Hiển thị 1-20 trong 394 thuật ngữ
20 Trang 12345>»
Thuật ngữ Mô tả Nguồn
Đơn vị hành chính cơ sở, thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam. Xã là điểm tụ cư của người Việt sinh sống ở vùng đồng bằng và trung du của Việt Nam. Ở vùng núi, trước cách mạng tháng Tám gọi là bản. Bản là điểm tụ cư của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Xã có thể bao gồm hai hoặc nhiều hơn các làng. Mỗi làng có thể chia thành các thôn hoặc xóm. Nhưng có xã chỉ có một làng, làng chỉ có một thôn. Trường hợp này gọi là nhất xã, nhất làng, nhất thôn. Dân cư trong xã có thể là người trong một dòng họ, hai dòng họ hoặc nhiều hơn dòng họ cùng chung sống. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ quan quản lý hành chính ở xã gồm có Hội đồng tộc biểu là người do các họ bầu ra, có nơi gọi là Hội đồng kỳ mục, là cơ quan quyết nghị và các lý dịch do Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục bầu với nhiệm kỳ là 3 năm hoặc 6 năm. Các lý dịch gồm có xã trưởng có thời kỳ gọi là xã quan, về sau gọi là lý trưởng, các phó lý, trương tuần, cai vạn, thủ quỹ, thủ lộ, hộ lại. Các lý dịch là những người chấp hành của Hội đồng tộc biểu. Các lý dịch còn được gọi là xã quan có thời kỳ do quan trên bổ nhiệm - thời kỳ đầu nhà Trần, các vua đầu triều Lê, nhưng về sau đều do xã tự chọn. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay xã là đơn vị hành chính dưới huyện. Ở xã có Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở địa phương và Ủy ban nhân dân, có thời kỳ gọi là Ủy ban kháng chiến hành chính, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân. Xã là đơn vị gần gũi nhất với dân, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng, là nơi thực thi mọi pháp luật của Nhà nước và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Xã là đơn vị hành chính ở cơ sở nhưng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống bộ máy hành chính của quốc gia. Từ điển Luật học trang 574
Đơn vị hành chính cơ sở, thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam. Xã là điểm tụ cư của người Việt sinh sống ở vùng đồng bằng và trung du của Việt Nam. Ở vùng núi, trước cách mạng tháng Tám gọi là bản. Bản là điểm tụ cư của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Xã có thể bao gồm hai hoặc nhiều hơn các làng. Mỗi làng có thể chia thành các thôn hoặc xóm. Nhưng có xã chỉ có một làng, làng chỉ có một thôn. Trường hợp này gọi là nhất xã, nhất làng, nhất thôn. Dân cư trong xã có thể là người trong một dòng họ, hai dòng họ hoặc nhiều hơn dòng họ cùng chung sống. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ quan quản lý hành chính ở xã gồm có Hội đồng tộc biểu là người do các họ bầu ra, có nơi gọi là Hội đồng kỳ mục, là cơ quan quyết nghị và các lý dịch do Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục bầu với nhiệm kỳ là 3 năm hoặc 6 năm. Các lý dịch gồm có xã trưởng có thời kỳ gọi là xã quan, về sau gọi là lý trưởng, các phó lý, trương tuần, cai vạn, thủ quỹ, thủ lộ, hộ lại. Các lý dịch là những người chấp hành của Hội đồng tộc biểu. Các lý dịch còn được gọi là xã quan có thời kỳ do quan trên bổ nhiệm - thời kỳ đầu nhà Trần, các vua đầu triều Lê, nhưng về sau đều do xã tự chọn. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay xã là đơn vị hành chính dưới huyện. Ở xã có Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở địa phương và Ủy ban nhân dân, có thời kỳ gọi là Ủy ban kháng chiến hành chính, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân. Xã là đơn vị gần gũi nhất với dân, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng, là nơi thực thi mọi pháp luật của Nhà nước và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Xã là đơn vị hành chính ở cơ sở nhưng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống bộ máy hành chính của quốc gia. Từ điển Luật học trang 574
