Thời hiệu khởi kiện, xét xử vụ án

Chủ đề   RSS   
  • #24234 02/08/2008

    thuydoan



    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/07/2008
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 1680
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thời hiệu khởi kiện, xét xử vụ án

    khi thời hiệu khởi kiện đã hết có làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự của con nợ không ? nếu thời hiệu khởi kiện đã hết nhưng do con nợ không am hiểu pháp luật nên đã trả món nợ còn thiếu , sau đó con nợ có quyền đòi lại số tiền đã trả cho chủ nợ không?
    Cập nhật bởi VietThuong ngày 16/03/2010 04:37:04 PM
     
    46084 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

6 Trang 12345>»
Thảo luận
  • #24235   02/08/2008

    nganhhong
    nganhhong
    Top 500
    Lớp 9

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/06/2008
    Tổng số bài viết (216)
    Số điểm: 12341
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 5 lần


    thời hiệu khởi kiện

    thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà khi hết thời hạn đó chủ thể mất quyền khởi kiện. Như vậy, chủ nợ sẽ chỉ mất quyền khởi kiện chứ ko đồng nhất với việc chấm dứt nghĩa vụ của con nợ. Và một số trường hợp thời hiệu khởi kiện sẽ được tính lại (xác định mốc thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là điều quan trọng) hoặc sẽ có những khoản thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện.
    Bạn không thể đòi lại số tiền đã trả với lý do trên.
     
    Báo quản trị |  
  • #24236   04/08/2008

    thuydoan
    thuydoan



    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/07/2008
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 1680
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    cám ơn bạn nhiều

    chúc bạn một tuaần làm việc thật hiệu quả
     
    Báo quản trị |  
  • #9624   26/09/2008

    phientv
    phientv

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2008
    Tổng số bài viết (22)
    Số điểm: 145
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện

    -Theo điều 162 bộ luật dân sự có đặt  vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn bộ luật TTdân sự thì điều 159 quy định là 2 năm vậy thì vận dụng và hiểu như thế nào để chúng không mâu thuẩn với nhau?
    Trân trọng.
     
    Báo quản trị |  
  • #9625   20/09/2008

    rongcon83
    rongcon83
    Top 500
    Chồi

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:14/04/2008
    Tổng số bài viết (260)
    Số điểm: 1347
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 16 lần


    Quy định của Bộ luật TTDS và Bộ luật DS không mâu thuẫn

    Điều 159 BLTTDS quy định Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

    Và điều 160 BLTTDS còn quy định: "Các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự".

    Trong đó có áp dụng quy định tại điều 162 BLDS.

    => Nếu như không xảy ra các sự kiện quy định tại Điều 162 BLDS thì thời hiệu được tính từ ngày ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Ngược lại, nếu xảy ra một trong các sự kiện quy định tại điều 162 BLDS thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện đó.
     
    Báo quản trị |  
  • #9626   25/09/2008

    TRITHONGMINHNHANTAO
    TRITHONGMINHNHANTAO
    Top 500


    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (184)
    Số điểm: 1730
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 11 lần


    Xin chào bạn!

    Nếu như bạn nói thì bạn nên đặt cả hai trường hợp là theo Điều 162 – Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và Điều 161 – Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự.Cả hai trường hợp đó như ý bạn là có thể trên 2 năm.

    Bạn đọc kỹ lại từng câu chữ của khoản 3 – Điều 159 – BLTTDS: “trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện      …”như vậy, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu TAND giải quyết vụ án dân sự là 2 năm chỉ đặt ra khi pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện,Ở đây ,BLDS đã có quy định khác  thì phải áp dụng theo quy định đó của BLDS
     
    Báo quản trị |  
  • #24795   29/11/2008

    nguyenkhue
    nguyenkhue

    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/06/2008
    Tổng số bài viết (60)
    Số điểm: 6311
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 2 lần


    Áp dụng k5 Đ2 NĐ136/2006/CP 14/11/2006 đình chỉ vụ án do quá thời hiệu khởi kiện thừa kế có đúng không ?

    Nhà đất di sản thừa kế, chưa có GCN, năm 2002 một thừa kế đứng ra bán giấy tay. V/v tranh chấp đưa ra toà. Ngày 15/3/2004 QĐ phúc thẩm y án QĐ sơ thẩm: đình chỉ vụ án do quá thời hiệu khởi kiện thừa kế. Ngày 20/7/2004, UBNDQ cấp GCN cho người mua giấy tay  nêu trên. Ngày 17/3/2006, bà T. một nguyên đơn khiếu nại, yêu cầu thu hồi GCN QSDĐ . Ngày 20/7/2006 TANDTC ra bản án Giám đốc thẩm, hủy 2 QĐ sơ và phúc thẩm, yêu cầu Tòa xét xử sơ thẩm lại. Vụ án tòa đang thụ lý. Ngày 02/10/2008 UBND quận ban hành công văn viện dẫn k5 Đ 2 NĐ 136/2006/CP ngày 14/11/2006, cho rằng v/v tòa án đang thụ lý nên không đủ điều kiện thụ lý giải quyết khiếu nại, hòan trả đơn khiếu nại.

