Thắc mắc về nội dung trên Giấy chứng nhận QSD đất - xin hỏi các luật sư

Chủ đề   RSS   
  • #179057 17/04/2012

    duong1234567

    Male
    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:16/04/2012
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 301
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 0 lần


    Thắc mắc về nội dung trên Giấy chứng nhận QSD đất - xin hỏi các luật sư

    tôi xin hỏi bìa đỏ nhà tôi ghi là....
    chứng nhận Hộ bà : Nguyễn Thị Loan 
    được quyền sử dụng 100m2 đất... như vậy thì thuộc quyền của riêng tôi hay là các con tôi và chồng tôi nữa
    xin cảm ơn......
    Cập nhật bởi nguyenbuibahuy ngày 17/04/2012 03:27:19 CH sửa tiêu để
     
    7760 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #179136   17/04/2012

    LSNguyenXuanVinh
    LSNguyenXuanVinh

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/12/2010
    Tổng số bài viết (17)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 14 lần


    Chào anh Dương!

    Trả lời câu hỏi của anh, tôi có ý kiến như sau:

    Căn cứ Điều 4 Khoản 1 Điểm C Thông tư số17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

    Điều 4.   Thể hiện thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất tại trang 1 của Giấy chứng nhận:

    1. Ghi thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau:

    c) Hộ gia đình thì ghi “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, số giấy chứng minh nhân dân (nếu có) của người đại diện hộ gia đình (là thành viên của hộ gia đình và cùng có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình) theo quy định của pháp luật dân sự;”

     Căn cứ quy định tại Điều 106 đến Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2003:

    - “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.

    - “Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.

    Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự.

    Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình”.  

    - “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ”.

    - “Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

    - Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý”.

    Đối chiếu các quy định của pháp luật nêu trên với trường hợp của anh thì diện tích đất nêu trên trong sổ đỏ đứng tên bà Nguyễn Thị Loan thuộc quyền sử dụng, định đoạt của bà Loan và các thành viên khác trong hộ gia đình bà, trong đó có chồng và con của bà.

    Trân trọng!

    Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh

    Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội

    Điện thoại liên hệ: 0989 553689

    E-mail: luatsunguyenxuanvinh@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn LSNguyenXuanVinh vì bài viết hữu ích
    ngocpham_law (08/05/2012)
  • #181826   27/04/2012

    hpnotary
    hpnotary

    Male
    Sơ sinh

    Bạc Liêu, Việt Nam
    Tham gia:25/04/2012
    Tổng số bài viết (22)
    Số điểm: 320
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1 lần


    Xin hỏi luật sư Vinh, nếu trong trường hợp này sổ hộ khẩu chỉ có mình anh Dương đứng tên chủ hộ thì quyền sử dụng đất này xác định thành viên hộ thế nào?

    Việc xác định ai là thành viên của hộ được sử dụng đất căn cứ tiêu chí và quy định nào?

    Văn phòng Công chứng Hộ Phòng

    101 Quốc Lộ 1A, thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai - Bạc Liêu

    ĐT: 0781.3859859 - 0919212191

    email: vpcchophong@yahoo.com

    website: www.congchunghophong.com

     
    Báo quản trị |  
  • #182448   02/05/2012

    LSNguyenXuanVinh
    LSNguyenXuanVinh

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/12/2010
    Tổng số bài viết (17)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 14 lần


    Chào anh Bình

    Trả lời câu hỏi của anh tôi xin có ý kiến như sau:

    - Trước hết phải xác định rõ khái niệm hộ gia đình. Hộ gia đình khác với “tổ hợp tác” hoặc “pháp nhân” cũng được quy định trong Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11. Hộ gia đình có đặc điểm:
    Một là, các thành viên của hộ gia đình phải có quan hệ gia đình với nhau. Khái niệm gia đình được quy định trong Luật hôn nhân gia đình số 22/2000/QH10: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.

    Hai là, phạm vi những loại việc dân sự mà hộ gia đình tham gia với tư cách chủ thể giới hạn trong một số lĩnh vực được quy định tại Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005. Đó là các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác.

    1/ Do vậy, việc xác định các thành viên của hộ gia đình được sử dụng đất căn cứ vào các tiêu chí và giấy tờ sau:

    - Các giấy tờ thể hiện quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng (theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình là: Giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, giấy tờ về nhận nuôi con nuôi…).

