DanLuat 2015

Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chủ đề   RSS   
  • #380986 25/04/2015

    tranga9_1993

    Female
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:19/10/2012
    Tổng số bài viết (16)
    Số điểm: 335
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 1 lần


    Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    Chào luật sư!

    Luật sư cho cháu hỏi vấn đề sau: Nhà cháu có mua một mảnh đất thông qua Công ty bất động sản. Theo như cháu được biết thì hai bên phải tiến hành làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng công chứng.Bên bán nói khi hai bên đã ký vào hợp đồng công chứng nhà cháu giao 90% tiền , họ sẽ lo thủ tục sang tên sổ đỏ và khi nào có giấy hẹn lấy sổ đỏ thì nhà cháu giao 10% tiền còn lại. Vậy thủ tục sang tên thì do bên bán hay bên mua chịu phí ạ? và như vậy có sợ bên công ty bất động sản lừa ko? hay khi giao dịch càn giấy tờ gì để chứng minh là họ sẽ làm thủ tục sang tên cho mình? 

    Mong nhận được sự giúp đỡ của luật sư!

    Xin cảm ơn!

     
    13350 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #381153   27/04/2015

    lsnguyenluong
    lsnguyenluong
    Top 150
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:03/09/2014
    Tổng số bài viết (420)
    Số điểm: 2502
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 156 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    Công ty bất động sản bạn nêu là công ty môi giới phải không bạn, nếu họ chỉ là môi giới thì khi người bán, người mua gặp nhau rồi thì các thủ tục như ký hợp đồng chuyển nhượng, sang tên trước bạ còn lại bạn hoàn toàn có thể tự đi làm để khỏi sợ họ lừa.

    Như bạn nêu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được ký kết ở Văn phòng công chứng, lệ phí công chứng các bên thỏa thuận, phí trước bạ sang tên 0,5% bên mua chịu, thuế thu nhập cá nhân 2% bên bán chịu (hoặc 2 bên có thể thỏa thuận).

    Khi mua bán nhà đất ngoài việc kiểm tra xem có đúng người bán là chủ của nhà đất không, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) có phải thật không, CMND, Hộ khẩu của người bán có thật hay không thì nguyên tắc chung là khi đã ký hợp đồng công chứng và mình đã cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) bản gốc, cùng với 3 bản sao có chứng thực CMND, Hộ khẩu của bên bán rồi thì mình mới giao tiền cho bên bán (90% hay bao nhiêu là thỏa thuận của 2 bên). Khi nào mình làm xong sổ đỏ thì mới trả nốt tiền cho họ.

    Mình phải là người trực tiếp cầm các giấy tờ đó đến Văn phòng đăng ký nhà đất quận/huyện để làm thủ tục sang tên, chứ không bao giờ để cho bên bán cầm các giấy tờ đó đi làm cho mình (tránh trường hợp bên bán cầm các giấy tờ đó, đặc biệt là sổ đỏ bản gốc tiếp tục đi làm thủ tục chuyển nhượng cho người khác nữa).

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn lsnguyenluong vì bài viết hữu ích
    tranga9_1993 (04/05/2015)
  • #381493   02/05/2015

    onlinelaw
    onlinelaw

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:22/03/2012
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Chào ,

    Khi các bên đề nghị cơ quan công chứng có thẩm quyền công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì cơ quan công chứng phải kiểm tra các giao dịch có liên quan đến nhà đất chuyển nhượng trên mạng công chứng UCHI để xem nhà đất có đảm bảo điều kiện chuyển nhượng hay không. Nếu đảm bảo điều kiện chuyển nhượng thì sau khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng xong, cơ quan công chứng có thẩm quyền có trách nhiệm chuyển thông tin lên mạng UCHI để các cơ quan công chứng khác có thể tra cứu.

    Như vậy, nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng tại cơ quan công chứng thì bạn cũng có thể khá yên tâm rằng bên chuyển nhượng hầu như không có khả năng lừa bạn để tiếp tục bán cho bên thứ ba khác (giả sử rằng bên chuyển nhượng làm được việc chuyển nhượng cho bên thứ ba khác thì khả năng dám thực hiện cũng ít xảy ra khi họ phải đối mặt với nguy cơ gánh chịu trachs nhiệm hình sự).

