Hiển thị 161-180 trong 32635 thuật ngữ
1.632 Trang «<78910111213>»
Thuật ngữ Mô tả Nguồn
Án phí hành chính Số tiền mà tòa án quyết định thu trong mỗi vụ án hành chính xét xử sơ thẩm, sơ thẩm đồng thời chung thẩm, phúc thẩm với mức chung là 50 nghìn đồng để nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 27 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Người phải chịu án phí hành chính gồm: bên có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện nếu tòa án tuyên quyết định hành chính, hành vi hành chính ấy là trái pháp luật; bên khởi kiện nếu tòa án giữ nguyên quyết định hành chính, hành vi hành chính; bên kháng cáo nếu tòa án phúc thẩm giữ nguyên bản án quyết định sơ thẩm, nếu tòa phúc thẩm sửa, huỷ một phần hay toàn bộ án quyết định sơ thẩm thì không phải chịu án phí. Những đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí hành chính gồm: a) Thương binh, bố mẹ liệt sĩ, người có công với cách mạng về tất cả khiếu kiện hành chính. b) Các đương sự khác khiếu kiện về quyết định buộc thôi việc trừ các quyết định về buộc thôi việc trong Quân đội nhân dân Việt Nam và quyết định sa thải theo quy định của Bộ luật lao động. c) Người có khó khăn về kinh tế có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (được miễn nộp tạm ứng, miễn nộp một phần hoặc toàn bộ án phí). Người khởi kiện, người kháng cáo, nếu rút đơn trước khi phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm được mở thì được trả lại 50% tiền tạm ứng (Điều 28 - 31 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Từ điển Luật học trang 14
Án phí hành chính Số tiền mà tòa án quyết định thu trong mỗi vụ án hành chính xét xử sơ thẩm, sơ thẩm đồng thời chung thẩm, phúc thẩm với mức chung là 50 nghìn đồng để nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 27 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Người phải chịu án phí hành chính gồm: bên có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện nếu tòa án tuyên quyết định hành chính, hành vi hành chính ấy là trái pháp luật; bên khởi kiện nếu tòa án giữ nguyên quyết định hành chính, hành vi hành chính; bên kháng cáo nếu tòa án phúc thẩm giữ nguyên bản án quyết định sơ thẩm, nếu tòa phúc thẩm sửa, huỷ một phần hay toàn bộ án quyết định sơ thẩm thì không phải chịu án phí. Những đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí hành chính gồm: a) Thương binh, bố mẹ liệt sĩ, người có công với cách mạng về tất cả khiếu kiện hành chính. b) Các đương sự khác khiếu kiện về quyết định buộc thôi việc trừ các quyết định về buộc thôi việc trong Quân đội nhân dân Việt Nam và quyết định sa thải theo quy định của Bộ luật lao động. c) Người có khó khăn về kinh tế có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (được miễn nộp tạm ứng, miễn nộp một phần hoặc toàn bộ án phí). Người khởi kiện, người kháng cáo, nếu rút đơn trước khi phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm được mở thì được trả lại 50% tiền tạm ứng (Điều 28 - 31 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Từ điển Luật học trang 14
Án phí hành chính Số tiền mà tòa án quyết định thu trong mỗi vụ án hành chính xét xử sơ thẩm, sơ thẩm đồng thời chung thẩm, phúc thẩm với mức chung là 50 nghìn đồng để nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 27 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Người phải chịu án phí hành chính gồm: bên có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện nếu tòa án tuyên quyết định hành chính, hành vi hành chính ấy là trái pháp luật; bên khởi kiện nếu tòa án giữ nguyên quyết định hành chính, hành vi hành chính; bên kháng cáo nếu tòa án phúc thẩm giữ nguyên bản án quyết định sơ thẩm, nếu tòa phúc thẩm sửa, huỷ một phần hay toàn bộ án quyết định sơ thẩm thì không phải chịu án phí. Những đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí hành chính gồm: a) Thương binh, bố mẹ liệt sĩ, người có công với cách mạng về tất cả khiếu kiện hành chính. b) Các đương sự khác khiếu kiện về quyết định buộc thôi việc trừ các quyết định về buộc thôi việc trong Quân đội nhân dân Việt Nam và quyết định sa thải theo quy định của Bộ luật lao động. c) Người có khó khăn về kinh tế có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (được miễn nộp tạm ứng, miễn nộp một phần hoặc toàn bộ án phí). Người khởi kiện, người kháng cáo, nếu rút đơn trước khi phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm được mở thì được trả lại 50% tiền tạm ứng (Điều 28 - 31 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Từ điển Luật học trang 14