Đơn vị hành chính cơ sở, thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam. Xã là điểm tụ cư của người Việt sinh sống ở vùng đồng bằng và trung du của Việt Nam. Ở vùng núi, trước cách mạng tháng Tám gọi là bản. Bản là điểm tụ cư của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Xã có thể bao gồm hai hoặc nhiều hơn các làng. Mỗi làng có thể chia thành các thôn hoặc xóm. Nhưng có xã chỉ có một làng, làng chỉ có một thôn. Trường hợp này gọi là nhất xã, nhất làng, nhất thôn. Dân cư trong xã có thể là người trong một dòng họ, hai dòng họ hoặc nhiều hơn dòng họ cùng chung sống. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ quan quản lý hành chính ở xã gồm có Hội đồng tộc biểu là người do các họ bầu ra, có nơi gọi là Hội đồng kỳ mục, là cơ quan quyết nghị và các lý dịch do Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục bầu với nhiệm kỳ là 3 năm hoặc 6 năm. Các lý dịch gồm có xã trưởng có thời kỳ gọi là xã quan, về sau gọi là lý trưởng, các phó lý, trương tuần, cai vạn, thủ quỹ, thủ lộ, hộ lại. Các lý dịch là những người chấp hành của Hội đồng tộc biểu. Các lý dịch còn được gọi là xã quan có thời kỳ do quan trên bổ nhiệm - thời kỳ đầu nhà Trần, các vua đầu triều Lê, nhưng về sau đều do xã tự chọn. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay xã là đơn vị hành chính dưới huyện. Ở xã có Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở địa phương và Ủy ban nhân dân, có thời kỳ gọi là Ủy ban kháng chiến hành chính, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân. Xã là đơn vị gần gũi nhất với dân, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng, là nơi thực thi mọi pháp luật của Nhà nước và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Xã là đơn vị hành chính ở cơ sở nhưng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống bộ máy hành chính của quốc gia. Từ điển Luật học trang 574
Đơn vị hành chính cơ sở, thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam. Xã là điểm tụ cư của người Việt sinh sống ở vùng đồng bằng và trung du của Việt Nam. Ở vùng núi, trước cách mạng tháng Tám gọi là bản. Bản là điểm tụ cư của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Xã có thể bao gồm hai hoặc nhiều hơn các làng. Mỗi làng có thể chia thành các thôn hoặc xóm. Nhưng có xã chỉ có một làng, làng chỉ có một thôn. Trường hợp này gọi là nhất xã, nhất làng, nhất thôn. Dân cư trong xã có thể là người trong một dòng họ, hai dòng họ hoặc nhiều hơn dòng họ cùng chung sống. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ quan quản lý hành chính ở xã gồm có Hội đồng tộc biểu là người do các họ bầu ra, có nơi gọi là Hội đồng kỳ mục, là cơ quan quyết nghị và các lý dịch do Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục bầu với nhiệm kỳ là 3 năm hoặc 6 năm. Các lý dịch gồm có xã trưởng có thời kỳ gọi là xã quan, về sau gọi là lý trưởng, các phó lý, trương tuần, cai vạn, thủ quỹ, thủ lộ, hộ lại. Các lý dịch là những người chấp hành của Hội đồng tộc biểu. Các lý dịch còn được gọi là xã quan có thời kỳ do quan trên bổ nhiệm - thời kỳ đầu nhà Trần, các vua đầu triều Lê, nhưng về sau đều do xã tự chọn. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay xã là đơn vị hành chính dưới huyện. Ở xã có Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở địa phương và Ủy ban nhân dân, có thời kỳ gọi là Ủy ban kháng chiến hành chính, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân. Xã là đơn vị gần gũi nhất với dân, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng, là nơi thực thi mọi pháp luật của Nhà nước và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Xã là đơn vị hành chính ở cơ sở nhưng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống bộ máy hành chính của quốc gia. Từ điển Luật học trang 574
