DanLuat 2015

Tài liệu bình luận Bộ luật hình sự hợp nhất 2017

Chủ đề   RSS   
  • #483727 30/01/2018

    chiakinguyen
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/06/2016
    Tổng số bài viết (182)
    Số điểm: 3874
    Cảm ơn: 76
    Được cảm ơn 203 lần


    Tài liệu bình luận Bộ luật hình sự hợp nhất 2017

    Để phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu của các bạn, mình cập nhật Tài liệu bình luận Bộ luật hình sự hợp nhất năm  2017 đến các bạn. Hy vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích cho các bạn.

    Chương I: ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN

    Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự

    Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

    Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.

    Bình luận:

    Nhiệm vụ của BLHS rất nhiều nhưng có thể khái quát ở 2 nhiệm vụ chính.

    Một là nhiệm vụ bảo vệ, bảo vệ gì? Chính là bảo vệ những mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Trong xã hội có rất nhiều những quan hệ cần được điều chỉnh, tuy nhiên do tính chất, mức độ và tầm quan trọng khác nhau nên sẽ được điều chỉnh bởi những nhóm quy phạm pháp luật khác nhau. Luật hình sự chọn những quan hệ xã hội trọng tâm, gần như là quan trọng nhất, ưu tiên hàng đầu để điều chỉnh như chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân v.v…

    Hai là giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Bản chất của pháp luật hình sự không phải là để trừng phạt người phạm tội giống như hệ thống pháp luật thời phong kiến. Điều này dễ dàng nhìn thấy qua các hình phạt cổ như lăng trì, tùng xẻo, ngũ mã phanh thây v.v…hình phạt trong Bộ Luật hình sự ngày nay đang đi theo xu hướng càng ngày càng giảm án tử hình thay bằng hình thức chung thân và thi hành án tử cũng trở nên nhân đạo hơn để tử tù được ra đi một cách nhẹ nhàng, ít đau đớn nhất.

    Để thực hiện 2 nhiệm vụ trên thì BLHS quy định xung quanh 2 vấn đề và cũng là xuyên suốt qua các thời kỳ đó là Tội phạm và Hình phạt. Nói đến hình sự người ta nghĩ ngay đến tội phạm và hình phạt và ngược lại. Đó là đặc trưng cơ bản và rất dễ nhận thấy ở pháp luật hình sự so với các ngành luật khác như dân sự, hành chính. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý giữa vi phạm hành chính (xử phạt vi phạm hành chính) và tội phạm (xử lý hình sự) có một mối quan hệ khá mật thiết, chúng khá tương đồng trong nhiều mặt và ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự đôi khi rất mong manh phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm và đôi khi là cách nhìn nhận chủ quan của người xử phạt vi phạm hành chính và cơ quan công tố. Do đó, trong thực tế không hiếm những trường hợp hồ sơ vi phạm hình sự nhưng sau đó chuyển sang xử lý hành chính và hồ sơ xử lý hành chính chuyển sang xử lý hình sự do có dấu hiệu của tội phạm.

    Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

    1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận:

    Đây là quy định chỉ rõ khi nào thì một cá nhân hay một pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự và đó là khi cá nhân, pháp nhân thương mại đó phạm một tội đã được BLHS quy định. Riêng đối với pháp nhân thương mại do tính đặc thù của chủ thể mà giới hạn những điều luật có thể phạm phải chỉ bao gồm: Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300, 324.

    Cách hành văn của quy định trên làm nhiều người có thể hiểu sai lệch (phi logic) rằng nếu một người, pháp nhân thương mại nào đó phạm từ 2 tội trở lên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự vì quy định chỉ nêu “khi phạm một tội” chứ không phải “vi phạm ít nhất một tội”. Tuy nhiên nếu nghiên cứu theo những nguyên tắc của bộ môn logic học thì cách diễn đạt như vậy hoàn toàn logic. Nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng không phải ai cũng có thể hiểu và am tường về bộ môn logic học này, hơn nữa luật pháp là nhằm mục đích phổ biến áp dụng trong thực tế vì vậy nó càng phổ thông càng dễ hiểu càng tốt. Hiện quy định như vậy không sai nhưng để đảm bảo bớt tính hàn lâm và tránh những sự nhầm lẫn không đáng có thì nên diễn đạt lại theo hướng “…phạm ít nhất một tội…”(cách hành văn mới này cũng hoàn toàn không sai nhưng lại dễ hiểu hơn).

