DanLuat 2015

Tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung vợ chồng

Chủ đề   RSS   
  • #407888 27/11/2015

    Tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung vợ chồng

    Hi các bạn, mình có vấn đề sau hơi vướng mắc xin được các bạn chỉ dẫn:
     
    Bất động sản là tài sản chung của vợ chồng mà vợ muốn tặng cho phần quyền của mình cho một người khác thì có được không và có cần phải có chữ ký của chồng không nhỉ? 
     
    Cảm ơn các bạn :)
     
    7054 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #407895   27/11/2015

    trunghieu6592
    trunghieu6592
    Top 150
    Male
    Lớp 2

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2014
    Tổng số bài viết (401)
    Số điểm: 3627
    Cảm ơn: 33
    Được cảm ơn 126 lần


    Ly hôn chưa mà đòi tặng cho... nhỉ 

     
    Báo quản trị |  
  • #407907   27/11/2015

    Anlhk33-DLU
    Anlhk33-DLU
    Top 50
    Male
    Lớp 6

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/05/2011
    Tổng số bài viết (834)
    Số điểm: 7856
    Cảm ơn: 215
    Được cảm ơn 331 lần


    Chào bạn

    Trường hợp của bạn tôi tư vấn như sau:

    Theo quy định tại điều 33 về tài sản chung của vợ chồng như sau:

    Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    Đồng thời theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 35 luật hôn nhân gia đình:

    Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

    1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

    2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

    a) Bất động sản;

    b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

    c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

    Như vậy, khi tiến hành tặng cho tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng, Văn bản thỏa thuận này phải tiến hành công chứng, chứng thực.

    Trân trọng!

    Hãy theo đuổi đam mê, thành công sẽ đến với bạn.

    Hotline: 0989.422.798. Luật sư - Hãng luật Hai Nguyen & Cộng Sự. Lya BuilDing, phòng 12 A, Chung cư Viện chiến lược Bộ Công An, Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Website: http://lamchuphapluat.vn/

    Tư vấn luật miễn phí: http: http://duongleuocan.blogspot.com/

     
    Báo quản trị |  
  • #407957   27/11/2015

    Bạn ơi, đây k phải là tặng cho tài sản mà là tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung. Ví dụ: Ông A và bà B là vợ chồng sở hữu chung nhà đất D. Nay bà B muốn tặng cho phần quyền của mình đối với tài sản chung D cho con C. Như vậy tài sản chung D thuộc sở hữu chung của A và C. 
     
    Mình thắc mắc là ở đây chỉ tặng cho phần quyền, còn tài sản thì vẫn như nguyên giá trị mà. Nếu cho rằng bắt buộc lúc nào cũng phải có văn bản thỏa thuận của vợ và chồng, thì trường hợp các di chúc mà mẹ để lại cho con phần nhà đất của mẹ trong khối tài sản chung, mà k có văn bản giữa mẹ và cha, thì di chúc cũng không có hiệu lực?
     
    Báo quản trị |  
  • #407959   27/11/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Chào bạn.

    Ý kiến của bạn Anlhk33-DLU là đầy đủ rồi. Căn nhà là tài sản chứ không phải là "quyền".

     

     
    Báo quản trị |  
  • #407979   27/11/2015

    Bạn ơi k chỉ mỗi căn nhà mà là bất động sản, bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở bạn ạ

     
    Báo quản trị |  
  • #408477   03/12/2015

    hanthuyen8
    hanthuyen8

    Male
    Sơ sinh

    Khánh Hoà, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2015
    Tổng số bài viết (16)
    Số điểm: 95
    Cảm ơn: 35
    Được cảm ơn 9 lần


    bonnilinh viết:

    Bạn ơi, đây k phải là tặng cho tài sản mà là tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung. Ví dụ: Ông A và bà B là vợ chồng sở hữu chung nhà đất D. Nay bà B muốn tặng cho phần quyền của mình đối với tài sản chung D cho con C. Như vậy tài sản chung D thuộc sở hữu chung của A và C. 
     
    Mình thắc mắc là ở đây chỉ tặng cho phần quyền, còn tài sản thì vẫn như nguyên giá trị mà. Nếu cho rằng bắt buộc lúc nào cũng phải có văn bản thỏa thuận của vợ và chồng, thì trường hợp các di chúc mà mẹ để lại cho con phần nhà đất của mẹ trong khối tài sản chung, mà k có văn bản giữa mẹ và cha, thì di chúc cũng không có hiệu lực?