Án phí hành chính Số tiền mà tòa án quyết định thu trong mỗi vụ án hành chính xét xử sơ thẩm, sơ thẩm đồng thời chung thẩm, phúc thẩm với mức chung là 50 nghìn đồng để nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 27 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Người phải chịu án phí hành chính gồm: bên có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện nếu tòa án tuyên quyết định hành chính, hành vi hành chính ấy là trái pháp luật; bên khởi kiện nếu tòa án giữ nguyên quyết định hành chính, hành vi hành chính; bên kháng cáo nếu tòa án phúc thẩm giữ nguyên bản án quyết định sơ thẩm, nếu tòa phúc thẩm sửa, huỷ một phần hay toàn bộ án quyết định sơ thẩm thì không phải chịu án phí. Những đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí hành chính gồm: a) Thương binh, bố mẹ liệt sĩ, người có công với cách mạng về tất cả khiếu kiện hành chính. b) Các đương sự khác khiếu kiện về quyết định buộc thôi việc trừ các quyết định về buộc thôi việc trong Quân đội nhân dân Việt Nam và quyết định sa thải theo quy định của Bộ luật lao động. c) Người có khó khăn về kinh tế có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (được miễn nộp tạm ứng, miễn nộp một phần hoặc toàn bộ án phí). Người khởi kiện, người kháng cáo, nếu rút đơn trước khi phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm được mở thì được trả lại 50% tiền tạm ứng (Điều 28 - 31 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Từ điển Luật học trang 14
Án phí hình sự Án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào ngân sách nhà nước với mức là 50 nghìn đồng cho án sơ thẩm, án sơ thẩm đồng thời chung thẩm và án phúc thẩm (Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Cùng với việc xét xử về tội phạm, nếu còn xét xử về bồi thường thiệt hại, thì tòa án quyết định án phí theo số tiền bồi thường thiệt hại dựa vào mức quy định đối với những việc tranh chấp tài sản có giá trị trong án phí về dân sự. Nếu vụ án được kháng cáo mà toà phúc thẩm y án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí kháng cáo là 50 nghìn đồng. Nếu tòa án phúc thẩm sửa hoặc huỷ án sơ thẩm thì người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Từ điển Luật học trang 15
Án phí hình sự Án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào ngân sách nhà nước với mức là 50 nghìn đồng cho án sơ thẩm, án sơ thẩm đồng thời chung thẩm và án phúc thẩm (Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Cùng với việc xét xử về tội phạm, nếu còn xét xử về bồi thường thiệt hại, thì tòa án quyết định án phí theo số tiền bồi thường thiệt hại dựa vào mức quy định đối với những việc tranh chấp tài sản có giá trị trong án phí về dân sự. Nếu vụ án được kháng cáo mà toà phúc thẩm y án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí kháng cáo là 50 nghìn đồng. Nếu tòa án phúc thẩm sửa hoặc huỷ án sơ thẩm thì người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Từ điển Luật học trang 15
Án phí hình sự Án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào ngân sách nhà nước với mức là 50 nghìn đồng cho án sơ thẩm, án sơ thẩm đồng thời chung thẩm và án phúc thẩm (Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Cùng với việc xét xử về tội phạm, nếu còn xét xử về bồi thường thiệt hại, thì tòa án quyết định án phí theo số tiền bồi thường thiệt hại dựa vào mức quy định đối với những việc tranh chấp tài sản có giá trị trong án phí về dân sự. Nếu vụ án được kháng cáo mà toà phúc thẩm y án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí kháng cáo là 50 nghìn đồng. Nếu tòa án phúc thẩm sửa hoặc huỷ án sơ thẩm thì người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Từ điển Luật học trang 15