    - Sổ hộ khẩu chỉ là một loại giấy tờ tham khảo trong trường hợp thiếu các loại giấy tờ trên. Vì thực tế, trong một số trường hợp, sổ hộ khẩu còn có những người không có quan hệ gia đình với chủ hộ. Vì thế không nên sử dụng sổ hộ khẩu như tài liệu pháp lý duy nhất để xác định thành viên trong hộ gia đình.

    - Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp, tất cả những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng đều là thành viên của hộ gia đình có quyền sử dụng đất, mà phải căn cứ vào thời điểm xác lập quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình (thời điểm đó có những ai được cấp, chuyển nhượng, tặng cho…. quyền sử dụng đất).

    - Trường hợp khó xác định các thành viên hộ gia đình được sử dụng đất thì có thể đề nghị Văn phòng đăng ký nhà đất cấp huyện, Sở tài nguyên môi trường hoặc UBND cấp xã cung cấp thông tin về hộ gia đình được sử dụng đất (theo quy định tại Thông tư số09/2007/TT-BTNMT ngày 2/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính).

    - Ngoài ra, có thể yêu cầu khách hàng (người yêu cầu công chứng) làm cam đoan về số thành viên hộ gia đình và cam kết chịu trách nhiệm về cam đoan này (theo Điều 8 Luật Công chứng số 82/2006/QH11).

    2/ Trường hợp sổ hộ khẩu chỉ có mình anh Dương đứng tên chủ hộ thì quyền sử dụng đất này xác định thành viên hộ thế nào?

    Căn cứ Điều 24, 25 Luật cư trú số 81/2006/QH11thì Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân. Như trên đã nêu sổ hộ khẩu chỉ là một loại giấy tờ tham khảo trong trường hợp thiếu các loại giấy tờ khác.

    Trân trọng!

    Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh

    Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội

    Điện thoại liên hệ: 0989 553689

    E-mail: luatsunguyenxuanvinh@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #185062   12/05/2012

    minh_hang_14
    minh_hang_14

    Sơ sinh

    Huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, Việt Nam
    Tham gia:11/05/2012
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    xin hỏi các luật sư!
    năm 2003 bố mẹ tôi đã ký giấy chuyển nhượng một ngôi nhà cho anh rể tôi,với giá tiền là 80.000.000 nhưng sau đó anh rể tôi không trả tiền bố mẹ tôi lên ngôi nhà đó bố mẹ tôi vẫn sử dụng và bìa đất vẫn đứng tên bố tôi,nhưng nay chị gái và anh rể tôi ly hôn,anh rể tôi nói nhà đó là của anh rể tôi và đưa tờ giấy chuyển nhượng ra trình.
    vậy tôi muốn hỏi luật sư.bố mẹ tôi ký giáy chuyển nhượng từ năm 2003,đến nay giấy tờ đó còn hiệu lực không? bố
    mẹ tôi phải làm gì để giữ được ngôi nhà đó.xin các luật sư tư vấn giúp .tôi xin chân thành cảm ơn!
     
    Báo quản trị |  
  • #186606   17/05/2012

    LSNguyenXuanVinh
    LSNguyenXuanVinh

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/12/2010
    Tổng số bài viết (17)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 14 lần


    Chào bạn Duyên!

    Trả lời câu hỏi của bạn tôi có ý kiến như sau:

    Các nội dung bạn nêu ra còn thiếu một số nội dung về các thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (như điều khoản phương thức và thời hạn thanh toán?, ..v.v…); hợp đồng này có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền không?

    Tuy vậy, với những dữ liệu bạn đưa ra, tôi có thể trả lời bạn như sau:

    Hợp đồng này được ký kết từ năm 2003 do vậy luật áp dụng là Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản có liên quan.  

    Căn cứ các quy định tại Điều 419, 705, 706 Khoản 2, Điều 707, 708, 710 khoản 1, 2, Điều 711, 712 Bộ luật dân sự năm 1995:

    “Điều 705. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật này và pháp luật về đất đai quy định, theo đó người sử dụng đất (gọi là bên chuyển quyền sử dụng đất) chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất), còn người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.

    Điều 706. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    2- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chuyển đi nơi khác hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất ở đó.

    Điều 707. Hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được làm thủ tục và đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Điều 708. Nội dung chủ yếu của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

    1- Họ, tên, địa chỉ của các bên;

    2- Lý do chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

    3- Quyền, nghĩa vụ của các bên;

    4- Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, ranh giới và tình trạng đất;

    5- Thời hạn sử dụng đất của bên chuyển quyền; thời hạn sử dụng đất còn lại của bên nhận quyền;

    6- Giá chuyển nhượng;

    7- Phương thức, thời hạn thanh toán;

    8- Quyền của người thứ ba đối với đất chuyển nhượng, nếu có;

    9- Trách nhiệm của mỗi bên khi xảy ra vi phạm hợp đồng.