         Hỏi UBNDQ xử lý đơn như vậy có đúng không ?

     
    Báo quản trị |  
  • #24796   06/10/2008

    anh_tuan351
    anh_tuan351
    Top 500
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/09/2008
    Tổng số bài viết (222)
    Số điểm: 1403
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 9 lần


    nguyenkhue viết:

    Nhà đất di sản thừa kế, chưa có GCN, năm 2002 một thừa kế đứng ra bán giấy tay. V/v tranh chấp đưa ra toà. Ngày 15/3/2004 QĐ phúc thẩm y án QĐ sơ thẩm: đình chỉ vụ án do quá thời hiệu khởi kiện thừa kế. Ngày 20/7/2004, UBNDQ cấp GCN cho người mua giấy tay  nêu trên. Ngày 17/3/2006, bà T. một nguyên đơn khiếu nại, yêu cầu thu hồi GCN QSDĐ . Ngày 20/7/2006 TANDTC ra bản án Giám đốc thẩm, hủy 2 QĐ sơ và phúc thẩm, yêu cầu Tòa xét xử sơ thẩm lại. Vụ án tòa đang thụ lý. Ngày 02/10/2008 UBND quận ban hành công văn viện dẫn k5 Đ 2 NĐ 136/2006/CP ngày 14/11/2006, cho rằng v/v tòa án đang thụ lý nên không đủ điều kiện thụ lý giải quyết khiếu nại, hòan trả đơn khiếu nại.

         Hỏi UBNDQ xử lý đơn như vậy có đúng không ?


    Câu hỏi của bạn không rõ ràng nên tôi không thể trả lời chính xác được.
    - Bản án sơ thẩm và phúc thẩm cũng như quyết định giám đốc thẩm được giải quyết theo thủ tục tố tụng nào, thủ tục tố tụng dân sự hay thủ tục tố tụng hành chính.
    Nếu theo thủ tục tố tụng hành chính thì căn cứ theo quy định trên là đúng. Còn nếu giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thì căn cứ trên là sai.
    - Bạn nói là vụ tranh chấp dân sự bị đình chỉ do quá thời hiệu khởi kiện thừa kế, tuy nhiên nếu mảnh đất thừa kế chưa được chia và không có tranh chấp về hàng thừa kế thì mảnh đất đó là tài sản chung (thuộc quyền SH của tất cả các đồng thừa kết), do đó bạn có thể khởi kiện để chia tài sản chung mà không phải là khởi kiện để chia thừa kế.
    Vụ việc của bạn nên tìm các văn phòng luật sư chuyên về đất đai để giải quyết.
     
    Báo quản trị |  
  • #24797   09/10/2008

    minhnguyetlam
    minhnguyetlam

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/09/2008
    Tổng số bài viết (53)
    Số điểm: 390
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    - Câu hỏi bạn chưa rõ ràng, quan trọng nhất là thời điểm mở thừa kế là khi nào? $0- Nghị định 136 bạn nói là Nghị định quy định chi tiết và hường dẫn thi hành Luật khiếu nại tố cáo. Điều 2 khoản 5 quy định: "Cơ quan nhà nước thụ lý khiếu nại để giải quyết khi có đủ các điều kiện sau đây: ... Việc khiếu nại chưa được toà án thụ lý để giải quyết". Nên, trong thời gian Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại thì UBND không giải quyết khiếu nại của bạn là đúng. $0 $0
     
    Báo quản trị |  
  • #24798   29/11/2008

    nguyenkhue
    nguyenkhue

    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/06/2008
    Tổng số bài viết (60)
    Số điểm: 6311
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 2 lần


    Nên phân biệt tố tụng hành chính và tố tụng dân sự

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    ------------------------

     

    TPHồ Chí Minh, ngày29 tháng10 năm  2008

     

    ĐƠN KHIẾU NẠI

    VIỆC UBNDQ 9  BAN HÀNH CV 1359/UBND V/V HÒAN TRẢ ĐƠN KHIẾU NẠI ( KHIẾU NẠI HÀNH VI );

    YÊU CẦU MỞ  LẠI HỒ  SƠ  GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ  VIỆC UBNDQ 9 BAN HÀNH QĐ 1352/QĐ-UB-QLĐT  NGÀY 20/7/2004 SAI PHÁP LUẬT.

