DanLuat 2015

Tài sản bị công an thu hồi vì nói là tài sản trộm cắp

Chủ đề   RSS   
  • #272550 29/06/2013

    Tài sản bị công an thu hồi vì nói là tài sản trộm cắp

    Tôi mua trên mạng một chiếc điện thoại di động trị giá 4 triệu đồng của một người không rõ danh tính, giao dịch ở ngoài đường. Sau một thời gian sử dụng thì công an (không biết thế nào mà biết số điện thoại của tôi) gọi điện và mời lên trụ sở công an phường làm việc. Tại đây tôi được thông báo là chiếc điện thoại mà tôi sử dụng là tang vật của một vụ trộm tài sản ở khách sạn. Sau đó họ lập biên bản tạm giữ tang vật và bảo tôi hợp tác tìm người đã bán chiếc điện thoại này cho tôi. Theo suy đoán của tôi và gần như chắc chắn thì tôi biết là người bán chỉ là người rao hộ và chiếc điện thoại này là của một tiệm cầm đồ mà người đó là em của chủ tiệm. Lúc mua tôi được biết chủ tiệm cầm đồ đã cầm chiếc điện thoại của một thanh niên cũng thường hay cầm đồ nhiều loại điện thoại khác nữa.

    Vậy tôi xin được hỏi luật sư.

    Việc thu hồi như vậy có đúng hay không?

    Căn cứ nào mà phía công an có quyền thu hồi tài sản trong khi không thấy có gì chứng minh đó là tài sản ăn cắp (họ chỉ bảo đó là nghiệp vụ điều tra của họ)

    Và tôi đòi quyền lợi của mình như thế nào (bỏ tiền ra mua điện thoại) lúc mua tôi có biết nó có nguồn gốc như thế nào đâu. Có phải như xe máy, ô tô có giấy tờ đăng ký sở hữu.

    Tôi rất mong được sự tư vấn của luật sư.

    Chân thành cảm ơn và kính chúc trang web ngày càng phát triển.

     
    3261 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #272561   29/06/2013

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88015
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1956 lần


    Chào bạn!

    Căn cứ vào lời khai của người bị hại, và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập được đã xác định chiếc điện thoại mà bạn mua phải là vật chứng, nếu có căn cứ cho rằng chiếc điện thoại mà bạn mua là chiếc điện thoại đã bị mất cắp tại khách sạn thì Cơ quan điều tra có quyền lập biên bản thu giữ chiếc điện thoại này.

    - Trường hợp nếu trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không chứng minh được chiếc điện thoại này là vật chứng của vụ án thì Cơ quan điều tra sẽ tiến hành xử lý vật chứng trả lại tài sản hợp pháp này cho bạn.

    - Trường hợp nếu Cơ quan điều tra chứng minh được chiếc điện thoại này là vật chứng (tang vật) trong vụ án trộm cắp tài sản ở khách sạn, hoặc là tang vật trong 1 vụ án khác thì Cơ quan điều tra có quyền thu giữ tài sản này để điều tra xử lý trả cho người bị hại (chủ sở hữu), lúc này bạn là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bạn có quyền yêu cầu Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết buộc người đã gây ra thiệt hại cho mình trả lại số tiền mà bạn đã bỏ ra mua điện thoại.

    - Điện thoại là vật không đăng ký quyền sở hữu, chính vì vậy bạn nên mua ở những cửa hàng uy tín, nhằm đảm bảo cho mình.

    Bạn có thể tham khảo thêm quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, các điều luật liên quan đến vấn đề bạn hỏi như sau:

    Điều 74. Vật chứng

    Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.

    Điều 75. Thu thập và bảo quản vật chứng

    1. Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

    Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản.

    2. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn và hư hỏng. Việc niêm phong, bảo quản vật chứng được thực hiện như sau:

    a) Đối với vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong phải được tiến hành theo quy định của pháp luật và phải lập biên bản để đưa vào hồ sơ vụ án;

    b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc các cơ quan chuyên trách khác;

    c) Đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;

    d) Đối với vật chứng là hàng hoá mau hỏng hoặc khó bảo quản nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 76 của Bộ luật này thì cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại kho bạc nhà nước để quản lý;

    đ) Đối với vật chứng đưa về cơ quan tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan thi hành án có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

    3. Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng, phá huỷ niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại vật chứng của vụ án, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 310 của Bộ luật hình sự; trong trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 300 của Bộ luật hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Điều 76. Xử lý vật chứng

    1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

    2. Vật chứng được xử lý như sau:

    a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

    b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

    c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

    d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

    đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

    3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

    4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn KhacDuy25 vì bài viết hữu ích
    QuyetQuyen945 (29/06/2013) duyminhphan (29/06/2013)