    Theo suy đoán của tôi, bạn muốn việc nhận chuyển nhượng được an toàn (đăng ký biến động sang tên bạn trên giấy chứng chứng xong mới thanh toán hết) và bên chuyển nhượng cũng như thế (khi ký hợp đồng công chứng và giao sổ đỏ thì phải được nhận thanh toán đủ tiền chuyển nhượng. Bạn thanh toán cho họ 90% thì họ sẽ làm thủ tục sang tên và giữ lại sổ cho đến khi bạn thanh toán nốt). Nếu đúng thì chắc tùy trường hợp mà ứng biến thôi (có thể thương lượng bên bạn trực tiếp làm thủ tục chuyển nhượng và chỉ giữ lại một số tiền nhỏ của bên chuyển nhượng cho đến khi hoàn tất thủ tục thôi).

    Cũng xin được chia sẻ thêm kinh nghiệm với  là: trước khi quyết định nhận chuyển nhượng nhà đất, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình và tránh những phát sinh không mong muốn thì  nên nhờ kiểm tra các thông tin có liên quan (như nhà đất có thuộc quy hoạch, tranh chấp hoặc hạn chế chuyển nhượng không...) tại cơ quan địa chính nơi có đất .

    Trân trọng !

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn onlinelaw vì bài viết hữu ích
    tranga9_1993 (04/05/2015)
  • #381619   04/05/2015

    Chào Luật sư, 

    Xin vui lòng cho biết:

    1 - Một bản di chúc hợp lệ về việc thừa kế nhà là như thế nào? 

    2 - Bản di chúc viết tay có chữ ký của người chủ tài sản nhưng không có người làm chứng hoặc công chứng thì có hiệu lực không? 

     

    Trân trọng cảm ơn, 

    Phan Quốc Việt

     
    Báo quản trị |  
  • #381651   04/05/2015

    nguoitruongphu
    nguoitruongphu
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2014
    Tổng số bài viết (1090)
    Số điểm: 9134
    Cảm ơn: 87
    Được cảm ơn 294 lần


    tranga9_1993 viết:

    Chào luật sư!

    Luật sư cho cháu hỏi vấn đề sau: Nhà cháu có mua một mảnh đất thông qua Công ty bất động sản. Theo như cháu được biết thì hai bên phải tiến hành làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng công chứng.Bên bán nói khi hai bên đã ký vào hợp đồng công chứng nhà cháu giao 90% tiền , họ sẽ lo thủ tục sang tên sổ đỏ và khi nào có giấy hẹn lấy sổ đỏ thì nhà cháu giao 10% tiền còn lại. Vậy thủ tục sang tên thì do bên bán hay bên mua chịu phí ạ? và như vậy có sợ bên công ty bất động sản lừa ko? hay khi giao dịch càn giấy tờ gì để chứng minh là họ sẽ làm thủ tục sang tên cho mình? 

    Mong nhận được sự giúp đỡ của luật sư!

    Xin cảm ơn!

    Muốn tư vấn chính xác phải đưa thông tin cụ thể ....tư vấn theo kiểu mù xem voi là tự sát....tôi có nhiều câu hỏi chờ bạn trả lời?

    ---Đất loại gì?( ở riêng lẻ ,nông thôn,Đất lúa,vườn ,ao?) đất mua thuộc tỉnh ,thành xã ,huyện nào?

    ---Diện tích là bao nhiêu?

    ---Có bản đồ kèm theo chưa?có dấu Kiểm Định chưa?

    --- Đất có qui hoạch gì chưa?có giấy xác nhận thông tin qui hoạch của Quận ,huyện chưa?

    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

    Văn phòng công chứng ký xác nhận giao dịch ....mà trả 90% thì là 100% người mua bị lừa....10% còn lại chỉ nộp thuế thu nhập cá nhân,thuế trước bạ sang tên ,dịch vụ phí của Công chứng , môi giới ...người bán xem như đã nhận đủ tiền ....Giấy tờ chừng nào xong hả bạn?100 năm chưa xong vì công ty bất Dộng sãn đó Nợ Thuế NN như chúa chõm làm sao quyết toán thế ?

