DanLuat 2015

Tiền lương và cách tính lương thêm giờ năm 2015

Chủ đề   RSS   
  • #396589 17/08/2015

    Tiền lương và cách tính lương thêm giờ năm 2015

    Kính gửi Luật sư,

    Tôi xin được tư vấn 1 vài vấn đề liên quan đến Tiền lương và cách tính lương thêm giờ theo Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH như sau:

    1. Tiền lương

    a. Định nghĩa Tiền lương: Dựa theo Điều 3, Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH:

    - Mức lương theo công việc hoặc chức danh”: đây có phải là Lương cơ bản dùng để tính các loại bảo hiểm không?

    - Phụ cấp lương”: có bao gồm Phụ cấp tiền ăn, phụ cấp công trường, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm việc ở vùng núi/hải đảo không?

    b. Thời hạn trả lương

    Theo Điều 5 Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH, Người lao động hưởng lương tháng được trả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần và được trả ngay trong tháng mà người lao động làm việc”.

    Vậy tức là, Công ty sẽ phải trả lương ngay trong tháng làm việc cho Người lao động?

    Ví dụ: Lương tháng 8 (trả cho NLĐ làm việc từ 1/8 đến 31/8) phải trả ngay trong trong tháng 8? Trả 1 phần hay toàn bộ lương thực tế?

    Nếu NLĐ làm thêm giờ trong những ngày cuối tháng 8 thì Công ty sẽ phải tính trả lương tháng 8 như thế nào?

    2. Tiền lương làm thêm giờ

    Theo Điều 6, 7, 8 Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH, cơ sở để tính tiền lương thêm giờ sẽ dựa vào Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường”

    Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng (không kể số giờ làm thêm)..”

    Vậy, xin Luật sư tư vấn giúp, tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ” là khoản lương gì?

    Nếu Công ty vừa có Lương cơ bản, vừa có Phụ cấp thì tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ” được tính như thế nào?

    Xin trân trọng cảm ơn!

     
    2132 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #449367   13/03/2017

    Chào bạn, dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp, tôi xin có một vài trao đổi, góp ý như sau:

    I. Tiền lương

    Thứ nhất,  “mức lương theo công việc hoặc chức danh”  không phải mức lương cơ bản. Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điểm a khoản 1 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thực hiện một số điều về tiền lương của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động như sau:

    "a) Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 Bộ luật lao động và Điều 7, Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương;"

     Trong khi đó mức lương cơ bản là mức lương người sử dụng lao động thỏa thuận với người lao động, được ghi trong Hợp đồng lao động và là cơ sở để tính tiền công, tiền lương thực lĩnh của người lao động trong doanh nghiệp đó. Mức lương cơ bản không được thấp hơn lương tối thiểu, và đối với lao động đã qua học nghề thì phải được cộng thêm 7% lương tối thiểu nữa, chi tiết được quy định tại Điều 5 Nghị định 153/2016/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động: 

    "Điều 5. Áp dụng mức lương tối thiểu vùng

    1. Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 3 Nghị định này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:

    a) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất;

    b) Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    [...]"

    Do vậy "mức lương theo công việc hoặc chức danh" hoàn toàn khác so với "mức lương cơ bản"

    Thứ hai, theo Điểm b khoản 1 điều 3 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH có quy định về phụ cấp như sau:

    “[…]

    b) Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh của thang lương, bảng lương, cụ thể:

    - Bù đắp yếu tố điều kiện lao động, bao gồm công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

    - Bù đắp yếu tố tính chất phức tạp công việc, như công việc đòi hỏi thời gian đào tạo, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trách nhiệm cao, có ảnh hưởng đến các công việc khác, yêu cầu về thâm niên và kinh nghiệm, kỹ năng làm việc, giao tiếp, sự phối hợp trong quá trình làm việc của người lao động.

    - Bù đắp các yếu tố điều kiện sinh hoạt, như công việc thực hiện ở vùng xa xôi, hẻo lánh, có nhiều khó khăn và khí hậu khắc nghiệt, vùng có giá cả sinh hoạt đắt đỏ, khó khăn về nhà ở, công việc người lao động phải thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc, nơi ở và các yếu tố khác làm cho điều kiện sinh hoạt của người lao động không thuận lợi khi thực hiện công việc.

    - Bù đắp các yếu tố để thu hút lao động, như khuyến khích người lao động đến làm việc ở vùng kinh tế mới, thị trường mới mở; nghề, công việc kém hấp dẫn, cung ứng của thị trường lao động còn hạn chế; khuyến khích người lao động làm việc có năng suất lao động, chất lượng công việc cao hơn hoặc đáp ứng tiến độ công việc được giao.”