Án phí hình sự Án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào ngân sách nhà nước với mức là 50 nghìn đồng cho án sơ thẩm, án sơ thẩm đồng thời chung thẩm và án phúc thẩm (Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997) Cùng với việc xét xử về tội phạm, nếu còn xét xử về bồi thường thiệt hại, thì tòa án quyết định án phí theo số tiền bồi thường thiệt hại dựa vào mức quy định đối với những việc tranh chấp tài sản có giá trị trong án phí về dân sự. Nếu vụ án được kháng cáo mà toà phúc thẩm y án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí kháng cáo là 50 nghìn đồng. Nếu tòa án phúc thẩm sửa hoặc huỷ án sơ thẩm thì người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Từ điển Luật học trang 15
Án phí kinh tế Số tiền mà tòa án quyết định thu mỗi vụ án kinh tế xử sơ thẩm, phúc thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước. Mức án phí sơ thẩm đối với án kinh tế không có giá ngạch có giá trị 10 triệu đồng trở xuống là 500 nghìn đồng. Trên 10 - 100 triệu đồng là 5% giá trị tranh chấp. Trên 100 - 200 triệu đồng là 5 triệu và 4% của phần giá trị vượt qua 100 triệu. Trên 200 - 500 triệu đồng là 9 triệu và 3% của phần giá trị vượt quá 200 triệu. Trên 500 - 1.000 triệu đồng là 18 triệu đồng và 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 500 triệu. Trên 1.000 triệu đồng là 28 triệu và 0,1% của phần giá trị vượt quá 1.000 triệu. Mức án phí phúc thẩm đối với tất cả các vụ án là 200 nghìn đồng. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu độc lập với nguyên đơn, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tạm ứng 50% án phí theo thông báo của toà án. Người kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí. Người rút đơn trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm được trả lại 50% tiền tạm ứng án phí đã nộp. Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau khi toà án hòa giải thì chỉ phải chịu 50% mức án phí. Đương sự nào bị thua kiện tức là không được toà án chấp nhận yêu cầu thì phải chịu án phí, người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm nếu toà án giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 14 - 19 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Từ điển Luật học trang 15
Án phí kinh tế Số tiền mà tòa án quyết định thu mỗi vụ án kinh tế xử sơ thẩm, phúc thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước. Mức án phí sơ thẩm đối với án kinh tế không có giá ngạch có giá trị 10 triệu đồng trở xuống là 500 nghìn đồng. Trên 10 - 100 triệu đồng là 5% giá trị tranh chấp. Trên 100 - 200 triệu đồng là 5 triệu và 4% của phần giá trị vượt qua 100 triệu. Trên 200 - 500 triệu đồng là 9 triệu và 3% của phần giá trị vượt quá 200 triệu. Trên 500 - 1.000 triệu đồng là 18 triệu đồng và 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 500 triệu. Trên 1.000 triệu đồng là 28 triệu và 0,1% của phần giá trị vượt quá 1.000 triệu. Mức án phí phúc thẩm đối với tất cả các vụ án là 200 nghìn đồng. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu độc lập với nguyên đơn, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tạm ứng 50% án phí theo thông báo của toà án. Người kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí. Người rút đơn trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm được trả lại 50% tiền tạm ứng án phí đã nộp. Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau khi toà án hòa giải thì chỉ phải chịu 50% mức án phí. Đương sự nào bị thua kiện tức là không được toà án chấp nhận yêu cầu thì phải chịu án phí, người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm nếu toà án giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 14 - 19 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Từ điển Luật học trang 15
