban sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Ban này đã dự thảo ra Hiến pháp năm 1960.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) - Ảnh tư liệu

    Năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể, ông chuyển về Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, làm chuyên viên nghiên cứu luật pháp và về hưu năm 1975.

    Hiện nay ông là một trong hai Bộ trưởng trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn sống (người thứ hai là Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

    5./ Luật sư, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường

    Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học tại trường Albert Sarraut và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa (Luận án L'individu dans la vieille cité annamite, Code des Lê, D.E., Droit, Montpellier, Imp. de la Presse Montpellier 1932) và Tiến sĩ Quốc gia văn chương (với luận án L'Annam dans la littérature française, D.E., Lettres, Montpellier 1932). Báo chí thời ấy đã coi người thanh niên Việt Nam trong một năm đỗ 2 bằng tiến sĩ là hiện tượng chưa từng có trong nền giáo dục đại học Pháp. Bạn tri âm của ông là Nguyễn Văn Huyên, người cũng làm luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Pháp.

    Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), hay còn gọi là trường Bưởi (từ 1945 đổi tên thành trường Trung học Chu Văn An). Bất mãn với chính sách kỳ thị của Pháp khiến ông bỏ dạy và mở văn phòng luật sư.

    Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp ông làm luật sư và dạy học tại Thanh Hóa và khu ba nói chung. Đến khi hòa bình lập lại năm 1954, ông trở về Hà Nội, là giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).

    Sau 1954 ông giữ các chức vụ Trưởng khoa Đại học Luật Hà Nội, Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Đoàn Luật sư, Phó Trưởng khoa Đại học Sư phạm Hà Nội; thành viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hội Hữu nghị Việt-Pháp, Hội Hữu nghị Việt-XôUỷ ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, sáng lập viên Câu lạc bộ Đoàn Kết, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên nghiên cứu giáo dục. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự hội nghị đàm phán ở Đà Lạt, dự các hội nghị hoà bình thế giới ở Bắc Kinh và Wien.

    Trong số ra mắt ngày 20 tháng 9 năm 1956, bán nguyệt san Nhân Văn đã đăng ngay trên trang nhất bài "Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ". Người được phỏng vấn đầu tiên là luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông nêu hai nguyên nhân khiếm khuyết về dân chủ thời bấy giờ:

    1. Đảng viên Lao động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ. Do đó xa lìa quần chúng, và tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình. Để sửa đổi, cần xây dựng quan điểm quần chúng cho đảng viên và cán bộ, và yêu cầu Trung ương Đảng và Chính phủ đảm bảo sự thi hành triệt để các tự do dân chủ.
    2. Quần chúng chưa thấm nhuần tinh thần chủ nhân ông trên đất nước, do đó chưa tranh đấu đòi thực hiện dân chủ. Để sửa chữa, ta cần xây dựng ý thức dân chủ cho quần chúng.

    Loạt bài được dự định tiếp tục với bác sĩ Đặng Văn Ngữ, nhà sử học Đào Duy Anh, nhà văn Nguyễn Đình Thi... nhưng cho đến số cuối cùng được ra mắt là số 5, ngày 20 tháng 11 cùng năm, Nhân Văn chỉ có thể công bố bài phỏng vấn Đặng Văn Ngữ và Đào Duy Anh.

    Ngày 30 tháng 10 năm 1956 luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp.

    Ông mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi. Trong sổ tang tưởng niệm nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường, tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã ghi "... Vô cùng thương tiếc giáo sư - luật sư Nguyễn Mạnh Tường - Một trí thức yêu nước đã có cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục của Việt Nam".

    Sưu tầm: Internet.

     
    Báo quản trị |  
  • #17230   07/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Thưa 2 bạn đều là mod của LawSoft! Cả 2 bạn đều có các thông tin rất bổ ích nhưng vấn đề nêu tại chủ đề này cũng khá trùng hợp với chủ đề đã có ngay tại box Lịch sử này:

    Tìm hiểu về các luật sư tiêu biểu của Việt Nam

    Các bạn đều là mod, do vậy tui chả biết nên xử lý thế nào! Xin để các bạn.... tự xử!!!!
     
    Báo quản trị |  
  • #17231   08/01/2009

    haminhgiap
    haminhgiap
    Top 500
    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:18/09/2008
    Tổng số bài viết (183)
    Số điểm: 485
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 6 lần


    Bác Cường nói không sai nhưng chưa đủ!

    Cả 03 anh em mình đều là MOD & SMOD nhưng chủ quản box này lại là bạn trathainguyen, thật sự là các bài viết cũ của box này em không xem hết nên không nhận ra là đã có sự trùng lặp thông tin. Cảm ơn bác PAC đã nhắc nhở!
     