               Kính gởi : …………………………………………………

      Đồng kính gởi : …………………………………………………

    Tôi tên là Đặng Thị Tuyết, sinh năm 1940, thường trú tại 13/104, khu phố 3 ( số cũ ), tức 13/33 ( số mới ) P.TNPA, Q9 làm đơn này khiếu nại việc UBNDQ 9 ban hành CV 1359 v/v hòan trả đơn khiếu nại ( khiếu nại hành vi ); yêu cầu mở lại hồ sơ giải quyết khiếu nại về việc UBNDQ 9 ban hành QĐ 1352/QĐ-UB-QLĐT sai pháp luật. Tôi xin trình bày cụ thể như sau:

    Trước hết tôi xin đính chính các đơn khiếu nại ngày 17/3/2006, 27/4/2006, 21/7/2006 có những chỗ tôi ghi là khiếu nại quết định 1352/QĐ-UB-QLĐT …, nay tôi xin đính chính lại là khiếu nại về việc UBNDQ 9 ban hành quyết định 1352/QĐ-UB-QLĐT ngày 20/7/2004 v/v cấp quyền sử dụng đất cho Hòang Đình Lâm sai pháp luật ( khiếu nại hành vi hành chính ).

    Ngày 9/10/2008, tôi có nhận được CV 1359/UBND đề ngày 2/10/2008 của UBNDQ 9 v/v xử lý đơn khiếu nại ( cụ thể là hòan trả đơn khiếu nại ) của tôi. Sau khi nghiên cứu CV này tôi có ý kiến như sau :

    CV 1359 viện dẫn khỏan 5 Điều 2 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định: Cơ quan nhà nước thụ lý khiếu nại để giải quyết khi vụ việc khiếu nại chưa được tòa án thụ lý để giải quyết. Từ đó, UBNDQ 9 cho rằng đơn khiếu nại của tôi không đủ điều kiện thụ lý giải quyết.

    Đây là công văn mà UBNDQ 9 áp dụng sai quy định của pháp luật. Vụ khiếu nại hành vi hành chính ( việc UBNDQ 9 ban hành QĐ 1352 ) mà tôi và các nguyên đơn chưa gởi đơn khởi kiện đến Tòa án, thì làm sao có việc Tòa án đang thụ lý ? Viện dẫn này thật là không có cơ sở, phi lý, cố tình “ lấy râu ông này cắm càm bà kia”.

    -Các vụ khiếu kiện hành chính được điều chỉnh bởi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ban hành năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006 đã có quy định chặt chẽ về lọai tố tụng này.

    -Các quyết định của Tòa án: QĐ 53/ĐC ngày 10/11/2003 của Tòa án nhân dân quận 9, mở đầu, Tòa này cũng xác định rõ vụ án dân sự, QĐ phúc thẩm 414/DSPT ngày 15/3/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tại dòng trích yếu ghi là  “về việc tranh chấp thừa kế và QĐ giám đốc thẩm số 178/2006/DS-GĐT ngày 26-7-2006 của Tòa an nhân dân tối cao cũng ghi là “Vụ án: Tranh chấp di sản thừa kế”  . Hiện nay vụ án dân sự này đang được TAND Q9 thụ lý xét xử sơ thẩm lại …Đó là các bản án, quyết định của Tòa về vụ án dân sự, được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự ban hành ngày 27/6/2005, Bộ Luật tố tụng dân sự ban hành ngày 24/6/2004, NQ 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của UBTVQH, Thông tư liên tịch 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/1/1999 của TANDTC và VKSNDTC…

    Đây là hai vụ khiếu kiện có quy định về thủ tục tố tụng hòan tòan khác nhau. Vụ kiện dân sự  mà Tòa đang thụ lý là vụ kiện về tranh chấp di sản thừa kế, không phải là vụ kiện hành chính  ( kiện việc UBNDQ 9  ban hành QĐ 1352 để cấp QSD đất cho Hòang Đình Lâm ).

    Vì thế CV 1359, UBNDQ 9 cho rằng vụ khiếu nại đang được Tòa thụ lý ….,từ đó hòan trả đơn khiếu nại của tôi là không đúng, tôi yêu cầu UBNDQ 9 phải hủy bỏ công văn này.

    Tôi không biết khắp lãnh thổ Việt Nam và trên tòan thế giới này có Tòa nào “tích cực” và  sốt sắn” như CV 1359 của UBNDQ 9 đã nêu, vì người khiếu kiện hành chính chưa nộp đơn mà Tòa đã thụ lý !? Và Tòa thụ lý không biết trên cơ sở nào ? Có lẽ Tòa này tự vẽ ra đơn khởi kiện mới có hồ sơ để thụ lý chăng ?! Thiết nghĩ, UBND Q9 đã biết có Tòa nào đã làm điều này cũng nên nêu đích danh ra để nêu gương cho các Tòa khác biết, học tập !!!