Xã đặc biệt khó khăn Là xã thuộc danh sách quy định tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ và được bổ sung bởi Quyết định số 647/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 26/3/2001 17/2003/TT-BGDĐT
Xã đặc biệt khó khăn Là xã thuộc danh sách quy định tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ và được bổ sung bởi Quyết định số 647/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 26/3/2001 17/2003/TT-BGDĐT
Xã đặc biệt khó khăn Là xã thuộc danh sách quy định tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ và được bổ sung bởi Quyết định số 647/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 26/3/2001 17/2003/TT-BGDĐT
Xã đặc biệt khó khăn Là xã thuộc danh sách quy định tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ và được bổ sung bởi Quyết định số 647/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 26/3/2001 17/2003/TT-BGDĐT
Xã quan Tên gọi các viên chức phụ trách điều hành các đơn vị hành chính cấp xã dưới triều Trần, Lê. Vd. Triều Lê trước năm 1469 có quy định đơn vị hành chính cơ sở là cấp xã do xã quan đứng đầu, chia làm ba loại: đại xã (trên 100 hộ) có ba xã quan; trung xã (từ 50 đến 100 hộ) có hai xã quan; tiểu xã (từ 10 đến 50 hộ) có một xã quan. Đến năm 1469, vua Lê Thánh Tông trong cải cách nền hành chính đất nước, đã bãi bỏ chức xã quan, và thay thế bằng chức xã trưởng. Từ điển Luật học trang 574
Xã quan Tên gọi các viên chức phụ trách điều hành các đơn vị hành chính cấp xã dưới triều Trần, Lê. Vd. Triều Lê trước năm 1469 có quy định đơn vị hành chính cơ sở là cấp xã do xã quan đứng đầu, chia làm ba loại: đại xã (trên 100 hộ) có ba xã quan; trung xã (từ 50 đến 100 hộ) có hai xã quan; tiểu xã (từ 10 đến 50 hộ) có một xã quan. Đến năm 1469, vua Lê Thánh Tông trong cải cách nền hành chính đất nước, đã bãi bỏ chức xã quan, và thay thế bằng chức xã trưởng. Từ điển Luật học trang 574
Xã quan Tên gọi các viên chức phụ trách điều hành các đơn vị hành chính cấp xã dưới triều Trần, Lê. Vd. Triều Lê trước năm 1469 có quy định đơn vị hành chính cơ sở là cấp xã do xã quan đứng đầu, chia làm ba loại: đại xã (trên 100 hộ) có ba xã quan; trung xã (từ 50 đến 100 hộ) có hai xã quan; tiểu xã (từ 10 đến 50 hộ) có một xã quan. Đến năm 1469, vua Lê Thánh Tông trong cải cách nền hành chính đất nước, đã bãi bỏ chức xã quan, và thay thế bằng chức xã trưởng. Từ điển Luật học trang 574
Xã quan Tên gọi các viên chức phụ trách điều hành các đơn vị hành chính cấp xã dưới triều Trần, Lê. Vd. Triều Lê trước năm 1469 có quy định đơn vị hành chính cơ sở là cấp xã do xã quan đứng đầu, chia làm ba loại: đại xã (trên 100 hộ) có ba xã quan; trung xã (từ 50 đến 100 hộ) có hai xã quan; tiểu xã (từ 10 đến 50 hộ) có một xã quan. Đến năm 1469, vua Lê Thánh Tông trong cải cách nền hành chính đất nước, đã bãi bỏ chức xã quan, và thay thế bằng chức xã trưởng. Từ điển Luật học trang 574
Xã thuộc khu vực miền núi, vùng cao là những xã được cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương ra quyết định công nhận 03/2014/QĐ-UBND
Xã trưởng Một chức quan điều hành đơn vị hành chính xã, sau năm 1469 không còn là viên chức của triều đình nữa, mà do tập thể dân trong xã tuyển chọn. Số xã trưởng nhiều hay ít là tùy theo sự quan trọng của xã, xã có trên 500 hộ có năm xã trưởng, xã 400 hộ có bốn xã trưởng, xã có trên 100 hộ có hai xã trưởng; xã dưới 100 hộ có một xã trưởng. Thủ tục tuyển chọn xã trưởng triều Lê Thánh Tông rất khắt khe. Anh em con chú con bác, hoặc thân thích không thể được lựa chọn để cùng đảm nhiệm chức vụ xã trưởng trong cùng một xã. Xã trưởng phải ít nhất 30 tuổi và có hạnh