    Điều 710. Quyền của bên chuyển quyền sử dụng đất

    Bên chuyển quyền sử dụng đất có các quyền sau đây:

    1- Được nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; nếu bên nhận quyền sử dụng đất chậm trả tiền, thì áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 313 của Bộ luật này;

    2- Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn hoặc không đầy đủ.

    Điều 711. Điều kiện của người được chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    Bên nhận quyền sử dụng đất phải có các điều kiện sau đây:

    1- Có nhu cầu sử dụng đất;

    2- Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai và nếu sau khi nhận quyền sử dụng đất, thì đất sử dụng không vượt quá hạn mức đối với từng loại đất.

    Điều 712. Nghĩa vụ của bên nhận quyền sử dụng đất

    Bên nhận quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:

    1- Trả đủ tiền, đúng thời hạn và đúng phương thức đã thoả thuận cho bên chuyển quyền sử dụng đất;

    2- Đăng ký quyền sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại Điều 707 của Bộ luật này;

    Điều 419. Huỷ bỏ hợp đồng

    1- Một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

    2- Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ; nếu không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia, thì bên huỷ bỏ hợp đồng phải bồi thường.

    3- Khi hợp đồng bị huỷ bỏ, thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải trả bằng tiền.

    4- Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại.

    Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên thì bố mẹ bạn (bên chuyển nhượng) có thể gửi thông báo bằng văn bản cho người được chuyển nhượng về việc hủy bỏ hợp đồng (và có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại thực tế và có bằng chứng về thiệt hại này) với lý do bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn.

    Trân trọng!

    Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh

    Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội

    Điện thoại liên hệ: 0989 553689

    E-mail: luatsunguyenxuanvinh@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn LSNguyenXuanVinh vì bài viết hữu ích
    minh_hang_14 (23/05/2012)
  • #186629   17/05/2012

    BachThanhDC
    BachThanhDC
    Top 10
    Cao học

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2009
    Tổng số bài viết (5291)
    Số điểm: 50853
    Cảm ơn: 1843
    Được cảm ơn 3555 lần
    ContentAdministrators
    SMod

    Chào Luật sư Nguyễn Xuân Vinh!

    Theo quan điểm của tôi thì luật áp dụng trong trường hợp này là BLDS 2005 chứ không phải là BLDS 1995 vì những lý do sau:

    Điều 705 BLDS 1995 quy định: "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật này và pháp luật về đất đai quy định, theo đó người sử dụng đất (gọi là bên chuyển quyền sử dụng đất) chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất), còn người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.

    Điều 697 BLDS 2005 quy định: "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai".

    Các quy định khác về nội dung, hình thức của hợp đồng, thủ tục chuyển nhượng giữa hai bộ luật về cớ bản không có gì khác nhau. Mặc dù hợp đồng ký kết từ năm 2003 nhưng nội dung và hình thức phù hợp với quy định của BLDS năm 2005. Và đây là giao dịch dân sự đang được thực hiện (vì chưa làm thủ tục sang tên). Do đó theo quy định tại điểm a mục 2 Nghị quyết số 45/2005-QH11 thì luật áp dụng phải là BLDS 2005.

    Trân trọng!



    Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

     
    Báo quản trị |  
  • #186662   18/05/2012

    hpnotary
    hpnotary

    Male
    Sơ sinh

    Bạc Liêu, Việt Nam
    Tham gia:25/04/2012
    Tổng số bài viết (22)
    Số điểm: 320
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1 lần


    Chào anh Vinh!
    Vấn đề tôi muốn cùng trao đổi, làm rõ ở đây là căn cứ pháp lý nào để xác định các thành viên dựa vào hộ khẩu.

    Tô giả sử trong hộ khẩu có 04 thành viên bao gồm vợ chồng và 02 con (đều đủ 16 tuổi và đang sống phụ thuộc vào cha mẹ); GCN QSDĐ cấp cho hộ sau khi có hộ khẩu này. Nay 02 vợ chồng có nhu cầu vay vốn phát triển kinh tế (để có tiền cho con học đại học), nếu theo quy định hiện hành thì khi cha mẹ muốn thực hiện được giao dịch này phải có sự đồng ý của 02 người con như vậy có hợp lý k? quyền của cha mẹ có phải vô tình bị hạn chế do lỗi của nhà nước!!!!