    Cho dù em có xem anh là kẻ thù !Anh vẫn xem em là bạn ,bởi vì nếu không có em ( tức kẻ thù) ,thì lấy ai đâu ...để anh vượt qua thử thách?

    nguoitruongphu

     
    Báo quản trị |  
  • #381670   04/05/2015

    lsnguyenluong
    lsnguyenluong
    Top 150
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:03/09/2014
    Tổng số bài viết (420)
    Số điểm: 2502
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 156 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Pháp luật qua các thời kỳ khác nhau quy định về hình thức của di chúc chỉ với mục đích đảm bảo di chúc đó do chính người có tài sản lập trong trạng thái minh mẫn lập, không bị ai ép buộc, lừa dối. Do vậy nếu xác định được di chúc đó do chính người có tài sản lập, có chữ ký của họ thì về nguyên tắc di chúc đó sẽ hợp pháp mà không cần người làm chứng hay cần công chứng.

    Để đánh giá một bản di chúc có hiệu lực pháp luật hay không thì phải căn cứ nhiều yếu tố như thời điểm lập di chúc, người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản đó không, người lập di chúc có biết chữ hay không, nếu không biết chữ thì ai là người làm chứng...nếu bạn có bản di chúc đó thì có thể chụp và up lên chúng tôi sẽ xem giúp.

    Còn nếu bạn muốn lập một bản di chúc mới thì có thể theo các quy định về di chúc trong Bộ luật dân sự 2005 như sau:

    "Điều 646. Di chúc

    Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

    Điều 647.Người lập di chúc

    1. Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

    2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

    Điều 648.Quyền của người lập di chúc

    Người lập di chúc có các quyền sau đây:

    1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

    2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

    3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

    4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

    5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

    Điều 649.Hình thức của di chúc

    Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

    Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.

    Điều 650. Di chúc bằng văn bản

    Di chúc bằng văn bản bao gồm:

    1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

    2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

    3. Di chúc bằng văn bản có công chứng;

    4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

    Điều 651. Di chúc miệng

    1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

    2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

    Điều 652. Di chúc hợp pháp

    1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

    b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

    2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

    3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

    4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

    5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

    Điều 653. Nội dung của di chúc bằng văn bản

    1. Di chúc phải ghi rõ:

    a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

    b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

    c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

    d) Di sản để lại và nơi có di sản;

    đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

    2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

    Điều 654. Người làm chứng cho việc lập di chúc

    Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

    1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

    2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

    3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

    Điều 655. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

    Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

    Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của Bộ luật này.

    Điều 656. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

    Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

    Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này.

    Điều 657. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực

    Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.

    Điều 658. Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

    Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

    1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;

     2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

    Điều 659. Người không được công chứng, chứng thực di chúc

    Công chứng viên, người có thẩm quyền của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không được công chứng, chứng thực đối với di chúc, nếu họ là:

    1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

    2. Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;

    3. Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

    Điều 660. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực

    Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực bao gồm:

    1. Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;

    2. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó;

    3. Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;

    4. Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;

    5. Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó;

    6. Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

    Điều 661. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở

    1. Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.

    2. Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng theo quy định tại Điều 658 của Bộ luật này.

    Điều 662. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

    1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào.

    2. Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

    3. Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.

    Điều 663. Di chúc chung của vợ, chồng

    Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.

    Điều 664. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng

    1. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.

    2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

    Điều 665. Gửi giữ di chúc

    1. Người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc.

    2. Trong trường hợp cơ quan công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của pháp luật về công chứng.

    3. Cá nhân giữ bản di chúc có các nghĩa vụ sau đây:

    a) Giữ bí mật nội dung di chúc;

    b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc;

    c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của hai người làm chứng.

    Điều 666. Di chúc bị thất lạc, hư hại

    1. Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.

    2. Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.

    Điều 667. Hiệu lực pháp luật của di chúc

    1. Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.

    2. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

    a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

    b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.

    Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.

    3. Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

    4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật.

    5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.

    Điều 668. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng

    Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.

    Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

    Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

    1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

    2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

    Điều 670. Di sản dùng vào việc thờ cúng

    1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

    Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

    Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

    2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

    Điều 671. Di tặng

    1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.

    2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.

    Điều 672. Công bố di chúc

    1. Trong trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại cơ quan công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc.

    2. Trong trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thoả thuận cử người công bố di chúc.

    3. Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc.

    4. Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc.

    5. Trong trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng.

    Điều 673. Giải thích nội dung di chúc

    Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì coi như không có di chúc và việc chia di sản được áp dụng theo quy định về thừa kế theo pháp luật.

    Trong trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực."

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư Nguyễn Lượng

Thành viên Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Điện thoại: 0903 488 525

0 Thành viên đang online
-