    Báo quản trị |  
  • #17232   08/01/2009

    trathainguyen
    trathainguyen
    Top 500
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/09/2008
    Tổng số bài viết (155)
    Số điểm: 989
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 10 lần


    Cảm ơn bác PhanAnhCuong

    hic, em mới nhận nhiệm vụ quản lý box này nên còn nhiều sơ suất quá. Cảm ơn bác PAC đã phát hiện giúp.Em sẽ cố gắng chú ý nhiều hơn.

    http://www.sungroup.com.vn

     
    Báo quản trị |  
  • #17233   08/01/2009

    trathainguyen
    trathainguyen
    Top 500
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/09/2008
    Tổng số bài viết (155)
    Số điểm: 989
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 10 lần


    GIAI THOẠI LUẬT GIA

    Trong lịch sử pháp luật Việt Nam và thế giới bạn biết những vị luật sư danh tiếng nào?tiểu sử cuộc đời của họ ra sao?Hãy cùng nhau chia sẻ vốn hiểu biết ấy tại đây nhé.

    ..........................................................................................

    Luật sư Phan Văn Trường

    Phan VĂn Trường ( 1876-1933) là một luật sư, một nhà báo yêu nước Việt Nam. Quê ông ở làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

    Sau khi tốt nghiệp và thành luật sư, ông làm phiên dịch ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Rồi ông sang Pháp học, đỗ Cử nhân Luật. Khi đến Paris ông đã theo học ngành luật tại Đại học Sorbonne nơi sau này ông đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ về luật hình và trở thành tiến sĩ luật học đầu tiên của Việt Nam. Trong thời gian này, ông đã tích cực hoạt động yêu nước và có nhiều giao lưu với các chí sĩ.

    Ông đã cùng với Phan Châu Trinh, lập Hội Đồng bào thân ái do Phan Văn Trường làm Hội trưởng (tổ chức đầu tiên của Việt kiều yêu nước tại Pháp). Trong Thế chiến thứ nhất, ông đã bị động viên vào quân đội Pháp. Tính chất yêu nước của Hội rõ tới mức Hội trưởng Vệt Nam Quang phục hội là Cường Để năm 1913 đã phái người sang Paris đưa thư cho Phan Chu Trinh để liên kết hoạt động. Sau vụ Việt Nam Quang phục Hội đánh bom tại Hà Nội cũng trong năm 1913 chính quyền Pháp nghi ngờ Phan Văn Trường và Phan Chu Trinh đã có liên hệ với phong trào mang tính bạo động này ở Việt Nam nên nhân Thế chiến thứ nhất nổ ra đã bắt giam cả hai ông vào tháng 9 năm 1914 với lý do "âm mưu chính trị chống nước Pháp". Do có sự can thiệp của Hội nhân quyền và của nhiều chính khách thuộc Đảng Xã hội (Pháp) nên gần một năm sau, Tháng 7 năm 1915, chính quyền Pháp buộc phải thả hai ông. Tuy nhiên Hội đồng bào tương thân tương ái cũng chấm dứt tồn tại phần vì trong thời gian Phan Văn Trường và Phan Chu Trinh bị bắt giam.

    Sau Thế chiến thứ nhất, ông học tiếp và đỗ Tiến sĩ luật khoa, mở văn phòng Luật sư tại Paris. Lúc này ông tiếp tục hoạt động trong nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc

    Cuối năm1923, ông về nước, cùng Nguyễn An Ninh xuất bản báo Chuông Rè (La Cloche Fêlée) và Nước Nam (L'Annam) bằng Tiếng Pháp tại Sài Gòn. Ông tích cực đấu tranh chống các chính sách của thực dân Pháp, đòi dân chủ, đeo đuổi việc bác bỏ chủ nghĩa "Pháp - Việt đề huề" của Đảng Lập hiến.

    Ông đã cho đăng một số bài của các báo "Người Cùng Khổ" (của Hội Liên hiệp thuộc đại) Nhân đạo (của Đảng Cộng sản Pháp), Diễn đàn thông tin quốc tế (của Quốc tế Cộng sản); đặc biệt ông là người đầu tiên đăng Tuyên ngôn của ĐẢng Cộng sản của Karl Marx và Friedrich Engels trên báo.

    Sau đó, ông bị chính quyền Pháp kết án tù. Những ông vẫn tiếp tục đấu tranh đòi dân chủ sau khi ra tù và mất năm 1933.

    ST.http://vi.wikipedia.org

    http://www.sungroup.com.vn

     
    Báo quản trị |