    Tôi nghĩ, việc cần làm, nên làm và phải làm của UBNDQ 9 là ra quyết định giải quyết khiếu nại cho tôi, đồng thời ra quyết định thu hồi QĐ 1352 về việc cấp QSDĐ cho Hòang Đình Lâm ( và Giấy chứng nhận QSDĐ ) vì đã cấp sai pháp luật mà các đơn khiếu nại tôi đã nêu. Việc này, trước kia có quy định là bất luận Giấy chứng nhận đã cấp chẳng cần biết đúng sai, nếu có Giấy chứng nhận thì phải kiện ra Tòa, chính quyền một thời dồn công việc cho Tòa một cách vô lý. Nay NĐ 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất …. tại Điều 21. Thu hồi giấy chứng nhận đã cấp sai pháp luật. Các khỏan 1, 2, 3 của Điều này nêu rõ: “nếu qua thẩm tra có kết luận là Giấy chứng nhận cấp trái pháp luật thì cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp “ . Quy định này buộc cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận phải nâng cao trách nhiệm hơn, không được ký bừa như trước.

    Tôi gởi đơn khiếu nại về việc UBNDQ 9 ban hành QĐ 1352 từ 17/3/2006 và  các đơn sau đó ( đó là việc công dân phát hiện, kiến nghị - khỏan 3 Điều 21 NĐ 84/2007). Hơn hai năm qua, UBNDQ 9 đã tổ chức đối thọai, tiếp xúc với tôi và người được tôi ủy quyền nhiều lần, đã tranh luận và phân biệt vụ án Tòa đang thụ lý là vụ án dân sự, không phải vụ án hành chính ( khởi kiện việc ban hành QĐ 1352 ). Đồng thời UBNDQ 9 đã cho thẩm tra, xác minh …( khỏan 2 Điều 21 NĐ 84/2007). Tại các lần tiếp xúc, bà Hồng, ông Việt – là các Phó Chủ tịch UBNDQ 9 cùng các cơ quan chức năng đều thừa nhận quyết định 1352 của UBNDQ 9 là sai. Ông Việt còn nói, việc thu hồi QĐ này là rất phức tạp, cần phải có thời gian, vì đã phát sinh hậu quả !!! và ông Phó Chủ tịch này cũng hứa sẽ ra QĐ giải quyết khiếu nại trong tháng 9/2008.

    Thế mà ngày 02/10/2008 ông Phó Chủ tịch UBNDQ 9 - Nguyễn Văn Thành ký ban hành công văn 1359 quay lại 180 độ, một lần nữa cố ý áp dụng sai pháp luật để hòan trả đơn khiếu nại của tôi. Hành vi hành xử của ông Nguyễn Văn Thành thuộc về một trong hai thái độ là: Một là, thái độ của người có quyền, muốn nói sao thì nói, lấn áp những người dân thấp cổ bé miệng. Hai là, có thể chính ông Nguyễn Văn Thành là người không hiểu biết pháp luật !!??

    Bởi vì nội dung viện dẫn tại CV 1359 đã có tại khỏan 6 Điều 32 Luật Khiếu nại, tố cáo ( LKNTC ) năm 1999; điểm 6 khỏan 8 Điều 1 LKNTC sđbs năm 2005; khỏan 5 Điều 1 NĐ 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999;  khỏan 5 Điều 1 NĐ 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 … đều đã có quy định này, chứ không phải mới quy định tại NĐ 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ. Vậy tại sao UBNDQ 9 nhận đơn, tiếp xúc đối thọai và trả lời bằng văn bản không nêu ra vấn đề này  ( CV 825/UBND-TNMT  ngày 13/04/2006 của UBNDQ 9 do ông Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Thành ký ). CV này tôi đã phản đối và bác bỏ tại Đơn yêu cầu ra quyết định giải quyết đơn khiếu nại đúng nội dung khiếu nại đề ngày 27/4/2006, và tôi cũng đã chỉ ra ông Thành là một công chức quá kém hiểu biết về pháp luật như thế nào rồi. Nay ông Thành ký CV 1359, một lần nữa khẳng định ông Thành là người quá kém hiểu biết về pháp luật. Đây là một thái độ chống chế, không dám nhìn nhận việc làm sai trái của mình. Công chức như thế này thì càng làm khổ cho người dân. Đã hơn hai năm rưỡi qua, một quyết định sai trái rành rành mà ông Thành không nhận ra, hết viện dẫn điều phi lý này đến điều phi lý khác, không đúng pháp luật để kéo dài nên không thể chấp nhận được.

