DanLuat 2015

THU TIỀN HỖ TRỢ, TIỀN THƯỞNG, TIỀN BỒI THƯỜNG NHẬN ĐƯỢC… SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HƯỚNG DẪN CỦA LUẬT VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN

Chủ đề   RSS   
  • #308115 25/01/2014

    bluesky1984
    Top 75
    Female
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/05/2012
    Tổng số bài viết (730)
    Số điểm: 6500
    Cảm ơn: 207
    Được cảm ơn 382 lần
    Moderator

    THU TIỀN HỖ TRỢ, TIỀN THƯỞNG, TIỀN BỒI THƯỜNG NHẬN ĐƯỢC… SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HƯỚNG DẪN CỦA LUẬT VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN

    Thân chào tất cả mọi người,

    Bây giờ đã là 1h đúng, định gấp máy đi ngủ, nhưng không hiểu sao tại có hứng viết, có thể máu đam mê tìm hiểu, nghiên cứu văn bản pháp luật lại cuồn cuộn goài. 

     

    Như chủ đề mình nêu trên, nó không xa lạ với toàn dân kế toán thuế nhà ta, nhưng thực sự để hiểu nó giữa lý thuyết và thực tiễn thì chưa ai để ý sâu xa. Mình mạo muội đưa ra bài phân tích này để dân kế toán thuế nhà ta cùng chiêm ngẫm.

     

    Mình ko đi đâu xa, mà bắt nguồn ngay văn bản còn đang hiệu lực để mở màn cho bài viết của mình.

     

    Như mọi người đã biết, theo khoản 2, điều 5, thông tư 06/2012/TT-BTC ban hành 11 tháng 01 năm 2012:

     

    2. Các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác, trừ khoản lãi cho vay do doanh nghiệp không phải là tổ chức tín dụng nhận được.

    Cơ sở kinh doanh khi nhận khoản tiền thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác thì lập chứng từ thu theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền, căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền.

    Trường hợp bồi thường bằng hàng hoá, dịch vụ thì cơ sở bồi thường phải lập hoá đơn như đối với bán hàng hoá, dịch vụ; cơ sở nhận bồi thường kê khai, khấu trừ theo quy định.

    Ví dụ 10: Công ty cổ phần VC ký hợp đồng cho Doanh nghiệp T vay tiền trong thời hạn 6 tháng và được nhận khoản tiền lãi. Công ty cổ phần VC phải kê khai nộp thuế GTGT đối với khoản tiền lãi từ hợp đồng cho vay nêu trên.

    Ví dụ 11: Công ty TNHH P&C nhận được khoản tiền lãi từ việc mua trái phiếu và tiền cổ tức từ việc mua cổ phiếu của các doanh nghiệp khác. Công ty TNHH P&C không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền lãi từ việc mua trái phiếu và tiền cổ tức nhận được.

    Ví dụ 12: Doanh nghiệp A nhận được khoản bồi thường thiệt hại do bị huỷ hợp đồng từ doanh nghiệp B là 50 triệu đồng thì doanh nghiệp A lập chứng từ thu và không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền trên.

    Ví dụ 13: Doanh nghiệp X mua hàng của doanh nghiệp Y, doanh nghiệp X có ứng trước cho doanh nghiệp Y một khoản tiền và được doanh nghiệp Y trả lãi cho khoản tiền ứng trước đó thì doanh nghiệp X không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản lãi nhận được.

    Ví dụ 14: Doanh nghiệp X bán hàng cho doanh nghiệp Z, tổng giá thanh toán là 440 triệu đồng. Theo hợp đồng, doanh nghiệp Z thanh toán trả chậm trong vòng 3 tháng, lãi suất trả chậm là 1%/tháng/tổng giá thanh toán của hợp đồng. Sau 3 tháng, doanh nghiệp X nhận được từ doanh nghiệp Z tổng giá trị thanh toán của hợp đồng là 440 triệu đồng và số tiền lãi chậm trả là 13,2 triệu đồng (440 triệu đồng x 1% x 3 tháng) thì doanh nghiệp X không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền 13,2 triệu đồng này.

     

    Và theo khoản 3, điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC của thông tư 65/2013/TT-BTC ban hành ngày 17 tháng 5 năm 2013:

     

    “2. Các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.

    Cơ sở kinh doanh khi nhận khoản tiền thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác thì lập chứng từ thu theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền, căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền.