    Điều 3. Nguyên tắc xử lý

    1. Đối với người phạm tội:

    a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

    b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

    c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

    đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

    e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

    g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

    2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

    a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

    b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;

    c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

    d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

    Bình luận:

    Nguyên tắc là những thứ bắt buộc phải tuân thủ, nguyên tắc được lập ra để đảm bảo tính thống nhất và cho thấy được phần nào chính sách của BLHS nói riêng và chính sách của nhà nước nói chung đối với tội phạm. Đó là phân định rõ nhóm đối tượng sẽ được hưởng chính sách khoan hồng, thể hiện sự nhân đạo của nhà nước và nhóm chính sách cứng rắn thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với nhóm đối tượng có khả năng và đã hoặc sẽ thực hiện những hành vi gây nguy hại lớn đến xã hội.

    Nguyên tắc thì nhiều nhưng nếu phân chia theo cách BLHS làm thì có nhóm những nguyên tắc đối với người phạm tội và nhóm nguyên tắc đối với pháp nhân thương mại. Tuy nhiên có thể nhìn thấy rất rõ ràng ở điều luật trên là 2 nhóm nguyên tắc này không có gì khác nhau về bản chất và nhóm nguyên tắc của pháp nhân thương mại ít hơn nhiều với nguyên tắc của người phạm tội (có thể gọi đó là tập hợp con trong trường hợp này). Những khác biệt rất ít cũng chỉ xuất phát từ những đặc trưng của từng loại chủ thể. Điều này có thể dễ hiểu vì trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân là một chế định rất mới mẻ và BLHS 2015 là Bộ luật đầu tiên ghi nhận chế định này. Do đó không tránh khỏi việc nêu ra những nguyên tắc trên cũng cơ bản là dựa trên nguyên tắc dành cho người phạm tội và theo đánh giá chủ quan của tác giả, nguyên tắc đối với pháp nhân thương mại vẫn còn thiếu nhiều và có thể sẽ phải bổ sung trong tương lai không xa. Đơn cử như không có nguyên tắc về việc tạo điều kiện cho pháp nhân tái hoạt động sau khi chấp hành xong hình phạt hay nguyên tắc về xóa điểm đen lý lịch pháp nhân (tương tự như xóa án tích) v.v…

    Điều 4. Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

    1. Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.

    2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

    3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

    Bình luận:

    Điều luật này cho thấy rằng trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là của toàn xã hội mà không chỉ bị giới hạn bởi trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy nhà nước. Tuy vậy nghĩa vụ này không được đánh đồng đối với tất cả các chủ thể. Điều này thể hiện ở quy định tại Khoản 3: Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm. Cấu trúc của quy định này cho thấy sự khuyến khích hơn là bắt buộc. Hoàn toàn khác với quy định tại Khoản 1 khi quy định rằng: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

