Thời hiệu thi hành án?

Chủ đề   RSS   
  • #272611 29/06/2013

    nhatraicay@gmail.com



    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:04/06/2011
    Tổng số bài viết (85)
    Số điểm: 1910
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 4 lần


    Thời hiệu thi hành án?

    tôi có đọc được 1 tư vấn : 1 người thiếu 2 tỷ ko có khả năng trả nợ nếu người đó bị kiện ra tòa và khi có bản án nếu người được thi hành án ko đòi được nợ và nhờ cơ quan thi hành án thi hành nhưng cơ quan thi hành án ko tìm thấy tài sản nên trả lại đơn xin thi hành án nếu trong vòng 5 năm mà người được thi hành án phát hiện ra tài sản của người phải thi hành án thì có quyền yêu cầu thi hành án trở lại nếu hết thời hiệu 5 năm mà phát hiện ra tài sản thì cũng ko thể yêu cầu thi hành án tức ko bao giờ lấy lại được tài sản?và nếu thẩm phán ấn định thời gian trả nợ thì phải trả hết suốt cuộc đời là sao? có phải khi nào phát hiện ra tài sản thì có quyền làm đơn xin thi hành án hay chỉ trong vòng 5 năm ?xin giúp cho tôi hiểu. xin cám ơn

    Cập nhật bởi KhacDuy25 ngày 30/06/2013 08:32:47 SA sửa tiêu đề
     
    47301 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #272626   30/06/2013

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1975 lần


    Chào bạn!

    Tôi xin trao đổi với bạn như sau:

    Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn trả nợ có liên quan, thì thẩm phán không có quyền ghi nhận nội dung ấn định thời hạn trả nợ hết cuộc đười của người nợ, mà Thẩm phán phải căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự để ra phán quyết.

    Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 5 năm, kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên sẽ không tính vào thời hạn yêu cầu thi hành án khi có căn cứ để quyết định tạm hoãn, tạm đình chỉ thi hành án của Cơ quan Thi hành án (trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án cho người phải thi hành án)

    Căn cứ điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008:

    Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

    1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

    Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

    Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

    2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

    3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

    Khi có căn cứ được quy định tại điều 48, điều 49 Luật Thi hành án dân sự năm 2008:

    Điều 48. Hoãn thi hành án

    1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường hợp sau đây:

    a) Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định;

    b) Người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án. Việc đồng ý hoãn phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của các bên. Trong thời gian hoãn thi hành án do có sự đồng ý của người được thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án;

    c) Người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên;

    d) Tài sản kê biên có tranh chấp đã được Tòa án thụ lý để giải quyết;

    đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 179 của Luật này.

    2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.

    Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.

    Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được. 

    Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

    3. Thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.

    4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.

    Điều 49. Tạm đình chỉ thi hành án

    1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị.

    Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

    2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án.

    Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án.

    3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây:

    a) Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền;

    b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;

    c) Quyết định của Toà án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

    Thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án. Như vậy, trong thời hạn năm năm kể từ ngày Bản án, quyết định có hiệu lực thì bạn phải làm Đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không có căn cứ để tạm hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án, thì sau đó, thời gian tạm hoãn, tạm đình chỉ thi hành án bao lâu đi nữa, khi có căn cứ thi hành án lại, bạn có quyền yêu cầu thi hành án. 

    Như vậy, trong trường hợp bạn hỏi, sau khi có quyết định tạm hoãn, tạm đình chỉ (trong thời hạn 5 năm yêu cầu thi hành án), thì sau này khi nhận thấy người phải thi hành án có tài sản thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án.

    Nếu có điểm nào chưa rõ, DanLuat có thể trao đổi thêm cho bạn.

    Trân trọng!

     

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
  • #272241   27/06/2013

    nhatraicay@gmail.com
    nhatraicay@gmail.com



    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:04/06/2011
    Tổng số bài viết (85)
    Số điểm: 1910
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 4 lần


    cần tư vấn

    xin cho tôi hỏi khởi kiện 1 người vay tiền ko có tài sản đảm bảo ko có khả năng chi trả thì làm sao để thi hành án? có phải cầm bản án đó suốt cuộc đời người ấy khi nào thấy người ấy có tài sản thì báo thi hành án? vậy nên kiện hay bỏ .xin cám ơn

     
    Báo quản trị |  
  • #272434   28/06/2013

    ntdieu
    ntdieu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:11/02/2009
    Tổng số bài viết (14720)
    Số điểm: 102017
    Cảm ơn: 3393
    Được cảm ơn 5238 lần
    SMod

    Chào bạn, việc kiện hay bỏ là do bạn cân nhắc giữa lời và lỗ và tự quyết định thôi, không ai quyết định thay cho bạn được.