     

    Điều 223. Định đoạt tài sản chung

    1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

    2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

    3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.

    Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

    4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

     
     

    Điều 634. Di sản

    Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

     

    Theo mình, trường hợp như bạn nói chỉ đơn giản là chuyển quyền sở hữu khối tài sản chung đó. Việc đó thì cần sự thỏa thuận của các chủ sở hữu khối tài sản đó. Tất nhiên là bằng văn bản theo đúng quy định của pháp luật (đây là bất động sản mà).
     
    Còn về di chúc thì nếu chủ sở hữu chết thì tài sản đó không còn là tài sản chung do chủ sở hữu không còn. Di sản của người chết sẽ được trích ra từ khối tài sản chung đó theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Cho nên trong trường hợp thứ 2 bạn nêu ra, di chúc sẽ vẫn có hiệu lực.
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hanthuyen8 vì bài viết hữu ích
    hungmaiusa (03/12/2015)
  • #407981   27/11/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Theo luật dân sự:

    Điều 163. Tài sản

    Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.

    Nhà, đất là "vật" cụ thể chứ không phải là "quyền". 

    Chủ một chiếc xe mô tô cũng có quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chiếc mô tô đó là "vật" không phải là quyền.

    Quyền tài sản phải là những gì không "cầm", "nắm" được nhưng "trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. ví dụ: quyền đòi nợ.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #407984   27/11/2015

    hungmaiusa viết:

    Theo luật dân sự:

    Điều 163. Tài sản

    Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.

    Nhà, đất là "vật" cụ thể chứ không phải là "quyền". 

    Chủ một chiếc xe mô tô cũng có quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chiếc mô tô đó là "vật" không phải là quyền.

    Quyền tài sản phải là những gì không "cầm", "nắm" được nhưng "trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. ví dụ: quyền đòi nợ.

    Thế cho mình hỏi, ông bà có nhà đất là tài sản chung vợ chồng, bà viết di chúc để lại cho con bà phần tài sản của bà trong khối tài sản chung này. Sau khi bà qua đời, con bà có được thừa kế tài sản (phần chung) của bà không bạn?

     

     
    Báo quản trị |  
  • #407985   27/11/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Chào bạn.

    Chủ đề bạn lập là:

    Tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung vợ chồng

    Vấn đề thừa kế là vấn đề khác với tặng cho. Ví dụ: tặng cho phải có công chứng, chứng thực còn di chúc thì không bắt buộc.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #407987   27/11/2015

    Bạn ơi, tặng cho hay thừa kế thì cũng là tài sản chung, mà theo các bạn thì đối với tài sản chung là bất động sản thì phải có thỏa thuận của vợ chồng, nhưng tại di chúc không có thỏa thuận vợ chồng, vậy liệu di chúc có hiệu lực k bạn?

     
    Báo quản trị |  
  • #407989   27/11/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Chào bạn.

    Chủ đề bạn lập là:

    Tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung vợ chồng

     

     
    Báo quản trị |  
  • #407991   27/11/2015

    hungmaiusa viết:

    Chào bạn.

    Chủ đề bạn lập là:

    Tặng cho phần quyền trong khối tài sản chung vợ chồng

    Đúng vậy bạn, bà B tặng cho C phần quyền sử dụng đất của mình trong khối tài sản chung là nhà đất của bà và chồng, bà lập hợp đồng tặng cho theo quy định của pháp luật, bà có phải thỏa thuận với chồng bằng văn bản k bạn?

    (Nếu là di chúc thì k cần thỏa thuận, vẫn được chuyển quyền?)

     
    Báo quản trị |  
  • #408024   28/11/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Chào bạn.

    Theo luật hôn nhân gia đình:

    Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

    Theo luật dân sự:

    Điều 217. Sở hữu chung hợp nhất

    1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.

    Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

    2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.

    Như vậy, bất động sản là  tài sản chung hợp nhất do vợ chồng là đồng sở hữu thì cả 2 có quyền ngang nhau nên việc "cho tặng" liên quan đến tài sản chung phải có sự đồng ý của cả 2.

    Theo luật dân sự:

    Điều 121. Giao dịch dân sự

    Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

    Chuyển nhượng, mua bán, cho tặng...là giao dịch, nêb phải tuân theo các quy định của chế định giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. Thừa kế không phải là giao dịch mà là một sự kiện pháp lý; Việc lập di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương nhưng hành vi đó chưa làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 28/11/2015 03:21:49 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #408206   01/12/2015

    hungmaiusa viết:

    Chào bạn.