Án phí kinh tế Số tiền mà tòa án quyết định thu mỗi vụ án kinh tế xử sơ thẩm, phúc thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước. Mức án phí sơ thẩm đối với án kinh tế không có giá ngạch có giá trị 10 triệu đồng trở xuống là 500 nghìn đồng. Trên 10 - 100 triệu đồng là 5% giá trị tranh chấp. Trên 100 - 200 triệu đồng là 5 triệu và 4% của phần giá trị vượt qua 100 triệu. Trên 200 - 500 triệu đồng là 9 triệu và 3% của phần giá trị vượt quá 200 triệu. Trên 500 - 1.000 triệu đồng là 18 triệu đồng và 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 500 triệu. Trên 1.000 triệu đồng là 28 triệu và 0,1% của phần giá trị vượt quá 1.000 triệu. Mức án phí phúc thẩm đối với tất cả các vụ án là 200 nghìn đồng. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu độc lập với nguyên đơn, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tạm ứng 50% án phí theo thông báo của toà án. Người kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí. Người rút đơn trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm được trả lại 50% tiền tạm ứng án phí đã nộp. Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau khi toà án hòa giải thì chỉ phải chịu 50% mức án phí. Đương sự nào bị thua kiện tức là không được toà án chấp nhận yêu cầu thì phải chịu án phí, người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm nếu toà án giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 14 - 19 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Từ điển Luật học trang 15
Án phí kinh tế Số tiền mà tòa án quyết định thu mỗi vụ án kinh tế xử sơ thẩm, phúc thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước. Mức án phí sơ thẩm đối với án kinh tế không có giá ngạch có giá trị 10 triệu đồng trở xuống là 500 nghìn đồng. Trên 10 - 100 triệu đồng là 5% giá trị tranh chấp. Trên 100 - 200 triệu đồng là 5 triệu và 4% của phần giá trị vượt qua 100 triệu. Trên 200 - 500 triệu đồng là 9 triệu và 3% của phần giá trị vượt quá 200 triệu. Trên 500 - 1.000 triệu đồng là 18 triệu đồng và 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 500 triệu. Trên 1.000 triệu đồng là 28 triệu và 0,1% của phần giá trị vượt quá 1.000 triệu. Mức án phí phúc thẩm đối với tất cả các vụ án là 200 nghìn đồng. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu độc lập với nguyên đơn, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tạm ứng 50% án phí theo thông báo của toà án. Người kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí. Người rút đơn trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm được trả lại 50% tiền tạm ứng án phí đã nộp. Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau khi toà án hòa giải thì chỉ phải chịu 50% mức án phí. Đương sự nào bị thua kiện tức là không được toà án chấp nhận yêu cầu thì phải chịu án phí, người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm nếu toà án giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 14 - 19 - Nghị định số 70/CP ngày 12.6.1997). Từ điển Luật học trang 15
Án phí lao động Số tiền mà đương sự trong vụ án lao động phải nộp vào ngân sách nhà nước nếu yêu cầu của họ không được toà án chấp nhận ở cấp sơ thẩm, hoặc tòa án cấp phúc thẩm y án hay quyết định sơ thẩm; nếu án quyết định sơ thẩm bị sửa, bị hủy một phần hay toàn bộ thì người kháng cáo không phải chịu án phí. Mức án phí ở sơ thẩm, phúc thẩm đều 50 nghìn đồng. Những người được miễn không phải nộp tạm ứng án phí lao động gồm: a) Người lao động đòi tiền bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. b) Người lao động đòi bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. c) Công đoàn cơ sở khởi kiện hoặc kháng cáo vì lợi ích của tập thể lao động. d) Công đoàn cấp tỉnh, công đoàn ngành khởi kiện hoặc kháng cáo. đ) Viện kiểm sát khởi tố, kháng nghị (Nghị định 70/CP ngày 12.6.1997). (Xt. Lệ phí toà án). Từ điển Luật học trang 16