     
    Báo quản trị |  
  • #273211   03/07/2013

    nhatraicay@gmail.com
    nhatraicay@gmail.com



    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:04/06/2011
    Tổng số bài viết (85)
    Số điểm: 1910
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 4 lần


    thi hành án dân sự

    xin chào dân luật, theo tôi hiểu thì trong 5 năm sau khi bản án có hiệu lực thì người được thi hành án phải làm đơn xin thi hành án và nếu người bị thi hành an ko có tài sản thì hoãn việc thi hành án và từ đó trở đi ( ý tôi là năm thư 6, thứ 7.... về sau) bất cứ khi nào phát hiện người bị thi hành hành án có tài sản thì báo thi hành án? hay thi hành án chỉ có  hiệu lực trong 5 năm đầu? trong thời gian ko thi hành án thì phải trả lãi suât chậm thi hành án? là bao nhiêu? khi bản án có hiệu lực nhưng người bị thi hành án ko có tài sản hoặc cố tình giấu tài sản ko chịu thi hành án thì pháp luật đành bó tay với bản án giấy?khi nộp đơn thưa tại toà thì nộp bản vay tiền chinh hay photo?. xin cám ơn luật sư

     
    Báo quản trị |  
  • #273215   03/07/2013

    legalconsult
    legalconsult
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/11/2012
    Tổng số bài viết (421)
    Số điểm: 3183
    Cảm ơn: 57
    Được cảm ơn 255 lần


    nhatraicay viết:

    xin chào dân luật, theo tôi hiểu thì trong 5 năm sau khi bản án có hiệu lực thì người được thi hành án phải làm đơn xin thi hành án và nếu người bị thi hành an ko có tài sản thì hoãn việc thi hành án và từ đó trở đi ( ý tôi là năm thư 6, thứ 7.... về sau) bất cứ khi nào phát hiện người bị thi hành hành án có tài sản thì báo thi hành án? hay thi hành án chỉ có  hiệu lực trong 5 năm đầu? trong thời gian ko thi hành án thì phải trả lãi suât chậm thi hành án? là bao nhiêu? khi bản án có hiệu lực nhưng người bị thi hành án ko có tài sản hoặc cố tình giấu tài sản ko chịu thi hành án thì pháp luật đành bó tay với bản án giấy?khi nộp đơn thưa tại toà thì nộp bản vay tiền chinh hay photo?. xin cám ơn luật sư

    Chào bạn

    Mình xin trả lời bạn như sau

    Căn cứ theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự:

    Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

    1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

    Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

    Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

    2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

    3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

    Do đó, nếu hết thời hạn này mà người được thi hành án không nộp đơn yêu cầu thi hành án thì không có quyền nộp đơn nữa.

    Sau khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu phát hiện người phải thi hành án thuộc các trường hợp như sau, thì Cơ quan thi hành án sẽ trả đơn yêu cầu thi hành án, Thời hiệu yêu cầu thi hành án áp dụng theo quy định tại khoản 2 điều bên dưới này.

    Điều 51. Trả đơn yêu cầu thi hành án

    1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:

    a) Người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án;

    b) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình;

    c) Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án;

    d) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được mà đương sự không có thoả thuận khác.

    2. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này, kể từ ngày phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

    Đương nhiên, nếu ng phải thi hành án không có tài sản thì bản án chỉ là bản án giấy mà thôi. Do đó, nếu biết bị đơn có tài sản tại thời điểm nộp đơn hoặc đang thụ lý vụ án, thì nguyên đơn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn tẩu tán tài sản, Các quy định này bạn tham khảo tại bộ luật tố tụng dân sự.

    Về lãi suất chậm thi hành án:

    Kể từ thời điểm nộp yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án thì sẽ phải chịu lãi suất chậm thi hành án là 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm đó.

    Còn về tài liệu, chứng cứ khi nộp đơn, thường thì một số tòa yêu cầu cung cấp bản chính, một số tòa thì không (theo kinh nghiệm thực tế của mình là như vậy). nếu có thể sao y thì bạn nên sao y để cung cấp cho tòa.