    Quy định này thể hiện sự rõ ràng, tách bạch giữa nghĩa vụ mang tính bắt buộc và nghĩa vụ mang tính khích lệ, khuyến khích. Chính xác là nghĩa vụ chính trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm phải thuộc về các cơ quan nhà nước. Nhiệm vụ bảo vệ bình yên cho cuộc sống của người dân là nhiệm vụ thuộc về nhà nước. Hiến pháp đã trao quyền tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống quyền lực công và sử dụng công cụ hệ thống quân đội, nhà tù, công an, cảnh sát v.v…để thực hiện mục tiêu gìn giữ hòa bình, ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong mối quan hệ này người dân phải thực hiện nghĩa vụ về thuế và những nghĩa vụ khác để tạo nguồn thu ngân sách duy trì hoạt động của hệ thống trên. Mỗi bên đều có những nghĩa vụ rất rõ ràng của mình được quy định trong Hiến pháp. Do vậy nhiệm vụ cùng tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm của công dân là để đảm bảo được tính toàn diện và tính nhanh chóng kịp thời trong việc xử lý tội phạm, nó là một nghĩa vụ phái sinh và mang tính chất khuyến khích là chính, làm cho mọi công dân thấy được bổn phận của mình đối với công tác phòng chống tội phạm.

    Chương II: HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

    Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Bộ luật Hình sự áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

    2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    Bình luận:

    Về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì đều áp dụng BLHS Việt Nam. Lãnh thổ Việt Nam ở đây phải được hiểu bao gồm: Vùng đất, vùng biển và vùng trời được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Riêng đối với phần lãnh thổ di động (tàu bay, tàu biển) thì phạm vi áp dụng của BLHS còn được mở rộng hơn ở chỗ không chỉ hành vi phạm tội được thực hiện trên các phương tiện đó mà nếu hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên phương tiện đó thì vẫn áp dụng quy định của BLHS Việt Nam mặc dù hành vi phạm tội có thể xảy ra ngoài tàu bay, tàu biển.

    Tuy nhiên, nguyên tắc trên có một ngoại lệ duy nhất là đối với những người phạm tội được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự. Những đối tượng này được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế. Trường hợp này sẽ không áp dụng quy định của BLHS mà trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giải quyết theo quy định tại các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế hoặc bằng con đường ngoại giao.

    Như vậy có thể thấy hiệu lực về không gian của BLHS là rất rộng và áp dụng đối với tất cả các đối tượng kể cả là người nước ngoài, người không quốc tịch. Chỉ một phần rất nhỏ những đối tượng được hưởng quyền miễn trừ như đã nêu mới không chịu sự điều chỉnh của Bộ luật này.

    Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

    2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    3. Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.

    Bình luận:

    Điều luật này bao gồm 3 Khoản và cả 3 Khoản này đều có một điểm chung là có thể áp dụng BLHS chứ không phải là sẽ áp dụng BLHS. Kỹ thuật lập pháp tại điều này hoàn toàn khác với quy định tại Điều 5. Vấn đề cốt lõi là ở chỗ những hành vi phạm tội tại điều này đều là những hành vi nằm ngoài lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam. Bởi vì nằm ngoài nên khả năng áp dụng BLHS để giải quyết cũng cực kỳ hạn chế vì khả năng cao hành vi đó sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật hình sự của một quốc gia nào đó nếu hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia vì quốc gia nào cũng đề cao chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với lãnh thổ của mình.

    Như vậy tóm tắt lại những trường hợp có thể áp dụng BLHS trong Điều luật này như sau:

    - Chủ thể phạm tội là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam

    - Hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc của nước CHXHCN Việt Nam

    - Theo quy định của điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên

    Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

    1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

    2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    Bình luận:

    Nguyên tắc, chỉ áp dụng quy định của pháp luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện. Nguyên tắc này hoàn toàn đúng bởi vì chúng ta không thể bắt buộc một cá nhân nào đó phải biết được hành vi của mình là phạm tội hay không cho đến khi chúng ta chỉ ra được hành vi đó đã được quy định tại Điều, Khoản, Điểm, Tiết… nào của BLHS và quy định đó đang có hiệu lực thi hành (có giá trị áp dụng).

    Xã hội luôn biến động và cách nhìn nhận của nhà lập pháp, của xã hội cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Do đó, trong một số trường hợp sự nguy hiểm của hành vi phạm tội sẽ giảm dần theo thời gian nhưng trong những trường hợp ngược lại tính chất nguy hiểm của hành vi nào đó sẽ tăng dần theo thời gian. Vì vậy cho nên các quy phạm pháp luật hình sự cũng không ngừng biến động theo, một số tội phạm sẽ không còn (mất hẳn hoặc chuyển xuống xử lý vi phạm hành chính), một số loại tôi phạm mới sẽ phát sinh.