    Trường hợp bồi thường bằng hàng hoá, dịch vụ thì cơ sở bồi thường phải lập hoá đơn như đối với bán hàng hoá, dịch vụ; cơ sở nhận bồi thường kê khai, khấu trừ theo quy định

     

    --> Như vậy, dựa vào hai trích dẫn trên chúng ta chỉ có thể xuất chứng từ thu (phiếu thu) hoặc chứng từ chi (phiếu chi) khi thu và chi các khoản tiền liên quan đến việc hỗ trợ, tiền thưởng, bồi thường… mà ko xuất hóa đơn. Chỉ trường hợp bồi thường bằng hàng hóa và dịch vụ thì mới xuất hóa đơn. Mình lưu ý đến hai chữ “bồi thường” ko phải là trao đổi ngang giá khi dùng tiền hỗ trợ, tiền thưởng, tiền bồi thường để dùng cho mục đích tiếp thị hay trao đổi được phép quảng cáo…

     

    Tuy nhiên, qua khảo sát của mình qua các văn bản. Cụ thể là văn bản X như sau:

    ….Trường hợp bên giao đại lý chi hỗ trợ cho các cơ sở làm đại lý một khoản tiền dưới hình thức Hỗ trợ chi phí, hỗ trợ tiếp thị hoặc chi thưởng khuyến mại theo cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp được quy định bằng văn bản thì các khoản chi này bên giao đại lý phải lập chứng từ chi và hoạch toán vào chi phí tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại trong chi phí khác và chỉ được tính vào chi phí khác trong phạm vị khống chế theo tỉ lệ % quy định tại Thông tư số 99/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính. Cơ sở làm đại lý khi nhận được khoản tiền hỗ trợ trên phải hạch toán vào thu nhập khác để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Theo quy định tại Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000, khoản tiền hoa hồng chi trả cho các đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng không thuộc đối tượng chiụ thuế GTGT. Khi thanh toán tiền hoa hồng, cơ sở đại lý phải lập hoá đơn GTGT để thanh toán, trên hoá đơn chỉ ghi dòng giá bán là tiền hoa hồng, dòng thuế suất và tiền thuế GTGT không ghi và gạch bỏ. Khoản chi hỗ trợ tiếp thị, chi thưởng khuyến mại cũng thuộc chi phí hoa hồng mà bên giao đại lý chi trả cho bên nhận đại lý.

    Do đó, đối với các đại lý nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, phát sinh doanh thu hoa hồng và các khoản nhận được về hỗ trợ tiếp thị, thưởng khuyến mại thường xuyên, số tiền lớn thì Cục thuế cần khuyến khích và yêu cầu các đại lý lập hoá đơn GTGT khi được thanh toán tiền như quy định tại Thông tư số 122/2000/TT-BTC.

     

    --> Theo công văn ở trên, khuyến khích và yêu cầu lập hóa đơn với các số tiền hỗ trợ được xem là lớn thì xuất hóa đơn GTGT và kê khai bình thường. Vậy, có đúng với tính chất của tiền hỗ trợ phát sinh không? Có phải DN cung cấp dịch vụ quảng cáo, thương mại cho đối tác hay không? Giả sử rằng, DN này không có chức năng cung cấp dịch vụ quảng cáo, tiếp thị…này thì thế nào? Xin đáp rằng, thế nên mới gọi là khoản tiền hỗ trợ chi phí…, ko phải là khoản tiền bỏ ra để mua dịch vụ, phát sinh hoạt động kinh doanh thứ hai.

     

    Kế tiếp, mình thêm một thực tế của văn bản XX như sau:

     

    Căn cứ Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng (GTGT );

    Căn cứ Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):

    + Tại khoản 1 Điều 6 quy định khoản chi được trừ:

    “Trừ các khoản chi nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

    b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.”

    + Tại khoản 2.19 Điều 6 quy định khoản chi không được trừ:

    “Phần chi vượt quá 10% tổng số chi được trừ, bao gồm: chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với doanh nghiệp thành lập mới là phần chi vượt quá 15% tổng số chi được trừ trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập. Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi khống chế quy định tại điểm này; đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra;”

    Căn cứ Thông tư số 64/2013/TT-BTC TT-BTC ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

    Trường hợp Công ty theo trình bày, có phát sinh chi phí hỗ trợ cho các nhà phân phối, đại lý để thực hiện chương trình khuyến mại, tiếp thị và trưng bày sản phẩm của Công ty thì khi thu tiền các nhà phân phối, đại lý phải lập hóa đơn GTGT (áp dụng thuế suất 10%) giao cho Công ty để Công ty làm căn cứ tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN (thuộc khoản mục chi phí khác bị khống chế không vượt quá 10% tổng số chi được trừ quy định tại khoản 2.19 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC).