    Theo luật dân sự:

    Điều 217. Sở hữu chung hợp nhất

    1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.

    Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

    2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.

    Như vậy, bất động sản là  tài sản chung hợp nhất do vợ chồng là đồng sở hữu thì cả 2 có quyền ngang nhau nên việc "cho tặng" liên quan đến tài sản chung phải có sự đồng ý của cả 2.

    Chào bạn.

    Trước hết mình cảm ơn bạn đã tham gia chủ đề.

    Mình đồng ý tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất (khoản 2 Điều 33 Luật HNVGĐ; khoản 1 Điều 219 BLDS). Về vấn đề di chúc mình tạm gác lại.

    Về đoạn trích trên, theo mình thấy nó chỉ quy định phần quyền sở hữu là không được xác định nhưng không nói là không được tặng cho. Các chủ sở hữu chung có quyền ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung, nhưng không điều khoản nào nói có quyền ngang nhau đối với phần quyền, vì vậy theo mình, nếu chỉ viện dẫn điều khoản trên để cho rằng một chủ sở hữu không thể tặng cho, chuyển nhượng phần quyền của mình trong tài sản chung hợp nhất đó thì là chưa thuyết phục, chưa đủ căn cứ?

     
    Báo quản trị |  
  • #408252   01/12/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4080)
    Số điểm: 31561
    Cảm ơn: 918
    Được cảm ơn 1895 lần


    Chào bạn.

    Theo luật dân sự:

    Điều 219. Sở hữu chung của vợ chồng

    3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

    Điều 223. Định đoạt tài sản chung

    2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

    3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.

    Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

    Luật quy định (điều 219) là khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng thì phải "bàn bạc, thỏa thuận" hoặc "ủy quyền cho nhau"; nếu không thực hiện là vi phạm điều cấm của pháp luật (trái quy định).

    Nếu có thực hiện thì phải chứng minh, cách chứng minh là phải bằng văn bản đồng ý hoặc ủy quyền. Ngoài ra, đồng sở hữu khác có quyền ưu tiên mua (k 3 đ 223).

    Đối với thừa kế thì sẽ thực hiện "theo quy định của pháp luật" (k 2 đ 233) về chế định thừa kế; tuy nhiên di chúc có đương nhiên hợp pháp hay không là còn tranh luận do có nhiều quan điểm khác nhau.

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 01/12/2015 12:11:49 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #408286   01/12/2015

    hungmaiusa viết:

    Chào bạn.

    Theo luật dân sự:

    Điều 219. Sở hữu chung của vợ chồng

    3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

    Điều 223. Định đoạt tài sản chung

    2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

    3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.

    Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

    Luật quy định (điều 219) là khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng thì phải "bàn bạc, thỏa thuận" hoặc "ủy quyền cho nhau"; nếu không thực hiện là vi phạm điều cấm của pháp luật (trái quy định).

    Nếu có thực hiện thì phải chứng minh, cách chứng minh là phải bằng văn bản đồng ý hoặc ủy quyền. Ngoài ra, đồng sở hữu khác có quyền ưu tiên mua (k 3 đ 223).

    Đối với thừa kế thì sẽ thực hiện "theo quy định của pháp luật" (k 2 đ 233) về chế định thừa kế; tuy nhiên di chúc có đương nhiên hợp pháp hay không là còn tranh luận do có nhiều quan điểm khác nhau.

    Chào bạn.
     
    Điều bạn nói cũng là ý kiến của nhiều người. Nhưng để cho chặt chẽ mình cũng có ý kiến phản biện như sau nhé (hi vọng k sai):
     
    Khoản 3 Điều 219 và khoản 2 Điều 223 chỉ quy định về trường hợp là tài sản chung, không phải là phần quyền trong tài sản chung.
     
    Khoản 3 Điều 223 chỉ quy định trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua, nhưng không quy định trong trường hợp một chủ sở hữu chung tặng cho phần quyền của mình.
     
    Như vậy có vẻ các điều khoản trên chưa quy định cụ thể trường hợp một chủ sở hữu chung tặng cho phần quyền của mình thì như thế nào (?)
     
    Báo quản trị |  
  • #408319   02/12/2015

    bigkool
    bigkool

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/07/2015
    Tổng số bài viết (26)
    Số điểm: 340
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 4 lần


    hungmaiusa viết:

    Chào bạn.

    Theo luật hôn nhân gia đình:

    Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

    Theo luật dân sự:

    Điều 217. Sở hữu chung hợp nhất

    1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.

    Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

    2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.