Án phí lao động Số tiền mà đương sự trong vụ án lao động phải nộp vào ngân sách nhà nước nếu yêu cầu của họ không được toà án chấp nhận ở cấp sơ thẩm, hoặc tòa án cấp phúc thẩm y án hay quyết định sơ thẩm; nếu án quyết định sơ thẩm bị sửa, bị hủy một phần hay toàn bộ thì người kháng cáo không phải chịu án phí. Mức án phí ở sơ thẩm, phúc thẩm đều 50 nghìn đồng. Những người được miễn không phải nộp tạm ứng án phí lao động gồm: a) Người lao động đòi tiền bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. b) Người lao động đòi bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. c) Công đoàn cơ sở khởi kiện hoặc kháng cáo vì lợi ích của tập thể lao động. d) Công đoàn cấp tỉnh, công đoàn ngành khởi kiện hoặc kháng cáo. đ) Viện kiểm sát khởi tố, kháng nghị (Nghị định 70/CP ngày 12.6.1997). (Xt. Lệ phí toà án). Từ điển Luật học trang 16
Án phí lao động Số tiền mà đương sự trong vụ án lao động phải nộp vào ngân sách nhà nước nếu yêu cầu của họ không được toà án chấp nhận ở cấp sơ thẩm, hoặc tòa án cấp phúc thẩm y án hay quyết định sơ thẩm; nếu án quyết định sơ thẩm bị sửa, bị hủy một phần hay toàn bộ thì người kháng cáo không phải chịu án phí. Mức án phí ở sơ thẩm, phúc thẩm đều 50 nghìn đồng. Những người được miễn không phải nộp tạm ứng án phí lao động gồm: a) Người lao động đòi tiền bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. b) Người lao động đòi bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. c) Công đoàn cơ sở khởi kiện hoặc kháng cáo vì lợi ích của tập thể lao động. d) Công đoàn cấp tỉnh, công đoàn ngành khởi kiện hoặc kháng cáo. đ) Viện kiểm sát khởi tố, kháng nghị (Nghị định 70/CP ngày 12.6.1997). (Xt. Lệ phí toà án). Từ điển Luật học trang 16
Án phí lao động Số tiền mà đương sự trong vụ án lao động phải nộp vào ngân sách nhà nước nếu yêu cầu của họ không được toà án chấp nhận ở cấp sơ thẩm, hoặc tòa án cấp phúc thẩm y án hay quyết định sơ thẩm; nếu án quyết định sơ thẩm bị sửa, bị hủy một phần hay toàn bộ thì người kháng cáo không phải chịu án phí. Mức án phí ở sơ thẩm, phúc thẩm đều 50 nghìn đồng. Những người được miễn không phải nộp tạm ứng án phí lao động gồm: a) Người lao động đòi tiền bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. b) Người lao động đòi bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. c) Công đoàn cơ sở khởi kiện hoặc kháng cáo vì lợi ích của tập thể lao động. d) Công đoàn cấp tỉnh, công đoàn ngành khởi kiện hoặc kháng cáo. đ) Viện kiểm sát khởi tố, kháng nghị (Nghị định 70/CP ngày 12.6.1997). (Xt. Lệ phí toà án). Từ điển Luật học trang 16
Án sát Chức quan dưới triều Nguyễn, phụ trách việc xử án, chủ yếu là về hình sự ở cấp tỉnh. Từ điển Luật học trang 16
Án sát Chức quan dưới triều Nguyễn, phụ trách việc xử án, chủ yếu là về hình sự ở cấp tỉnh. Từ điển Luật học trang 16
Án sát Chức quan dưới triều Nguyễn, phụ trách việc xử án, chủ yếu là về hình sự ở cấp tỉnh. Từ điển Luật học trang 16
Án sát Chức quan dưới triều Nguyễn, phụ trách việc xử án, chủ yếu là về hình sự ở cấp tỉnh. Từ điển Luật học trang 16
Án tại hồ sơ Một trong những nguyên tắc của xét xử đòi hỏi mọi chứng cứ của vụ án phải được thu nhập đầy đủ chính xác đúng quy định của luật tố tụng và đưa vào hồ sơ của vụ án. Việc truy tố, xét xử chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được thu nhập đúng thủ tục và đã được đưa vào hồ sơ vụ án. Chứng cứ được thu thập trái với quy định của luật tố tụng hoặc thu nhập đúng với trình tự thủ tục tố tụng nhưng chưa được đưa vào hồ sơ vụ án, thì không có giá trị pháp lý. Từ điển Luật học trang 16
Án tại hồ sơ Một trong những nguyên tắc của xét xử đòi hỏi mọi chứng cứ của vụ án phải được thu nhập đầy đủ chính xác đúng quy định của luật tố tụng và đưa vào hồ sơ của vụ án. Việc truy tố, xét xử chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được thu nhập đúng thủ tục và đã được đưa vào hồ sơ vụ án. Chứng cứ được thu thập trái với quy định của luật tố tụng hoặc thu nhập đúng với trình tự thủ tục tố tụng nhưng chưa được đưa vào hồ sơ vụ án, thì không có giá trị pháp lý. Từ điển Luật học trang 16
Án tại hồ sơ Một trong những nguyên tắc của xét xử đòi hỏi mọi chứng cứ của vụ án phải được thu nhập đầy đủ chính xác đúng quy định của luật tố tụng và đưa vào hồ sơ của vụ án. Việc truy tố, xét xử chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được thu nhập đúng thủ tục và đã được đưa vào hồ sơ vụ án. Chứng cứ được thu thập trái với quy định của luật tố tụng hoặc thu nhập đúng với trình tự thủ tục tố tụng nhưng chưa được đưa vào hồ sơ vụ án, thì không có giá trị pháp lý. Từ điển Luật học trang 16