    Văn phòng Công chứng Hộ Phòng

    101 Quốc Lộ 1A, thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai - Bạc Liêu

    ĐT: 0781.3859859 - 0919212191

    email: vpcchophong@yahoo.com

    website: www.congchunghophong.com

     
    Báo quản trị |  
  • #187896   22/05/2012

    LSNguyenXuanVinh
    LSNguyenXuanVinh

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/12/2010
    Tổng số bài viết (17)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 14 lần


    Chào anh Thành!

    Rất cảm ơn anh đã có ý kiến trao đổi về vấn đề này. Phúc đáp nội dung trao đổi của anh tôi xin có ý kiến như sau:

    Theo quan điểm của anh thì áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 căn cứ vào Điểm a Mục 2 Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội về thi hành bộ luật dân sự:

    #f9fafc;">“a) Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự thì áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự;”

    #f9fafc;">Tuy nhiên tôi thấy quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bộ luật dân sự năm 1995 và 2005 là có khác nhau, thể hiện ở các nội dung sau:

    - Bộ luật dân sự năm 2005 bỏ các quy định về: Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Điều 706 BLDS 1995); Điều kiện của người được chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Điều 712 BLDS 1995), Hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Điều 707 BLDS 1995);

    - Về Nội dung hợp đồng chuyển nhượng đất bỏ điều khoản Lý do chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Điều 708 BLDS 1995);

    - Về nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất: bỏ quy định tại Khoản 1, 2, 4, 5 Điều 709 BLDS 1995.

    Về quyền của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bỏ quy định tại Khoản 2 Điều 710 BLDS 1995:

    “Điều 710. Quyền của bên chuyển quyền sử dụng đất

     Bên chuyển quyền sử dụng đất có các quyền sau đây:

    2- Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn hoặc không đầy đủ”.

    Ngoài ra giao dịch này đang có tranh chấp. Do vậy theo quan điểm của tôi cần áp dụng Điểm b Mục 2  Nghị quyết số 45/2005/QH11:

    #f9fafc;">“b) Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức khác với quy định của Bộ luật dân sự hoặc giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết;

    #f9fafc;">Do vậy, theo quan điểm của tôi nên áp dụng BLDS 1995 để giải quyết tranh chấp này.

    #f9fafc;">Tôi cũng rất mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi nhằm làm sáng tỏ việc giải quyết vụ việc.

    #f9fafc;">Trân trọng!

    Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh

    Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội

    Điện thoại liên hệ: 0989 553689

    E-mail: luatsunguyenxuanvinh@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #187902   23/05/2012

    LSNguyenXuanVinh
    LSNguyenXuanVinh

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/12/2010
    Tổng số bài viết (17)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 14 lần


    Chào anh Bình!

    Phúc đáp các nội dung trao đổi của anh tôi xin có ý kiến như sau:

    1/ Căn cứ pháp lý nào để xác định các thành viên (hộ gia đình) dựa vào hộ khẩu:

    Như nội dung tôi đã trả lời trên: không sử dụng sổ hộ khẩu để xác định các thành viên hộ gia đình liên quan đến quyền sử dụng đất. Do việc cấp sổ hộ khẩu hiện nay căn cứ vào luật cư trú năm 2006 và các văn bản hướng dẫn. Thực tế trong sổ hộ khẩu còn có những người không có quan hệ gia đình với chủ hộ do quy định về điều kiện cho nhập vào sổ hộ khẩu khá dễ dàng theo quy định tại Điều 20 Khoản 2 Luật cư trú năm 2006:

    Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương

    Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương:

    2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;

    b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc chuyển về ở với anh, chị, em ruột;

    c) Người tàn tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

    d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

    đ) Người thành niên độc thân về sống với ông, bà nội, ngoại;

    2/ Cha mẹ muốn thực hiện được giao dịch về quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình phải có sự đồng ý của 02 người con như vậy có hợp lý không? quyền của cha mẹ có phải vô tình bị hạn chế do lỗi của nhà nước!!!!

    Theo tôi thấy: thực tiễn thì luôn phong phú và đa dạng mà pháp luật thì không thể dự liệu được hết các tình huống, cho nên có thể có những chỗ chưa hợp lý thì cũng là điều dễ hiểu.