    Như vậy với các loại phụ cấp mà bạn đưa raphụ cấp tiền ăn, phụ cấp công trường, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm việc ở vùng núi/hải, thì:

     - khoản phụ cấp tiền ăn không được coi là phụ cấp tiền lương. Theo đó thì tiền ăn chỉ được coi là khoản tiền bổ sung khác, được quy định tại Điểm c khoản 1 điều 1 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động:

    "c) Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động."

     - phụ cấp công trường ở đây có thể hiểu là khoản phụ cấp cho công việc có yếu tố nặng nhọc (phụ thuộc vào khu công trường đó có điều kiện làm việc như thế nào)

     - phụ cấp trách nhiệm là khoản phụ cấp bù đắp các yếu tố về tính chất phức tạp công việc (công việc đòi hỏi trách nhiệm cao)

     - phụ cấp làm việc ở vùng núi/hải đảo là khoản phụ cấp bù đắp các yếu tố điều kiện sinh hoạt (công việc thực hiện ở vùng xa xôi, hẻo lánh)  

    Thứ ba, về thời hạn trả lương, Nghị định 05/2015/NĐ-CP có quy định như sau:

    “Điều 23. Kỳ hạn trả lương đối với người hưởng lương tháng

    1. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

    2. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và được ấn định vào một thời điểm cố định trong tháng.

    Điều 24. Nguyên tắc trả lương

    1. Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

    2. Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 01 tháng. Việc người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:

    a) Nếu thời gian trả lương chậm dưới 15 ngày thì không phải trả thêm;

    b) Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương.”

    Như vậy theo điều trên về mặt nguyên tắc, trong hoàn cảnh điều kiện hoàn toàn bình thường thì công ty/doanh nghiệp sẽ phải trả lương đầy đủ ngay trong tháng làm việc của bạn. Với ví dụ lương tháng 8 (trả cho NLĐ làm việc từ 1/8 đến 31/8)  thì phải trả ngay trong trong tháng 8 và việc trả toàn bộ lương thực tế.

    Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt (Khoản 2 điều 24 Nghị định 05/2015/NĐ-CP) khiến người sử dụng mặc dù đã dùng mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả đúng hạn thì có thể trả lương chậm nhưng không được chậm quá 1 tháng.

    Khi trường hợp người lao động làm thêm giờ thì số tiền lương làm thêm giờ đó sẽ được tính riêng và trả tương ứng (theo Khoản 6 điều 25 Nghị định 05/2015/NĐ-CP)

    II.   Tiền lương làm thêm giờ

    Theo Điều 6 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBX thì tiền lương giờ thực trả được quy định như sau:

    “Điều 6. Tiền lương làm thêm giờ

    Trả lương khi người lao động làm thêm giờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP được quy định như sau:

    1. Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động quy định theo Điều 104 của Bộ luật lao động và được tính như sau:

    Tiền lương làm thêm giờ

    =

    Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường

    x

    Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%

    x

    Số giờ làm thêm

    Trong đó:

    a) Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng (không kể số giờ làm thêm). Trường hợp trả lương theo ngày hoặc theo tuần, thì tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày hoặc tuần làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày hoặc trong tuần (không kể số giờ làm thêm);

    b) Mức ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường;

    c) Mức ít nhất bằng 200% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;

    d) Mức ít nhất bằng 300% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, chưa kể tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động, đối với người lao động hưởng lương theo ngày.

    Người lao động hưởng lương ngày là những người có tiền lương thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động theo ngày và chưa bao gồm tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động.

    […]”

    Theo đó thì “tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ” là số tiền lương thực mà người lao động được nhận được theo công việc trong tháng(không bao gồm làm tiền làm thêm). Nói cách khác đó là tiền lương người lao động được hưởng theo tháng, dựa trên sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động và đã được nêu trong hợp đồng lao động. Do đó nếu công ty vừa có lương cơ bản và phụ cấp thì tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ sẽ bằng tổng lương cơ bản và mức phụ cấp trong tháng đó.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do bạn cung cấp. Hy vọng qua đây bạn đã có giải đáp cho vướng mắc của mình.

    Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

    Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ theo thông tin đính kèm bên dưới.

    Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Thùy Linh

     

    Cập nhật bởi clevietkimlaw1 ngày 13/03/2017 12:49:38 SA

    BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM

    M: (+84-4) 32.123.124; (+84-4) 32.899.888 - E: cle.vietkimlaw@gmail.com; luatvietkim@gmail.com - W: www.vietkimlaw.com

    Ad: Trụ sở chính - Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN | VPGD - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-