DanLuat 2015

THẾ CHẤP VÀ BẢO LÃNH: HIỂU SAO CHO ĐÚNG?

Chủ đề   RSS   
  • #368872 24/01/2015

    honhu
    Top 75
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/01/2015
    Tổng số bài viết (740)
    Số điểm: 32258
    Cảm ơn: 86
    Được cảm ơn 796 lần


    THẾ CHẤP VÀ BẢO LÃNH: HIỂU SAO CHO ĐÚNG?

    Trong giảng đường đại học, cô giáo thấy hai sinh viên Luật đang tranh luận với nhau:

    - A: Trường hợp này là bảo lãnh.

    - B: Không, thế chấp mới đúng.

    - Cô giáo: Có chuyện gì thế hai em?

    - A: Cô ơi, cô làm trọng tài cho tụi em với. Trong trường hợp này mình xác định rằng đây là giao dịch bảo đảm nào đây: “Ông Nguyễn Văn D ký kết hợp đồng bảo lãnh cho bà Trần Thị E được vay vốn tại Ngân hàng H. Trong hợp đồng, ông D thế chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm bà E thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Em cho rằng đây là hợp đồng bảo lãnh theo Điều 361 Bộ Luật Dân sự 2005 Người thực hiện nghĩa vụ là bà E chứ đâu phải ông D.

    - B (hùng hổ): Nhưng theo điều 341 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Như vậy, mình có thể hiểu việc thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của người khác.

    Chưa kể trong quy định bảo lãnh là “cam kết”, tức dùng uy tín của mình để bảo đảm, đâu có nhắc tới việc đưa tài sản ra.

    - A (lắc đầu): Mình không đồng ý với bạn. Luật không nhắc tới không có nghĩa không được. Ông D đem quyền sử dụng đất của mình ra để tạo thêm tin tưởng cho bà E vay vốn thôi, không có nghĩa là đem tài sản ra thì sẽ thành thế chấp. Theo mình, bản chất của hợp đồng vẫn là bảo lãnh, dù có thế chấp quyền sử dụng đất hay không.

    - B (mở luật): Không cãi ngang với bạn nữa. Theo quy định tại Khoản 4 điều 72 Nghị định 163/2007/NĐ-CP thì: “Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, quy định tại khoản 5 Điều 32, khoản 4 Điều 33, khoản 4 Điều 34, khoản 4 Điều 35 và khoản 1 Điều 36 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản hướng dẫn thi hành được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác”. Là thế chấp đó.

    - A: Luật Đất đai và những văn bản liên quan bạn dẫn chiếu cũ rồi…

    - Cô giáo mỉm cười: Thôi được rồi, cô sẽ nhờ quý thành viên và những Luật sư của DanLuat giải đáp thắc mắc cho các em nhé.

    Cập nhật bởi honhu ngày 24/01/2015 11:18:47 SA
     
    6797 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn honhu vì bài viết hữu ích
    TRUTH (26/01/2015)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #368888   24/01/2015

    nguoitruongphu
    nguoitruongphu
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2014
    Tổng số bài viết (1090)
    Số điểm: 9134
    Cảm ơn: 87
    Được cảm ơn 293 lần


     

    honhu viết:

     

    Trong giảng đường đại học, cô giáo thấy hai sinh viên Luật đang tranh luận với nhau:

    - A: Trường hợp này là bảo lãnh.

    - B: Không, thế chấp mới đúng.

    - Cô giáo: Có chuyện gì thế hai em?

    - A: Cô ơi, cô làm trọng tài cho tụi em với. Trong trường hợp này mình xác định rằng đây là giao dịch bảo đảm nào đây: “Ông Nguyễn Văn D ký kết hợp đồng bảo lãnh cho bà Trần Thị E được vay vốn tại Ngân hàng H. Trong hợp đồng, ông D thế chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm bà E thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Em cho rằng đây là hợp đồng bảo lãnh theo Điều 361 Bộ Luật Dân sự 2005 Người thực hiện nghĩa vụ là bà E chứ đâu phải ông D.

    - B (hùng hổ): Nhưng theo điều 341 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Như vậy, mình có thể hiểu việc thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của người khác.

    Chưa kể trong quy định bảo lãnh là “cam kết”, tức dùng uy tín của mình để bảo đảm, đâu có nhắc tới việc đưa tài sản ra.

    - A (lắc đầu): Mình không đồng ý với bạn. Luật không nhắc tới không có nghĩa không được. Ông D đem quyền sử dụng đất của mình ra để tạo thêm tin tưởng cho bà E vay vốn thôi, không có nghĩa là đem tài sản ra thì sẽ thành thế chấp. Theo mình, bản chất của hợp đồng vẫn là bảo lãnh, dù có thế chấp quyền sử dụng đất hay không.