             Từ các căn cứ pháp luật mà tôi đã viện dẫn và lập luận trên đây, nay tôi yêu cầu:

    1.     Chủ tịch UBNDQ 9 ra văn bản thu hồi và hủy bỏ CV 1359/UBND ngày 02/10/2008 của UBNDQ 9 vì đã áp dụng sai quy định của pháp luật; mở lại hồ sơ giải quyết khiếu nại về việc ban hành QĐ 1352.

    2.     Chủ tịch UBNDQ 9 ra QĐ giải quyết khiếu nại lần đầu cho tôi ( khiếu nại vế việc ban hành QĐ 1352 ) đúng theo quy định của LKNTC;

    3.     Chủ tịch UBNDQ 9 ra quyết định thu hồi quyết định 1352 v/v cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho Hòang Đình Lâm ( cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ) vì đã cấp sai pháp luật (thực hiện theo Điều 21 NĐ 84/2007 ngày 25/5/2007 của Chính phủ).

    4.     Chủ tịch UBNDQ9 giải quyết tố cáo của tôi tại đơn đề ngày 17/03/2006 theo đúng LKNTC.

     Ghi chú : Ngày 9/10/2008, Phòng tiếp dân của UBNDQ 9 chỉ giao CV 1359, còn tất cả các đơn từ hồ sơ của tôi khiếu nại, UBNDQ 9 còn giữ lại, không phải hòan trả đơn như công văn 1359 đã nêu.

             Pháp luật, chân lý chỉ có một, tôi yêu cầu Chủ tịch UBNDQ 9 làm đúng theo quy định của pháp luật và tôn trọng chân lý, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

             Trân trọng kính chào.

                                                                                      Người ký đơn

     Đính kèm các bản chụp:                                        

    -CV 1359

    -CV 825

    -Đơn 17/3/2006

    -Đơn 27/4/2006

    -Đơn 21/7/2006

    -Giấy Ủy quyền                                                               Đặng Thị Tuyết

                                                               

     

     Xin y kien cua ban

     
    Báo quản trị |  
  • #25111   07/11/2008

    anhquannhat
    anhquannhat

    Sơ sinh

    Thanh Hoá, Việt Nam
    Tham gia:21/10/2008
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thời hiệu khởi kiện chia tài sản?

    Tr­ước năm 1965 bố tôi có một đời vợ có một con trai .bố tôi cũng đã ly dị năm 1965 .

    Đến năm 1971 bố tôi mua một căn nhà và lấy mẹ tôi năm 1975 .sinh được 3 ngườ­i con, tôi và 2 em gái tôi.

    Năm 1989 anh con riêng của bố tôi đi tù về ,hỗn láo với bố tôi, và mẹ tôi đã mua nhà cho riêng, không liên quan gì đến gia đình tôi

    Năm 1995 bố tôi viết di chúc và chuyển quyền sở hữu nhà và tài sản cho mẹ tôi, tôi và 2 em gái tôi, di chúc lập có sự chứng thực của UBND phường và cán bộ phô chứng nhận. năm 1996 bố tôi mất. gia đình, mẹ tôi ,tôi và 2 em gái tôi ,vẫn sinh hoạt ngôi nhà bố tôi để lại. và chuyển quyền sử dụng đất cho tôi có sự đồng ý của  2 em gái tôi

    Năm 2001 mẹ tôi công bố di chúc cho tất cả mọi ngườ­i trong gia đình và cả anh con riêng của bố tôi

    Đến tháng 12 năm 2007 anh con riêng của bố tôi bảo cho tiền thì tôi đồng ý cho tiền là hỗ trợ, có sự chứng nhận của UBND phườ­ng. sau đó anh ta không đồng ý

    bảo là di chúc bố tôi lập là giả ,và gửi đơn ra tòa đòi chia tài sản, như­ vây gia đình chúng tôi phải làm gì có phải làm đơn chống án không .Đề nghị luật gia giúp đỡ    

     
    Báo quản trị |  
  • #25112   07/11/2008

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 84 lần


    Hình như bạn có hỏi việc này 1 lần rồi và tôi cũng đã trao đổi nhưng sao hôm nay bạn lại hỏi tiếp ?
            Khiếu nại, tố cáo là quyền tự do của công dân được pháp luật bảo hộ, cho nên anh con riêng có quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền lợi cho mình. Vấn đề là anh ta phải đưa ra bằng chứng để chứng minh khiếu nại, tố cáo hay yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ.
             Anh ta khởi kiện đòi chia tài sản chung của Bố để lại vì cho rằng di chúc của Bố là giả tạo thì anh ta cứ việc khởi kiện, Toà sẽ yêu cầu anh ta cung cấp những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nếu anh ta không cung cấp được thì Toà trả lại đơn khởi kiện là xong.
             Các bạn chả phải làm đơn "chống án" gì cả ! Cứ chờ, nếu Toà có gởi giấy triệu tập thì đến trình bày sự thật.
     