kiểm tốt, nếu trong xã có người học văn hoặc đã làm qua việc quan rồi thì chức xã trưởng phải được giao phó cho người này. Tuy quan đầu hạt duyệt y việc lựa chọn xã trưởng, nhưng phải trình lên Bộ lại để bộ cấp bằng. Vị quan cấp trên trực tiếp nào sơ xuất để dân chúng chọn lựa người có hạnh kiểm xấu ra làm xã trưởng sẽ bị giáng chức. Từ năm thứ hai đời vua Lê Thánh Tông (1680) các điều kiện tuyển chọn xã trưởng trở nên khắt khe hơn trước. Nếu trước kia, xã trưởng có thể không phải là một người học văn, thì năm 1680 chỉ các nhà nho hay sinh đồ (tú tài) mới có thể đảm nhiệm chức xã trưởng. Qua triều đại Tây Sơn, rồi thời đại Gia Long, các tổ chức hành chính xã thôn, theo Đại Nam hội điển, về căn bản không khác trước. Dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1840) có sự thay đổi là dùng danh từ lý trưởng để thay thế cho danh từ xã trưởng. Trong hệ thống cơ quan chính quyền cơ sở ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, người đứng đầu cơ quan hành chính cấp xã là chủ tịch ủy ban nhân dân xã do hội đồng nhân dân xã bầu ra trong số đại biểu của hội đồng. Từ điển Luật học trang 575
Xã trưởng Một chức quan điều hành đơn vị hành chính xã, sau năm 1469 không còn là viên chức của triều đình nữa, mà do tập thể dân trong xã tuyển chọn. Số xã trưởng nhiều hay ít là tùy theo sự quan trọng của xã, xã có trên 500 hộ có năm xã trưởng, xã 400 hộ có bốn xã trưởng, xã có trên 100 hộ có hai xã trưởng; xã dưới 100 hộ có một xã trưởng. Thủ tục tuyển chọn xã trưởng triều Lê Thánh Tông rất khắt khe. Anh em con chú con bác, hoặc thân thích không thể được lựa chọn để cùng đảm nhiệm chức vụ xã trưởng trong cùng một xã. Xã trưởng phải ít nhất 30 tuổi và có hạnh kiểm tốt, nếu trong xã có người học văn hoặc đã làm qua việc quan rồi thì chức xã trưởng phải được giao phó cho người này. Tuy quan đầu hạt duyệt y việc lựa chọn xã trưởng, nhưng phải trình lên Bộ lại để bộ cấp bằng. Vị quan cấp trên trực tiếp nào sơ xuất để dân chúng chọn lựa người có hạnh kiểm xấu ra làm xã trưởng sẽ bị giáng chức. Từ năm thứ hai đời vua Lê Thánh Tông (1680) các điều kiện tuyển chọn xã trưởng trở nên khắt khe hơn trước. Nếu trước kia, xã trưởng có thể không phải là một người học văn, thì năm 1680 chỉ các nhà nho hay sinh đồ (tú tài) mới có thể đảm nhiệm chức xã trưởng. Qua triều đại Tây Sơn, rồi thời đại Gia Long, các tổ chức hành chính xã thôn, theo Đại Nam hội điển, về căn bản không khác trước. Dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1840) có sự thay đổi là dùng danh từ lý trưởng để thay thế cho danh từ xã trưởng. Trong hệ thống cơ quan chính quyền cơ sở ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, người đứng đầu cơ quan hành chính cấp xã là chủ tịch ủy ban nhân dân xã do hội đồng nhân dân xã bầu ra trong số đại biểu của hội đồng. Từ điển Luật học trang 575
Xã trưởng Một chức quan điều hành đơn vị hành chính xã, sau năm 1469 không còn là viên chức của triều đình nữa, mà do tập thể dân trong xã tuyển chọn. Số xã trưởng nhiều hay ít là tùy theo sự quan trọng của xã, xã có trên 500 hộ có năm xã trưởng, xã 400 hộ có bốn xã trưởng, xã có trên 100 hộ có hai xã trưởng; xã dưới 100 hộ có một xã trưởng. Thủ tục tuyển chọn xã trưởng triều Lê Thánh Tông rất khắt khe. Anh em con chú con bác, hoặc thân thích không thể được lựa chọn để cùng đảm nhiệm chức vụ xã trưởng trong cùng một xã. Xã trưởng phải ít nhất 30 tuổi và có hạnh kiểm tốt, nếu trong xã có người học văn hoặc đã làm qua việc quan rồi thì chức xã trưởng phải được giao phó cho người này. Tuy quan đầu hạt duyệt y việc lựa chọn xã trưởng, nhưng phải trình lên Bộ lại để bộ cấp bằng. Vị quan cấp trên trực tiếp nào sơ xuất để dân chúng chọn lựa người có hạnh kiểm xấu ra làm xã trưởng sẽ bị giáng chức. Từ năm