    - B (mở luật): Không cãi ngang với bạn nữa. Theo quy định tại Khoản 4 điều 72 Nghị định 163/2007/NĐ-CP thì: “Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, quy định tại khoản 5 Điều 32, khoản 4 Điều 33, khoản 4 Điều 34, khoản 4 Điều 35 và khoản 1 Điều 36 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản hướng dẫn thi hành được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác”. Là thế chấp đó.

    - A: Luật Đất đai và những văn bản liên quan bạn dẫn chiếu cũ rồi…

    - Cô giáo mỉm cười: Thôi được rồi, cô sẽ nhờ quý thành viên và những Luật sư của DanLuat giải đáp thắc mắc cho các em nhé.

     

     

    Nói cái chi mà dài dòng?

    ---Nếu trực tiếp vay NH bằng " tài sản chính chủ "tên mình thì 2 bên sẻ ký HĐ Thế chấp...(chỉ có 2 bên cùng ký )

    ---Nếu bảo lảnh cho người khác vay bằng chính cái tài sản của mình , NH sẻ làm HĐ 3 bên gồm : NH,Chủ sở hữu tài sản  và bên đứng tên vay....( phải 3 bên cùng ký)

     NH không bao giờ thua kiện  cá nhân hay tổ chức vay....bởi vì HĐ của NH bao trùm tất cả điều luật.. bao gồm : HĐ tín dụng,HĐ Thế chấp hay HĐ bảo đảm tài sản ( do P Đăng ký QSD Quận ,huyện) sau cùng mới được giải ngân....

    HĐ vay tài sản làm gì có chuyện là án HS mà nói Dân Sự xem như thừa ....Còn không giao tài sản cho NH thì còn khuya mới được giải ngân...

     Bảo lảnh vay có nghĩa là vay tay ba ...người vay không trả thì NH thanh lý HĐ và Phát mải  tài sản nhu bao trường hợp khác....NH nhà nước có quyền tối thượng bởi vì đó là tài sản của Nhà Nước cho vay....

    Cập nhật bởi nguoitruongphu ngày 24/01/2015 12:51:43 CH

    Cho dù em có xem anh là kẻ thù !Anh vẫn xem em là bạn ,bởi vì nếu không có em ( tức kẻ thù) ,thì lấy ai đâu ...để anh vượt qua thử thách?

    nguoitruongphu

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn nguoitruongphu vì bài viết hữu ích
    Dangro (26/01/2015) probono (18/04/2016)
  • #368909   24/01/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Chào bạn.

    Về hình thức của giao dịch và theo khái niệm của luật dân sự thì đó rõ ràng là bảo lãnh, không phải là thế chấp.

    Tuy nhiên, có thể vì luật đất đai và văn bản hướng dẫn không có quy định về bảo lãnh (dù NSDĐ có quyền) nên ngân hàng buộc phải thực hiện bảo lãnh nhưng thủ tục và HĐ thì ghi là thế chấp.

    Lúc đầu khi có tranh chấp thì có sự không thống nhất khi xét xử : có toà cho là bản chất là bảo lãnh nhưng hợp đồng ghi là thầ chấp nên vô hiệu; có toà lại công nhận.

    Đễ giải quyết thì TAND tối cao có hướng dẫn nghiệp vụ nội bộ : không bị vô hiệu.

    Khi tôi học ở HVTP thì một giảng viên là thẩm phán ở TANDTPHCM có giải thích câu hỏi về vấn đề này như sau: 

    Đó là hợp đồng thế chấp vì:

    - Giả sử A vay tiền ngân hàng; B là người bảo lãnh.

    - Tài sản là quyền sử dụng đất của B được dùng thế chấp đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh của B (người bảo lãnh, không phải bảo lãnh cho nghĩa vụ của A (người vay).

    Trân trọng.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    TRUTH (26/01/2015)
  • #369022   26/01/2015

    caythongnoel
    caythongnoel
    Top 50
    Male
    Lớp 11

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:29/05/2011
    Tổng số bài viết (1547)
    Số điểm: 15623
    Cảm ơn: 224
    Được cảm ơn 494 lần
    Moderator

    Chào bạn, 

    Trường hợp này Ngân hàng hay dùng tên hợp đồng là đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3. Mặc dù Bộ luật Dân sự không có loại hợp đồng này nhưng pháp luật không cấm các bên ký kết loại hợp đồng như vậy nên khi khởi kiện ra tòa ngân hàng vẫn có quyền yêu cầu cơ quan THA kê biên phát mãi tài sản của bên thứ 3 và hầu như các tòa đều chấp nhận.