    Báo quản trị |  
  • #25113   07/11/2008

    ls_lexuanhiep
    ls_lexuanhiep
    Top 150


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/08/2008
    Tổng số bài viết (406)
    Số điểm: 2047
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 72 lần


    Chào bạn,

    Về vấn đề của gia đình bạn, tôi có một vài ý kiến như sau:

    Ba bạn đã để lại di chúc, thừa kế theo di chúc sẽ được vận dụng trong trường hợp này. Anh trai bạn cho rằng di chúc là giả thì có quyền khởi kiện tại Toa án và chứng minh rằng đây là di chúc giả. Tuy nhiên, luật pháp cũng qui định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Theo Điều 645- Bộ luật dân sự 2005, “thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết (Điều 633- Bộ luật dân sự 2005).

    Ba bạn mất năm 1996. Thời điểm mở thừa kế được tính từ năm 1996, tính đến năm 2007 là 11 năm. Thời hiệu khởi kiện trong trường hợp của anh bạn đã hết. Khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án sẽ không thụ lý hồ sơ.

    Chúc gia đình bạn sớm ổn định cuộc sống.

    Thân chào.

     
    Báo quản trị |  
  • #25842   03/02/2009

    linhpv
    linhpv

    Sơ sinh

    Thanh Hoá, Việt Nam
    Tham gia:07/01/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    khởi kiện

    kết luận thanh tra, quyết định hành chính của UBND Huyện trong lĩnh vực đất đai trái quy định của pháp luật mà toàn án căn cứ vào đó để giải quyết tranh chấp. Muốn khơỉ kiện các kết luận, quyết định đó thì làm thế nào khi thời hiệu khởi kiện đã hết.
     
    Báo quản trị |  
  • #25843   25/01/2009

    lawyerhien
    lawyerhien
    Top 150
    Lớp 6

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (517)
    Số điểm: 7457
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 36 lần


    - Kết luận thanh tra nếu đứng riêng một mình thì nó không có giá trị bắt buộc đối với các bên liên quan trong kết luận đó. Ở đây bạn chỉ cần quan tâm đến Quyết định hành chính của UBND huyện. Thời hiệu khởi kiện đã hết thì rất khó khắc phục. Bạn nên mang toàn bộ hồ sơ đến văn phòng luật sư gần nhất để tư vấn, biết đâu sau khi xem hồ sơ của bạn luật sư sẽ tìm được cơ sở để giúp bạn.
    Thân mến.

    Luật s­ư L­ưu Thị Thu Hiền

    Tr­ưởng VP Luật s­ư Hiền và Liên danh

    374 Phan Bội Châu - Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk.

     
    Báo quản trị |  
  • #20469   27/11/2008

    hoanganhnh
    hoanganhnh

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin các LS giải thích giúp tôi: Thời hiệu khởi kiện là 10 hay 12 năm? Liệu 21 năm sau khi mở thừa kế, có kiện được không

    Gia đình ông N.V.N và bà H.T.H ở trên một mảnh đất ~90m2 do cha mẹ để lại. Cụ bà đã mất năm 1987, cụ ông thì mất được ~50 năm. $0Lúc cụ bà mất, đã không để lại di chúc hay giấy tờ về việc phân chia mảnh đất ra sao?$0 $0Hai bà chị gái của ông N.V.N hồi đó cũng không có đòi hỏi gì. Năm 2008, chẳng may, ông N mất vì bệnh tật. Từ năm 1987 đến nay, ông là người chăm sóc, phụng dưỡng mẹ mình, cũng như chăm lo hương khói cho người đã khuất.$0 $0Bà chị thứ hai, năm 2008 này, có ý định khởi kiện đề yêu cầu phân chia tài sản là mảnh đất 90m2 đó.$0 $0Vậy thì thời gian mở thừa kế đã 21 năm, so với điều luật, quy định tối đa 10 năm, (có nơi vận dụng thêm 30 tháng), như thế thì bà chị thứ hai có quyền khởi kiện hay không?$0 $0$0 $0 $0Kính mong các LS cho tôi một lời khuyên, tôi xin chân thành cảm ơn.$0
     
    Báo quản trị |  
  • #20470   25/11/2008

    Troublemaker
    Troublemaker

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2008
    Tổng số bài viết (19)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bà chị thứ hai có quyền khởi kiện