    Nhằm đảm bảo pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội để quan hệ đó ổn định và phát triển theo đúng định hướng, nguyên tắc trên cũng phải tồn tại ngoại lệ (như một lẽ tất yếu), thể hiện tính mềm dẻo và chính sách nhân đạo của nhà nước.

    Ngoại lệ này cho phép áp dụng những quy định mà tại thời điểm thực hiện hành vi, quy định đó vẫn chưa có hiệu lực thi hành, cụ thể trong các trường hợp sau:

    - Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng,

    - Quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới

    - Mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích

    - Quy định khác có lợi cho người phạm tội

    Đặc điểm chung của các quy định trên là nếu áp dụng các quy định mới (chưa có hiệu lực vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội nhưng đã có hiệu lực tại thời điêm xét xử) thì sẽ có lợi hơn cho người phạm tội. Người phạm tội có thể sẽ không còn phạm tội hoặc phải chịu một mức hình phạt nhẹ hơn.

    Trong trường hợp ngược lại thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành (Khoản 2).

    - Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới

    - Hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích

    - Quy định khác không có lợi cho người phạm tội

    Thực ra quy định này có vẻ hơi thừa vì nó không hề khác với nguyên tắc điều luật được áp dụng phải là điều luật đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Khoản 1. Tuy vậy, việc hơi thừa này thực ra cũng xuất phát từ sự cẩn trọng của nhà lập pháp. Quy định rõ ràng nhưng nhiều khi những cơ quan tiến hành tố tụng lại không áp dụng một cách chính xác, đúng đắn và thống nhất. Hiện tượng oan sai vẫn còn diễn ra nhiều. Cho nên việc tái khẳng định rằng những quy định theo hướng bất lợi cho người phạm tội thì không được phép áp dụng khi hành vi xảy ra trước thời điểm quy định đó có hiệu lực vẫn rất có giá trị thực tiễn.

    Chương III: TỘI PHẠM

    Điều 8. Khái niệm tội phạm

    1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

    2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    Bình Luận:

    Từ khái niệm nêu trên ta xác định được các yếu tố cấu thành của tội phạm, bao gồm:

    1. Hành vi nguy hiểm cho xã hội.

    2. Yếu tố có lỗi.

    3. Do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện.

    4. Xâm phạm các mối quan hệ được qui định tại Bộ luật hình sự.

    Do vậy không phải mọi hành vi đều cấu thành tội phạm mà chỉ khi hành vi đó thỏa mãn đồng thời 4 yếu tố nêu trên thì mới xác định có tội phạm xảy ra.

    Khái niệm tội phạm theo qui định trên có nhiều điểm mới so với khái niệm tội phạm được qui định trong Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Bộ luật hình sự 1999). Cụ thể:

    - Tăng cường chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. Nếu trước đây chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân thì hiện nay đã có thêm chủ thể mới là các pháp nhân thương mại. Hai chủ thể này có đặc điểm hoàn toàn khác nhau, chính vì vậy mà trách nhiệm hình sự của họ cũng khác nhau. Điều này thể hiện ở chỗ, cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội thì các loại hình phạt được áp dụng theo qui định tại Điều 32 (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình….), pháp nhân thương mại khi phạm tội thì được áp dụng một số loại hình phạt mang tính riêng biệt phù hợp với đặc điểm chủ thể qui định tại Điều 33 (phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm huy động vốn….) và tất nhiên phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại cũng chỉ giới hạn ở các loại tội phạm được qui định tại Điều 76, cụ thể Điều 188 (Tội buôn lậu), Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), Điều 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm), Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả), Điều 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), Điều 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuộc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), Điều 196 (Tội đầu cơ), Điều 200 (Tội trốn thuế), Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước), Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch, hoặc che dấu thông tin trong hoạt động chứng khoán), Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán), Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán), Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm), Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động), Điều 217 (Tội vi phạm qui định về cạnh tranh), Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan), Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp), Điều 227 (Tội vi phạm qui định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên), Điều 232 (Tội vi phạm qui định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản), Điều 234 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ động vật hoang dã), Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường), Điều 237 (Tội vi phạm qui định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường), Điều 238 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê diều và phòng chống thiên tai; vi phạm qui định về bảo vệ bờ, bãi sông), Điều 239 (Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam), Điều 242 (Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản), Điều 243 (Tội hủy hoại rừng), Điều 244 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm), Điều 245 (Tội vi phạm qui định về bảo tồn thiên nhiên), Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại), Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố), Điều 324 (Tội rửa tiền). Xem xét các loại tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, chúng ta dễ dàng nhận thấy chỉ đối với một số hành vi liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, thuế, tài chính, môi trường … thì mới qui định trách nhiệm hình sự.

    - Tinh gọn các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Cụm từ “xâm phạm quyền con người” đã thay thế cho “xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản”. Cách qui đinh này trước hết làm cho khái niệm tội phạm đảm bảo được tính ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn khái quát được toàn bộ các quan hệ mà pháp luật hình sự phải can thiệp. Thay vì theo cách liệt kê, dự liệu chi tiết từng mối quan hệ thì đến đây các nhà làm luật đã nhìn nhận một cách tổng thể hơn, khái quát hơn, khắc phục nhược điểm, tư tưởng liệt kê mà bấy lâu nay vẫn áp dụng. Phương pháp liệt kê trong Bộ luật hình sự 1999 có ưu điểm là chỉ điểm cụ thể các quan hệ hay nói cách khác là xác định đích danh, tuy nhiên phương pháp này không mang tính bao quát. Việc qui định cụm từ quyền con người là phù hợp với hiến pháp 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta ghi nhận một cách trân trọng về quyền con người tại một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Tiếp nối sự khẳng định trong việc tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ quyền con người mà Bộ luật hình sự sửa đổi đã có cách ghi nhận mới. Do vậy việc ghi nhận như hiện nay là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn trong tiến trình hội nhập quốc tế, Nhà nước đã sử dụng công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ quyền con người.

    - Xác định lại phạm vi chịu trách nhiệm hình sự: Khái niệm tội phạm thể hiện rất rõ một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi xâm phạm các mối quan hệ mà theo qui định Bộ luật hình sự hành vi đó phải bị xử lý. Chính vì vậy mà khi một hành vi xảy ra trên thực tế, bên cạnh xác định các yếu tố cấu thành khác thì chúng ta phải xác định hành vi đó có cấu thành một trong các loại tội phạm được thể hiện trong Bộ luật này hay không. Mặc dù một hành vi có xâm phạm đến một mối quan hệ xã hội nhất định nhưng không thuộc phạm trù được liệt kê tại phần các tội phạm thì đương nhiên hành vi này không phải chịu trách nhiệm hình sự, có chăng nó sẽ cấu thành một trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự. Bộ luật hình sự 1999 chưa thực hiện được điều này và từ đó tạo ra sự nhầm lẫn, mâu thuẫn trong chính khái niệm cũng như trong từng loại tội phạm nhất định.

    Một hành vi khi thỏa mãn được 4 yếu tố nêu trên thì cấu thành tội phạm. Tuy nhiên xét yếu tố về tính nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật có thể loại trừ nó ra khỏi các biện pháp chế tài của Bộ luật hình sự hay nói cách khác hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự, nó sẽ được xem xét ở các trách nhiệm pháp lý khác như hành chính hay dân sự. Như vậy một câu hỏi được đặt ra là mức độ nguy hiểm của một hành vi được xác định như thế nào? Đây là một vấn đề rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính phải chịu trách nhiệm hình sự của một hành vi.