    Tuy vậy, những người con sống phụ thuộc vào cha mẹ không có nghĩa là những người con này không có quyền định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình (nếu pháp luật quy định con có quyền định đoạt khối tài sản này) bởi lẽ Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên (Điều 34, 36 khoản 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).

    Tuy nhiên thực tế tôi cũng thấy trong một số lĩnh vực (nhất là nông, lâm, ngư nghiệp) thì trẻ em thường phải cùng với bố, mẹ tham gia lao động từ khi tuổi còn nhỏ, nhiều trường hợp lao động (nhất là lao động nam đủ 16 tuổi  trở lên) có sức khỏe tốt có thể làm được nhiều việc hơn cả bố mẹ già, yếu. Do vậy việc định đoạt về quyền sử dụng đất (ruộng.v.v…) cấp cho hộ gia đình phải có sự đồng ý của những người con là cũng có những yếu tố hợp lý.

    Trân trọng!

    Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh

    Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội

    Điện thoại liên hệ: 0989 553689

    E-mail: luatsunguyenxuanvinh@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #187949   23/05/2012

    minh_hang_14
    minh_hang_14

    Sơ sinh

    Huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, Việt Nam
    Tham gia:11/05/2012
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    chào luật sư vinh!

    tôi xin được trình bầy thêm với luật sư về việc nhà tôi.
    giấy chuyển nhượng nhà đất của bố mẹ tôi được anh rể tôi đem ra phường công chứng,chỉ có chủ tịch phường ký tên và đóng giấu( năm 2008),không có chữ ký của phòng tài nguyên môi trường và phòng địa chính.liệu giấy đó có hợp lệ không?vì anh rể tôi ăn ở thất đức với bố mẹ tôi lên bố mẹ tôi không chuyển nhượng cho anh ta nữa,bố tôi đã ghi trực tiếp vào bìa dất nhà tôi là không chuyển nhượng sang tên cho ai cả,vì vậy đến nay bìa đất vẫn đứng tên bố tôi và nhà thì chị gái tôi vẫn đang ở,còn anh rể tôi đã đi ở chỗ khác,bìa đất của bố mẹ tôi thì anh rể tôi đã đem cầm cố bên ngoài,vậy bố mẹ tôi có thể kiện anh ta về tội giữ bìa đất của bố mẹ tôi không?
    tôi xin chân thành cảm ơn!

    Cập nhật bởi minh_hang_14 ngày 23/05/2012 10:10:13 SA thiếu
     
    Báo quản trị |  
  • #190969   03/06/2012

    LSNguyenXuanVinh
    LSNguyenXuanVinh

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/12/2010
    Tổng số bài viết (17)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 14 lần


    Chào bạn Duyên!

    Phúc đáp nội dung bạn hỏi, tôi xin có ý kiến như sau:

    1/ Giấy chuyển nhượng (năm 2008) chỉ có chữ ký và đóng dấu của Chủ tịch phường liệu có hợp lệ?

    Theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Liên Bộ Tư pháp- Bộ Tài nguyên- Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất thì việc chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại UBND xã, phường thị trấn nơi có bất động sản chỉ cần có chữ ký của Chủ tịch (hoặc Phó chủ tịch) UBND xã, phường, thị trấn và đóng dấu.

    2/Có thể kiện về việc giữ bìa đất không?

    Theo các nội dung bạn nêu tôi có thể hiểu là: hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vào năm 2008. Bên mua đất chưa trả tiền nhưng đã đem Giấy chứng nhận (bìa đất) đi cầm cố và chưa hoàn thành thủ tục sang tên đổi chủ.

    Theo Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tối cao về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản thì tòa án không thụ lý đơn khởi kiện đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Do vậy bạn có thể làm đơn trình báo gửi cơ quan Công an cấp phường hoặc quận, huyện đề nghị Cơ quan Công an yêu cầu người chiếm giữ trái phép Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả lại cho người có tên trong Giấy chứng nhận (bố, mẹ bạn). Trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất thì bạn có thể đến Văn phòng đăng ký nhà đất quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh làm thủ tục xin cấp lại và yêu cầu bên có lỗi trong việc làm mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải chịu toàn bộ chi phí, lệ phí trong việc cấp lại giấy tờ mới.

    Trân trọng!

    Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh

    Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội

    Điện thoại liên hệ: 0989 553689

    E-mail: luatsunguyenxuanvinh@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn LSNguyenXuanVinh vì bài viết hữu ích
    nguyenbuibahuy (04/06/2012)