Án tại hồ sơ Một trong những nguyên tắc của xét xử đòi hỏi mọi chứng cứ của vụ án phải được thu nhập đầy đủ chính xác đúng quy định của luật tố tụng và đưa vào hồ sơ của vụ án. Việc truy tố, xét xử chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được thu nhập đúng thủ tục và đã được đưa vào hồ sơ vụ án. Chứng cứ được thu thập trái với quy định của luật tố tụng hoặc thu nhập đúng với trình tự thủ tục tố tụng nhưng chưa được đưa vào hồ sơ vụ án, thì không có giá trị pháp lý. Từ điển Luật học trang 16
An táng Là hình thức mai táng thi hài của một người vĩnh viễn trong đất (mai táng một lần) 33/2007/QĐ-UBND
An táng Là hình thức mai táng thi hài của một người vĩnh viễn trong đất (mai táng một lần) 33/2007/QĐ-UBND
An táng Là hình thức mai táng thi hài của một người vĩnh viễn trong đất (mai táng một lần) 33/2007/QĐ-UBND
An táng Là hình thức mai táng thi hài của một người vĩnh viễn trong đất (mai táng một lần) 33/2007/QĐ-UBND
Án tích Dấu vết về án hình sự của người đã bị xử và chưa xoá án được ghi vào một quyển sổ gọi là lý lịch tư pháp để sau này, trong một số trường hợp, cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ đối với pháp luật. Vd. Trong lý lịch của bị can, bị cáo phải ghi rõ án tích (hiện nay dùng phổ biến từ tiền án). Người có án tích sau một thời gian, nếu chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không phạm tội mới sẽ được xoá án tức là coi như chưa bị kết cán (Điều 52 - Bộ luật hình sự). Khi quyết định hình phạt, toà án có thể coi việc một người sau khi đã kết án lại phạm tội mới là một tình tiết tăng nặng. Một trong những tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 39 - Bộ luật hình sự là "phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm". Trong một số trường hợp được quy định cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, án tích là cơ sở để áp dụng luật về tội nặng hơn đối với người phạm tội. Trong một số trường hợp, án tích về tội này hay tội khác sẽ dẫn đến việc hạn chế người mang án quyền lựa chọn nơi cư trú; còn án tích về tội vụ lợi có thể sẽ là một trở ngại đối với việc được nhận vào làm những việc có liên quan đến trách nhiệm vật chất. Từ điển Luật học trang 16
Án tích Dấu vết về án hình sự của người đã bị xử và chưa xoá án được ghi vào một quyển sổ gọi là lý lịch tư pháp để sau này, trong một số trường hợp, cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ đối với pháp luật. Vd. Trong lý lịch của bị can, bị cáo phải ghi rõ án tích (hiện nay dùng phổ biến từ tiền án). Người có án tích sau một thời gian, nếu chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không phạm tội mới sẽ được xoá án tức là coi như chưa bị kết cán (Điều 52 - Bộ luật hình sự). Khi quyết định hình phạt, toà án có thể coi việc một người sau khi đã kết án lại phạm tội mới là một tình tiết tăng nặng. Một trong những tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 39 - Bộ luật hình sự là "phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm". Trong một số trường hợp được quy định cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, án tích là cơ sở để áp dụng luật về tội nặng hơn đối với người phạm tội. Trong một số trường hợp, án tích về tội này hay tội khác sẽ dẫn đến việc hạn chế người mang án quyền lựa chọn nơi cư trú; còn án tích về tội vụ lợi có thể sẽ là một trở ngại đối với việc được nhận vào làm những việc có liên quan đến trách nhiệm vật chất. Từ điển Luật học trang 16