    Như vậy, bất động sản là  tài sản chung hợp nhất do vợ chồng là đồng sở hữu thì cả 2 có quyền ngang nhau nên việc "cho tặng" liên quan đến tài sản chung phải có sự đồng ý của cả 2.

    Theo luật dân sự:

    Điều 121. Giao dịch dân sự

    Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

    Chuyển nhượng, mua bán, cho tặng...là giao dịch, nêb phải tuân theo các quy định của chế định giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. Thừa kế không phải là giao dịch mà là một sự kiện pháp lý; Việc lập di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương nhưng hành vi đó chưa làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

    hungmaiussa ốc học thế nhỉ, toàn nói linh tinh. Cái gì mà "việc "cho tặng" liên quan đến tài sản chung phải có sự đồng ý của cả 2" ?

    Nếu cả 2 vợ chồng cùng đồng ý tặng cho thửa đất cho người khác, thì toàn bộ quyền sử dụng đất sẽ thuộc về người đó.

    Trong khi đó bonnilinh hỏi người vợ tặng cho phần quyền của mình (tức 1 phần quyền quản lý sử dụng của mình đối với thửa đất cho người khác) chứ đâu phải tặng cho toàn bộ thửa đất của hai vợ chồng cho người khác. Trường hợp này phần quyền của người chồng đối với thửa đất vẫn được giữ nguyên mà không thay đổi gì so với trước khi vợ tiến hành tặng cho (nói cách khác quyền lợi của người chồng vẫn được đảm bảo).

    Tôi xin lấy ví dụ cho ốc học hiểu:

    A và B là vọ chồng có con là C, A và B có 1 thửa đất tại thị trấn X (sổ đỏ mang tên A và B). nay A bị bệnh, biết mình không qua khỏi, A làm hợp đồng tặng cho phần quyền sử dụng đất của mình cho con là C. Sau khi làm thủ tục đăng ký sang tên, thay đổi thông tin chủ sử dụng đất thì B và C là đồng chủ sử dụng đất.

    Trên thực tế, những trường hơp như thế này vẫn được thực hiện bình thường. chỉ những đứa ốc học (đọc luât/ học luật mà chả hiểu gì) mới suy luận ra những cái vớ vẩn để hành dân.

     :-(:-(:-(

     
    Báo quản trị |  
  • #408342   02/12/2015

    trunghieu6592
    trunghieu6592
    Top 150
    Male
    Lớp 2

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2014
    Tổng số bài viết (401)
    Số điểm: 3627
    Cảm ơn: 33
    Được cảm ơn 126 lần


    Tôi thấy nếu không có chữ ký chồng thì không làm được vì họ có quyền ngang nhau trong quản lý sử dụng và định đoạt tài sản chung không có nghĩa là tài sản đó được phân chia đúng với phần quyền của họ. Tặng cho phần quyền của tài sản chung hợp nhất căn cứ vào điêu 35 LHN GD và Điều 13 nghị đinh 126/2014 đã quy định. Tiêu đề chỉ nói phần quyền chứ chưa rõ là quyền gì (định đoạt, quản lý sử dụng, hay là quyền nhận tài sản khi người cho chết(thừa kế)). 

    Trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản chung là thống nhất và phải có sự thoả thuận của vợ chồng chứ không được phát sinh bất cứ giao dích nào nếu không có sự thoả thuận của vợ hoặc chồng trừ trường hợp giao dích đó đáp ứng nhu cầu gia đình. 

    Nếu giao dịch đó tổn hại đến lợi ích gia đình, nhu càu thiết yếu của gia đình thì giao dịch đó vô hiệu. Trừ trường hợp có thoả thuận của vợ chồng. 

    Tôi thấy các anh chị đang nhầm giữa quyền quản lý sử dụng và quyền định đoạt tài sản. 

    bạn bigcool nói rằng tặng cho phần quyền sử dụng đất không cần chữ ký của B theo tôi chưa đung. Vì quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, Nếu vợ không đồng ý mà giao dịch vẫn được thực hiện là trái với quy định. Phần này nếu muốn tặng cho thì phải là di chúc mới chính xác. 

    Để làm được điều trên thì phải phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như vậy sẽ không cần chữ ký của một bên vì có quyết định của toà. ^^ Lúc đấy tài sản riêng sẽ được tặng cho kiểu gì cũng được

    Bởi vậy mới có thủ tục hành chính nếu cứ áp dụng luật thì cần gì người học luật, họ sẽ mua cái máy về sử dung là được rồi. 

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-