    Bà chị thứ hai có quyền khởi kiện để chia tài sản chung là quyền sử dụng đất (90m2) nói trên vì di sản thừa kế nay chưa được chia và không có tranh chấp về hàng thừa kế.Bà chị này sẽ kiện theo hướng dẫn tại điểm a của khoản 2.4 của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HDTP  ngày 10/8/2004 Của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyếtCác vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (http://www.sotaythamphan.gov.vn/reference/NQ%2002%202004.htm#NQ02/2004), cụ thể như sau:

    "
    2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
    a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
    a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.
    a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.
    a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
    b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

     
    Báo quản trị |  
  • #20471   25/11/2008

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 84 lần


    Theo tôi thì bà chị thứ 2 không thể kiện đòi chia 90m2 đất này theo dạng chia tài sản chung như Trublemaker đã trình bày, bởi muốn được chia theo dạng này thì các đồng thừa kế phải thoả thuận bằng văn bản rằng đó là tài sản chung chưa chia. Nay một đồng thừa kế là ông N đã mất thì bà chị thứ 2 làm sao có được cái giấy đồng thoả thuận vừa nêu để khởi kiện đòi chia tài sản chung ? Mà không có giấy đó thì Toà sẽ trả lại đơn.
            Hiện tại đất do bà H - vợ ông N - và các con quản lý, sử dụng. Trước pháp luật, họ cứ nói nguồn gốc đất là hưởng thừa kế từ chồng, cha của mình, chả phải dài dòng xa xưa thêm nữa. Riêng bà chị 2, nếu muốn được chia phần đất này, phải có giấy thoả thuận của ông N thừa nhận đó là tài sản chung chưa chia của mấy chị em, bằng không, bà ta có chạy đằng Trời cũng không chia được ( Toà trả đơn, không giải quyết ). Đặc biệt, nếu phía bà H "cứng cựa", am hiểu pháp luật thì yêu cầu khởi kiện chia đất của bà chị hai gần như bằng 0 !
            Tuy nhiên, nếu phía bà H mờ mịt pháp luật và phía bà chị hai chạy lo được án "bỏ túi" thì mọi việc sẽ khác. Bà H không có giấy thoả thuận của ông N ư ? Toà sẽ giúp bà ta có bằng cách triệu tập bà H cùng các con tới lấy lời khai. Toà đặc biệt "quay" phần nguồn gốc đất, sẽ gợi ý từ xa tới gần, sao cho đưa được bà H và các con vào "tròng" bằng cách cho họ ký tên vào bảng ghi lời khai thừa nhận đó là tài sản chung chưa chia. Ví dụ Toà hỏi bà H là đất này do vợ chồng bà tạo lập hay do đâu mà có ? Chắc chắn bà H sẽ trả lời là do cha, mẹ chồng để lại. Toà hỏi tiếp cha, mẹ chồng của bà có bao nhiêu người con ? Chắc chắn bà H sẽ liệt kê đầy đủ. Chừng đó, Toà sẽ ngọt nhạt : bây giờ bà có 4 đứa con, mai kia khi mất đi có khi nào bà chỉ muốn để lại của cải cho riêng 1 đứa thôi không ?
    Chắc chắn bà H sẽ ngấm đòn, thừ người ra ! Không để bà H kịp hoàn hồn, Toà bồi thêm : chắc đất này khi mất đi ba, má chồng của bà không kịp có di chúc, cũng không kịp chia chác cho con nhưng vì chồng bà nghĩ mình là con trai nên quản lý để phụng dưỡng, thờ cúng tổ tiên, cha, mẹ phải không ? Nếu bà H chỉ là 1 phụ nữ bình thường, không am hiểu pháp luật cùng những "kỹ năng" của người hành nghề Luật thì chắc chắn bà ta sẽ gật đầu trước câu hỏi này, và thế là..... "tròng" đã được bà ta tự đeo !
              Trên đây là lý, còn về tình, rõ ràng bà chị hai cũng là 1 người con của Ông, Bà, thế cho nên Bà H cùng các con cũng nên thương lượng về mặt gia đình để chị chồng và cô ruột của mình không bị thiệt thòi quyền lợi mà tình thân ruột thịt cũng giữ gìn được. Chỉ khi nào bà chị 2 này nhất quyết ra Toà thì mới đành chịu.
     
    Báo quản trị |  
  • #20472   25/11/2008

    Troublemaker
    Troublemaker

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2008
    Tổng số bài viết (19)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Có những hai bà chị gái cơ mà?

    Câu hỏi đã nói rõ là 'Hai bà chị gái của ông N.V.N hồi đó cũng không có đòi hỏi gì'. Vì vậy ông N.V.N mất đi thì việc xác nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung sẽ có thể do hai bà chị này làm. Do đó, bà chị hai vẫn khởi kiện được.