    Thân

     
    Báo quản trị |  
  • #275201   14/07/2013

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1975 lần


    Hieu_Lawyer viết:

    Đương nhiên, nếu ng phải thi hành án không có tài sản thì bản án chỉ là bản án giấy mà thôi. Do đó, nếu biết bị đơn có tài sản tại thời điểm nộp đơn hoặc đang thụ lý vụ án, thì nguyên đơn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn tẩu tán tài sản, Các quy định này bạn tham khảo tại bộ luật tố tụng dân sự.

    Chào bạn!

    Tôi xin trao đổi với bạn như sau:

    Thứ nhất: Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, bản án đã chuyển sang Cơ quan thi hành án dân sự và người được thi hành án yêu cầu thi hành án đối với người phải thi hành án. Lúc này tư cách tố tụng đã thay đổi, chứ không phải là nguyên đơn hay bị đơn nữa bạn à.

    Thứ hai: Người phải thi hành án nếu có tài sản, nhưng không có dấu hiệu tẩu tán/chuyển nhượng tài sản cho người khác thì làm sao mà yêu cầu áp dụng BPKCTT? Mà lúc này, người được thi hành án có căn cứ chứng minh rằng người phải thi hành án có tài sản để thi hành án thì người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án, đơn yêu cầu thi hành án lại (nếu người được thi hành án rơi vào trường hợp khoản 2 điều 20 Luật thi hành án dân sự năm 2008).

    Trân trọng!

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
  • #378304   09/04/2015

    kakahura
    kakahura

    Female
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/09/2011
    Tổng số bài viết (10)
    Số điểm: 110
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 1 lần


    Tôi xin hỏi về trường hợp ở khoản 2 điều 51 luật thi hành án dân sự. Theo điều luật này thì có phải khi bị trả đơn vì lí do người phải thi hành án không có điều kiện thi hành, nếu sau khi bị trả đơn mà người được thi hành án phát hiện ra là người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, thì họ được quyền yêu cầu thi hành án lại trong vòng 5 năm như khoản 1 điều 30 hay không. Nếu từ ngày phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà họ không làm đơn yêu cầu thi hành án thì hết thời hiệu thi hành không. ;  trong đơn yêu cầu có nên xác định rõ thời gian phát hiện để kiểm sát theo luật định không. Xin cảm ơ

     
    Báo quản trị |  
  • #378368   09/04/2015

    QuyetQuyen945
    QuyetQuyen945
    Top 50
    Male
    Lớp 11

    Quảng Trị, Việt Nam
    Tham gia:28/10/2010
    Tổng số bài viết (1229)
    Số điểm: 15298
    Cảm ơn: 371
    Được cảm ơn 490 lần


    kakahura viết:

    Tôi xin hỏi về trường hợp ở khoản 2 điều 51 luật thi hành án dân sự. Theo điều luật này thì có phải khi bị trả đơn vì lí do người phải thi hành án không có điều kiện thi hành, nếu sau khi bị trả đơn mà người được thi hành án phát hiện ra là người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, thì họ được quyền yêu cầu thi hành án lại trong vòng 5 năm như khoản 1 điều 30 hay không. Nếu từ ngày phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà họ không làm đơn yêu cầu thi hành án thì hết thời hiệu thi hành không. ;  trong đơn yêu cầu có nên xác định rõ thời gian phát hiện để kiểm sát theo luật định không. Xin cảm ơ

    Chào bạn!

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án lại trong thời hạn 05 năm kể từ họ phát hiện ra được người phải thi hành án có tài sản, trong thực tiễn thi hành án thì bạn không cần nêu rõ thời gian bạn phát hiện vì việc bạn phát hiện phụ thuộc rất nhiều yếu tố và do bạn chủ động, điều quan trọng là tại thời điểm bạn yêu cầu thì người thi hành án có còn tài sản đó để thi hành hay không mới là điều quan trọng.

    Ngoài ra, theo luật thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 thì quy định trả đơn thi hành án sẽ không còn mà Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án của người được thi hành án 6 tháng hoặc 1 năm 1 lần tùy vào trường hợp nên vấn đề bạn hỏi thì trong tương lai sẽ không còn nữa.

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn QuyetQuyen945 vì bài viết hữu ích
    kakahura (10/04/2015)
  • #378412   10/04/2015

    khoathads
    khoathads
    Top 75
    Male
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/07/2010
    Tổng số bài viết (794)
    Số điểm: 7154
    Cảm ơn: 112
    Được cảm ơn 416 lần


    Ban Quyetquyen945 nói rất chuẩn! 

    Chấp hành viên bắt đầu cảm thấy mệt mỏi rồi đây...

     
    Báo quản trị |