    Trân trọng!

    Điện thoại liên hệ: Nguyễn Văn Xuyên

    SĐT: 0913010679

     
    Báo quản trị |  
  • #421700   15/04/2016

    qtdminhdan
    qtdminhdan

    Sơ sinh

    Thanh Hoá, Việt Nam
    Tham gia:13/05/2015
    Tổng số bài viết (11)
    Số điểm: 175
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    Reply

    Vừa qua TAND Đông Anh vừa tuyên hdtc bên thứ 3 vô hiệu vì cho đó là bảo lãnh. Quy định về giao dịch đảm bảo chỉ có đăng ký thế chấp vậy ký hdbl thì xử lý như thế nào các bạn.
     
    Báo quản trị |  
  • #421704   15/04/2016

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    lecongxuan viết:
    Vừa qua TAND Đông Anh vừa tuyên hdtc bên thứ 3 vô hiệu vì cho đó là bảo lãnh. Quy định về giao dịch đảm bảo chỉ có đăng ký thế chấp vậy ký hdbl thì xử lý như thế nào các bạn.

    Mình nhớ có hướng dẫn vụ này từ khi ở Quảng Nam (?) hủy một loạt thì phải mà ta, sao giờ lặp lại được nhỉ.

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #421819   18/04/2016

    probono
    probono

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:06/09/2014
    Tổng số bài viết (19)
    Số điểm: 251
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 5 lần


    lecongxuan viết:
    Vừa qua TAND Đông Anh vừa tuyên hdtc bên thứ 3 vô hiệu vì cho đó là bảo lãnh. Quy định về giao dịch đảm bảo chỉ có đăng ký thế chấp vậy ký hdbl thì xử lý như thế nào các bạn.

    Bạn có căn cứ or trích phần phán quyết của Tòa cho đoạn nội dung trên không?

    TRA CỨU BẢN ÁN tại Caselaw Việt Nam: http://www.caselaw.vn

     
    Báo quản trị |  
  • #421828   18/04/2016

    qtdminhdan
    qtdminhdan

    Sơ sinh

    Thanh Hoá, Việt Nam
    Tham gia:13/05/2015
    Tổng số bài viết (11)
    Số điểm: 175
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    probono viết:

     

    lecongxuan viết:
    Vừa qua TAND Đông Anh vừa tuyên hdtc bên thứ 3 vô hiệu vì cho đó là bảo lãnh. Quy định về giao dịch đảm bảo chỉ có đăng ký thế chấp vậy ký hdbl thì xử lý như thế nào các bạn.

     

    Bạn có căn cứ or trích phần phán quyết của Tòa cho đoạn nội dung trên không?

    Một người bạn của tôi trên Fb là luật sư vụ này có chia sẻ.

     
    Báo quản trị |  
  • #423100   28/04/2016

    lsnhat
    lsnhat

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/04/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Tình huống này rất hay gặp trong thực tế . Liên quan tới quan hệ tín dụng, tài sản bảo đảm tiền vay  cần lưu ý để áp dụng: 1- Bộ Luật Dân sự, 2- Luật đất đai 3- Luật nhà ở 4- Nghị định 163.

    Theo các văn bản này có thể hiểu:

    1- Thế chấp tài sản là đem tài sản thuộc sở hữu của mình làm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác phải thực hiện. Trong tình huống: ông D dùng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bà E. Đó là thế chấp. Như vậy hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng thế chấp tài sản cũng có thể có ba bên. Bên Nhận TSTC ( NH) bên có nghĩa vụ ( Bên vay), Bên thế chấp ( bên có TSTC) . Trường hợp này NH hay gọi là thế chấp bằng TS của bên thứ 3. 

    2- Bảo lãnh là một bên cam kết với bên có quyền ( NH) thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( Bên vay). Để thực hiện cam kết trả thay thì bên bảo lãnh có thể đem tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm ( thế chấp). Như vậy Hợp đồng bảo lãnh có thể phát sinh ra 1 quan hệ khác bằng hợp đồng khác hoặc ngay trong hợp đồng bảo lãnh đó là thế chấp tài sản.

    Cho nên các NH đặc biệt NH trong nước cần rõ ràng trong khi ký hợp đồng bảo đảm. Nếu không sẽ lẫn lộn giữa thế chấp/ bảo lãnh. 

    Bộ Luật Dân sự 2015 đã quy định rất rõ về giao dịch này

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-