thứ hai đời vua Lê Thánh Tông (1680) các điều kiện tuyển chọn xã trưởng trở nên khắt khe hơn trước. Nếu trước kia, xã trưởng có thể không phải là một người học văn, thì năm 1680 chỉ các nhà nho hay sinh đồ (tú tài) mới có thể đảm nhiệm chức xã trưởng. Qua triều đại Tây Sơn, rồi thời đại Gia Long, các tổ chức hành chính xã thôn, theo Đại Nam hội điển, về căn bản không khác trước. Dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1840) có sự thay đổi là dùng danh từ lý trưởng để thay thế cho danh từ xã trưởng. Trong hệ thống cơ quan chính quyền cơ sở ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, người đứng đầu cơ quan hành chính cấp xã là chủ tịch ủy ban nhân dân xã do hội đồng nhân dân xã bầu ra trong số đại biểu của hội đồng. Từ điển Luật học trang 575
Xã trưởng Một chức quan điều hành đơn vị hành chính xã, sau năm 1469 không còn là viên chức của triều đình nữa, mà do tập thể dân trong xã tuyển chọn. Số xã trưởng nhiều hay ít là tùy theo sự quan trọng của xã, xã có trên 500 hộ có năm xã trưởng, xã 400 hộ có bốn xã trưởng, xã có trên 100 hộ có hai xã trưởng; xã dưới 100 hộ có một xã trưởng. Thủ tục tuyển chọn xã trưởng triều Lê Thánh Tông rất khắt khe. Anh em con chú con bác, hoặc thân thích không thể được lựa chọn để cùng đảm nhiệm chức vụ xã trưởng trong cùng một xã. Xã trưởng phải ít nhất 30 tuổi và có hạnh kiểm tốt, nếu trong xã có người học văn hoặc đã làm qua việc quan rồi thì chức xã trưởng phải được giao phó cho người này. Tuy quan đầu hạt duyệt y việc lựa chọn xã trưởng, nhưng phải trình lên Bộ lại để bộ cấp bằng. Vị quan cấp trên trực tiếp nào sơ xuất để dân chúng chọn lựa người có hạnh kiểm xấu ra làm xã trưởng sẽ bị giáng chức. Từ năm thứ hai đời vua Lê Thánh Tông (1680) các điều kiện tuyển chọn xã trưởng trở nên khắt khe hơn trước. Nếu trước kia, xã trưởng có thể không phải là một người học văn, thì năm 1680 chỉ các nhà nho hay sinh đồ (tú tài) mới có thể đảm nhiệm chức xã trưởng. Qua triều đại Tây Sơn, rồi thời đại Gia Long, các tổ chức hành chính xã thôn, theo Đại Nam hội điển, về căn bản không khác trước. Dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1840) có sự thay đổi là dùng danh từ lý trưởng để thay thế cho danh từ xã trưởng. Trong hệ thống cơ quan chính quyền cơ sở ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, người đứng đầu cơ quan hành chính cấp xã là chủ tịch ủy ban nhân dân xã do hội đồng nhân dân xã bầu ra trong số đại biểu của hội đồng. Từ điển Luật học trang 575
Xã xây dựng nông thôn mới Là tất cả các xã trong tỉnh, trừ phường và thị trấn 2966/QĐ-UBND
Xã xây dựng nông thôn mới Là tất cả các xã trong tỉnh, trừ phường và thị trấn 2966/QĐ-UBND
Xã xây dựng nông thôn mới Là tất cả các xã trong tỉnh, trừ phường và thị trấn 2966/QĐ-UBND
Xã xây dựng nông thôn mới Là tất cả các xã trong tỉnh, trừ phường và thị trấn 2966/QĐ-UBND
Xác báo hoàn thành thủ tục biên phòng điện tử cảng biển Là việc đơn vị Biên phòng cửa khẩu cảng xác nhận hoàn thành thủ tục biên phòng cảng biển đối với tàu, thuyền, thuyền viên nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng cho người làm thủ tục qua cổng thông tin điện tử biên phòng 188/2011/TT-BQP
Xác báo hoàn thành thủ tục biên phòng điện tử cảng biển Là việc đơn vị Biên phòng cửa khẩu cảng xác nhận hoàn thành thủ tục biên phòng cảng biển đối với tàu, thuyền, thuyền viên nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng cho người làm thủ tục qua cổng thông tin điện tử biên phòng 188/2011/TT-BQP
Xác báo hoàn thành thủ tục biên phòng điện tử cảng biển Là việc đơn vị Biên phòng cửa khẩu cảng xác nhận hoàn thành thủ tục biên phòng cảng biển đối với tàu, thuyền, thuyền viên nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng cho người làm thủ tục qua cổng thông tin điện tử biên phòng 188/2011/TT-BQP