    Kế tiếp văn bản XXX được tóm tắt như sau:

     

    - Căn cứ điểm 2.5, điểm 2.19 mục IV phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26.12.2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng (GTGT):

    “Hàng hoá, dịch vụ có giảm giá thì trên hóa đơn ghi giá bán đã giảm, thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT.

    Nếu việc giảm giá áp dụng căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hoá, dịch vụ thực tế mua đạt mức nhất định thì số tiền giảm giá của hàng hoá đã bán được tính điều chỉnh trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trên hoá đơn phải ghi rõ số hóa đơn được giảm giá và số tiền được giảm giá.”

    “Đối với cơ sở kinh doanh nhận tiền hỗ trợ của các cơ sở kinh doanh khác thì khi nhận tiền cơ sở kinh doanh lập chứng từ thu và xác định là khoản thu nhập khác để kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

    Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền hỗ trợ, căn cứ mục đích hỗ trợ đã được ghi trong hợp đồng hỗ trợ để lập chứng từ chi tiền.”

    Căn cứ điểm 2.19 mục IV phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) qui định các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chiụ thuế bao gồm:

    “Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 10% tổng số chi được trừ; đối với doanh nghiệp thành lập mới là phần chi vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập. Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi khống chế quy định tại điểm này; đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hóa bán ra”.

    Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty áp dụng việc giảm giá căn cứ vào doanh số hàng hoá thực tế mua thì số tiền giảm giá được tính điều chỉnh trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau.

    Trường hợp số tiền giảm giá không điều chỉnh trên hóa đơn mà công ty thực hiện chi trả cho khách hàng bằng tiền thì khi chi trả, Công ty lập chứng từ chi để làm căn cứ tính vào chi phí được trừ và thuộc khoản chi bị khống chế không vượt quá 10% theo quy định trên.

     

     --> Qua những điểm nêu ở trên, chúng ta có chứng từ thu tiền, chi tiền, nghiệp vụ phát sinh không phải là trường hợp bồi thường bằng hàng hóa dịch vụ, chiếu theo đoạn trích thông tư 06/2012 và thông tư 65/2013 ở trên thì vẫn hợp lệ, và khi hạch toán thu các dân kế nhà ta hạch toán vào thu nhập khác, trích đóng thuế đầy đủ. Hoàn toàn hợp lệ và thực hiện đúng nghĩa vụ nộp NSNN. Tương tự như vậy, ngược lại với các khoản chi tiền hỗ trợ, tiền thưởng này, thực sự có liên quan đến hoạt động kinh doanh, mục đích bán hàng hóa..., có hợp đồng đầy đủ, biên bản giao hàng… thì ko cớ gì ko có hóa đơn thì ko được đưa vào chi phí hợp lý. Theo tóm tắt của công văn XXX ở trên và thỏa đủ điều kiện khoản 1, điều 6, khoản 2.19, điều 6 của thông tư 123/2012 hướng dẫn về thuế TNDN thì chứng từ thu/chi liên quan đến việc hỗ trợ, bồi thường, tiền thưởng... có thể được đưa vào chi phí hợp lý.

    Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

    1. Trừ các khoản chi nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

    b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

     

    Theo ý kiến của mình, là hoàn toàn có thể hợp lệ và chúng ta có thể đi sâu thực tiễn tại DN để thấy rõ hơn.

    Vậy, giữa sự hướng dẫn của thông tư và các văn bản chưa thực sự nhất quán như thế này, các bạn có ý kiến nào về trường hợp này ko? Cùng ngồi mổ xẻ và tìm ra tinh túy của văn bản pháp luật khi đưa vào áp dụng quản lý nha các bạn.

     

    Thân chào

     

     

     

     
    33173 | Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn bluesky1984 vì bài viết hữu ích
    tamcaominh (29/01/2014) mrvanthuc (25/01/2014) admin (25/01/2014)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận

0 Thành viên đang online
-