Án tích Dấu vết về án hình sự của người đã bị xử và chưa xoá án được ghi vào một quyển sổ gọi là lý lịch tư pháp để sau này, trong một số trường hợp, cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ đối với pháp luật. Vd. Trong lý lịch của bị can, bị cáo phải ghi rõ án tích (hiện nay dùng phổ biến từ tiền án). Người có án tích sau một thời gian, nếu chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không phạm tội mới sẽ được xoá án tức là coi như chưa bị kết cán (Điều 52 - Bộ luật hình sự). Khi quyết định hình phạt, toà án có thể coi việc một người sau khi đã kết án lại phạm tội mới là một tình tiết tăng nặng. Một trong những tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 39 - Bộ luật hình sự là "phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm". Trong một số trường hợp được quy định cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, án tích là cơ sở để áp dụng luật về tội nặng hơn đối với người phạm tội. Trong một số trường hợp, án tích về tội này hay tội khác sẽ dẫn đến việc hạn chế người mang án quyền lựa chọn nơi cư trú; còn án tích về tội vụ lợi có thể sẽ là một trở ngại đối với việc được nhận vào làm những việc có liên quan đến trách nhiệm vật chất. Từ điển Luật học trang 16
Án tích Dấu vết về án hình sự của người đã bị xử và chưa xoá án được ghi vào một quyển sổ gọi là lý lịch tư pháp để sau này, trong một số trường hợp, cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ đối với pháp luật. Vd. Trong lý lịch của bị can, bị cáo phải ghi rõ án tích (hiện nay dùng phổ biến từ tiền án). Người có án tích sau một thời gian, nếu chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không phạm tội mới sẽ được xoá án tức là coi như chưa bị kết cán (Điều 52 - Bộ luật hình sự). Khi quyết định hình phạt, toà án có thể coi việc một người sau khi đã kết án lại phạm tội mới là một tình tiết tăng nặng. Một trong những tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 39 - Bộ luật hình sự là "phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm". Trong một số trường hợp được quy định cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, án tích là cơ sở để áp dụng luật về tội nặng hơn đối với người phạm tội. Trong một số trường hợp, án tích về tội này hay tội khác sẽ dẫn đến việc hạn chế người mang án quyền lựa chọn nơi cư trú; còn án tích về tội vụ lợi có thể sẽ là một trở ngại đối với việc được nhận vào làm những việc có liên quan đến trách nhiệm vật chất. Từ điển Luật học trang 16
An toàn Là trạng thái mà khả năng gây hại cho người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng mối nguy hiểm và quản lý rủi ro 53/2011/TT-BGTVT
An toàn Là trạng thái mà khả năng gây hại cho người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng mối nguy hiểm và quản lý rủi ro 53/2011/TT-BGTVT
An toàn Là trạng thái mà khả năng gây hại cho người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng mối nguy hiểm và quản lý rủi ro 53/2011/TT-BGTVT
An toàn Là trạng thái mà khả năng gây hại cho người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng mối nguy hiểm và quản lý rủi ro 53/2011/TT-BGTVT
An toàn (safety) Là trạng thái mà con người, thiết bị, môi trường được bảo vệ, phòng chống lại những tác nhân nguy hại có thể phát sinh (hoặc tiềm ẩn) do chủ quan, khách quan trong hoạt động khoáng sản bằng phương pháp khai thác mỏ lộ thiên 20/2009/TT-BCT
An toàn (safety) Là trạng thái mà con người, thiết bị, môi trường được bảo vệ, phòng chống lại những tác nhân nguy hại có thể phát sinh (hoặc tiềm ẩn) do chủ quan, khách quan trong hoạt động khoáng sản bằng phương pháp khai thác mỏ lộ thiên 20/2009/TT-BCT
An toàn (safety) Là trạng thái mà con người, thiết bị, môi trường được bảo vệ, phòng chống lại những tác nhân nguy hại có thể phát sinh (hoặc tiềm ẩn) do chủ quan, khách quan trong hoạt động khoáng sản bằng phương pháp khai thác mỏ lộ thiên 20/2009/TT-BCT
An toàn (safety) Là trạng thái mà con người, thiết bị, môi trường được bảo vệ, phòng chống lại những tác nhân nguy hại có thể phát sinh (hoặc tiềm ẩn) do chủ quan, khách quan trong hoạt động khoáng sản bằng phương pháp khai thác mỏ lộ thiên 20/2009/TT-BCT
An toàn bức xạ Là việc thực hiện các biện pháp chống lại tác hại của bức xạ, ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu quả của chiếu xạ đối với con người, môi trường 21/2012/QĐ-UBND
An toàn bức xạ Là việc thực hiện các biện pháp chống lại tác hại của bức xạ, ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu quả của chiếu xạ đối với con người, môi trường 21/2012/QĐ-UBND
1.632 Trang «<78910111213>»