    Tốt hơn là trao đổi về mặt học thuật, khoa học pháp lý thuần tuý, không nên đưa các vấn đề khác vào rất lạc đề như án bỏ túi, kỹ thuật nghiệp vụ giúp dân của toà án. Những vấn đề này chỉ là ý kiến cá nhân, không phải là ý kiến tranh luận hoặc tư vấn pháp luật. Tiếng Anh gọi là personal attack hay
    ad hominem argument.
     
    Báo quản trị |  
  • #20473   26/11/2008

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 84 lần


    Troublemaker viện dẫn Nghị quyết 02/2004 nhưng không hiểu nội dung của nó. Nghị quyết này qui định các đồng thừa kế phải thoả thuận bằng văn bản rằng đó là tài sản chung chưa chia, chứ không qui định chỉ cần 1, 2 người thừa kế lập văn bản thoả thuận là được. Như vậy, nếu chỉ có 2 bà chị ký tên thì văn bản thoả thuận đó không có giá trị bởi không tuân thủ qui định tại Nghị quyết 02/2004. Toà cũng vẫn trả đơn.
           Tư vấn lần 1 của tôi chia ra làm 2 phần. Phần đầu tôi viện dẫn Nghị quyết 02/2004 ( tức vận dụng học thuật, khoa học pháp lý thuần tuý ) để vừa tranh luận với Troublemaker, vừa tư vấn cho hoanganhnh rằng bà chị 2 không thể khởi kiện đòi chia tài sản chung được vì không thể có chứng cứ đó là tài sản chung chưa chia. Sang phần 2 là tôi chia xẻ kinh nghiệm thực tế của bản thân để người cần tư vấn có thể rút ra được điều gì đó cho mình nếu thấy cần thiết. Như vậy tôi đã tư vấn bằng cả học thuật, khoa học pháp lý thuần tuý lẩn kinh nghiệm thực tế, giúp người cần tư vấn lường trước được toàn cục của vấn đề để chuẩn bị cho mình một giải pháp giải quyết tốt nhất, nội dung tư vấn như thế tôi cho là hoàn hảo, không có gì gọi là lạc đề.
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranVoThienThu vì bài viết hữu ích
    nguyenminh054 (09/10/2012)
  • #20474   26/11/2008

    Troublemaker
    Troublemaker

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2008
    Tổng số bài viết (19)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Nên nhận định một cách khách quan

    Tôi vẫn cho rằng bạn có những nhận xét rất cảm tính. Nguyên tắc sơ đẳng trong tranh luận là không bao giờ phủ nhận ý kiến người khác 100%, mỗi người khác nhau có ý kiến khác nhau. Ý kién của bạn sẽ không bao giờ có sức thuyết phục hơn nếu cứ nói kiểu người tranh luận với bạn không biết gì, không hiểu gì. Tôi là một trong những người có mặt trong các cuộc trong góp ý kiến cho dự thảo Nghị quyết nói trên và nắm rõ tinh thần nội dung hướng dẫn trên xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nào, tại sao lại hướng dẫn như vậy. Trở lại với vụ việc, tranh chấp xuất phát vào thời điểm (người đưa ra câu hỏi nói là năm 2008) khi ông N đã mất. Như vậy khi ông N mất thì mới phát sinh ra tranh chấp. Người nêu câu hỏi đã nói rõ là hai bà chị của ông N khi ông N còn sống không có ý kiến gì về chia thừa kế hay chia tài sản chung. Phát sinh xảy ra sau khi ông N mất thì chỉ còn hai bà chị ông N là thuộc diện người đồng thừa kế, nên họ có thể thoả thuận làm giấy xác nhận không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Khi xây dựng dự thảo Nghị quyết , nhất là nội dung hướng dẫn tại điểm a khoản 2.4 đã viện dẫn nói trên, cơ quan soạn thảo muốn hướng dẫn rằng giấy xác nhận này lập ra bởi các đồng thừa kế còn sống tại thời điểm tranh chấp, xác nhận rằng không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Ban soạn thảo không yêu cầu rằng giấy xác nhận này phải được lập ra khi tất cả các đồng thừa kế còn sống. Nếu yêu cầu tất cả các đồng thừa kế đều xác nhận việc này là điều không tưởng và sẽ không bao giờ có hướng dẫn nói trên.

    Kinh nghiệm của bạn về cách làm việc của toà án, tôi nghĩ không phải là sự khái quát hoá về tất cả mọi Toà án. Cách suy luận của bạn vẫn là mang tính cá nhân, từ một trường hợp riêng của bạn, bạn cho rằng cách làm việc của toà án sẽ diễn ra như bạn nói, là hoàn toàn chủ quan.
    Do đó như tôi đã nói đó là personal attack, hoặc ad hominem argument.
     
    Báo quản trị |