Xác báo hoàn thành thủ tục biên phòng điện tử cảng biển Là việc đơn vị Biên phòng cửa khẩu cảng xác nhận hoàn thành thủ tục biên phòng cảng biển đối với tàu, thuyền, thuyền viên nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng cho người làm thủ tục qua cổng thông tin điện tử biên phòng 188/2011/TT-BQP
Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để xác định một trong số các cơ quan có liên quan gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. 03/2013/TT-BTP
Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để xác định một trong số các cơ quan có liên quan gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. 03/2013/TT-BTP
Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để xác định một trong số các cơ quan có liên quan gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. 03/2013/TT-BTP
Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để xác định một trong số các cơ quan có liên quan gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. 03/2013/TT-BTP
Xác định công nghệ Là hoạt động căn cứ vào các tiêu chí quy định tại Thông tư này, xem xét các công nghệ cụ thể để lập hồ sơ đề xuất sửa đổi, bổ sung vào Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao 18/2012/TT-BKHCN
Xác định công nghệ Là hoạt động căn cứ vào các tiêu chí quy định tại Thông tư này, xem xét các công nghệ cụ thể để lập hồ sơ đề xuất sửa đổi, bổ sung vào Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao 18/2012/TT-BKHCN
Xác định công nghệ Là hoạt động căn cứ vào các tiêu chí quy định tại Thông tư này, xem xét các công nghệ cụ thể để lập hồ sơ đề xuất sửa đổi, bổ sung vào Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao 18/2012/TT-BKHCN
Xác định công nghệ Là hoạt động căn cứ vào các tiêu chí quy định tại Thông tư này, xem xét các công nghệ cụ thể để lập hồ sơ đề xuất sửa đổi, bổ sung vào Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao 18/2012/TT-BKHCN
Xác định đề tài cấp cơ sở Là việc lựa chọn đề tài phù hợp với định hướng phát triển của địa phương, ngành, đơn vị; Đảm bảo các yêu cầu về tính cấp thiết, giá trị thực tiễn, giá trị khoa học và công nghệ và tính khả thi qua đó xây dựng tên đề tài, định hướng mục tiêu, dự kiến sản phẩm, kinh phí và thời gian thực hiện đề tài 24/2011/QĐ-UBND
Xác định đề tài cấp cơ sở Là việc lựa chọn đề tài phù hợp với định hướng phát triển của địa phương, ngành, đơn vị; Đảm bảo các yêu cầu về tính cấp thiết, giá trị thực tiễn, giá trị khoa học và công nghệ và tính khả thi qua đó xây dựng tên đề tài, định hướng mục tiêu, dự kiến sản phẩm, kinh phí và thời gian thực hiện đề tài 24/2011/QĐ-UBND
Xác định đề tài cấp cơ sở Là việc lựa chọn đề tài phù hợp với định hướng phát triển của địa phương, ngành, đơn vị; Đảm bảo các yêu cầu về tính cấp thiết, giá trị thực tiễn, giá trị khoa học và công nghệ và tính khả thi qua đó xây dựng tên đề tài, định hướng mục tiêu, dự kiến sản phẩm, kinh phí và thời gian thực hiện đề tài 24/2011/QĐ-UBND
Xác định đề tài cấp cơ sở Là việc lựa chọn đề tài phù hợp với định hướng phát triển của địa phương, ngành, đơn vị; Đảm bảo các yêu cầu về tính cấp thiết, giá trị thực tiễn, giá trị khoa học và công nghệ và tính khả thi qua đó xây dựng tên đề tài, định hướng mục tiêu, dự kiến sản phẩm, kinh phí và thời gian thực hiện đề tài 24/2011/QĐ-UBND
Xác định độ mật Là việc căn cứ vào danh mục bí mật của cơ quan, đơn vị, mức độ tác hại nếu tài liệu bị lộ, phạm vi phổ biến để quyết định độ mật cho từng văn bản, tài liệu 91/2012/TT-BQP
Xác định độ mật Là việc căn cứ vào danh mục bí mật của cơ quan, đơn vị, mức độ tác hại nếu tài liệu bị lộ, phạm vi phổ biến để quyết định độ mật cho từng văn bản, tài liệu 91/2012/TT-BQP
20 Trang 12345>»