    Để đánh giá một cách chính xác tính nguy hiểm của hành vi cần phải xem xét một cách tổng thể, đối chiếu qua lại giữa nhiều yếu tố khác nhau như: chủ thể thực hiện là ai, hoàn        cảnh khi nào, ở đâu, hậu quả mà hành vi đó gây ra…có như vậy mới đưa ra được nhận định đúng đắn. Không có một khuôn mẫu, chuẩn mực nào để chúng ta có thể xác định ngay lập tức mức độ nguy hiểm của hành vi mà phải phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá của các cơ quan điều tra, tố tụng. Để đảm bảo tính công bằng, đòi hỏi các cá nhân, cơ quan chức trách khi xem xét hành vi phải thật sự khách quan.

    Điều 9. Phân loại tội phạm

    1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

    a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

    b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

    c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

    d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

    Bình luận:

    Trước đây Bộ Luật hình sự 1999 đưa việc phân loại vào Điều 8 khái niệm tội phạm. Tuy nhiên qui định này vô hình dung gây ra sự nhầm lẫn về thuộc tính của tội phạm, cụ thể các loại tội phạm chỉ là việc phân hóa mức độ chịu trách nhiệm hình sự, là sự chi tiết hóa cho một hành vi khi bị xem là cấu thành tội phạm.

    Việc phân loại tội phạm được xem xét dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo đó tùy vào mức độ mà áp dụng loại hình phạt tương thích, đảm bảo được tính răn đe cũng như yếu tố giáo dục. Ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự hiện hành, chúng ta đã nhận thức rõ được chức năng, nhiệm vụ của luật hình sự. Nó là công cụ hữu hiệu của giai cấp cầm quyền trong việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các mối quan hệ trong xã hội, được sử dụng để nhằm răn đe, ngăn chặn, uốn nắn cũng như trừng phạt và giáo dục đối với các hành vi xâm phạm. Chính vì vậy mà việc phân loại tội phạm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Trách nhiệm hình sự của các chủ thể vi phạm được xác định ngay tại giai đoạn đầu và từ đó định hướng được các chế tài xử lý phù hợp.

    Tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà tội phạm được pháp luật hình sự phân thành 4 loại như sau:

    - Tội ít nghiêm trọng

    - Tội nghiêm trọng

    - Tội rất nghiêm trọng.

    - Tội đặc biệt nghiêm trọng.

    Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần và tương ứng với đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần. Nếu trước đây việc phân loại hình phạt và khung hình phạt để áp dụng cho mỗi loại tội phạm được thực hiện theo phương thức áp mức tối đa thì hiện nay các nhà làm luật đã liệt kê một cách chi tiết, rõ ràng giúp việc vận dụng luật được thuận tiện hơn.

    Tương tự chủ thể là cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại khi có các hành vi xâm phạm các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ cũng phải chịu những chế tài tương ứng với từng loại tội phạm nhất định.

    Điều 10. Cố ý phạm tội

    Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

    1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

    2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

    Bình Luận

    Chương III chủ yếu tập trung làm rõ các thành tố cấu thành tội phạm, như đã phân tích tại khái niệm tội phạm thì lỗi là một trong 4 yếu tố được đưa ra để xem xét đánh giá một hành vi đã xảy ra có phải là tội phạm hay không, nếu có thì mức độ như thế nào. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu, phân loại các bản dạng lỗi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

    Điều này, các nhà làm luật đưa ra khái niệm về lỗi cố ý cũng như căn cứ để phân loại lỗi cố ý. Cụ thể:

    Lỗi cố ý trực tiếp: được xác định dựa trên mức độ nhận thức của người thực hiện hành vi. Trong các loại lỗi thì lỗi cố ý trực tiếp thể hiện sự nhận thức và mức độ quyết tâm cao nhất của người thực hiện. Sự nhận thức được thể hiện dưới ba góc độ khác nhau, thứ nhất đó là nhận thức được mức độ nguy hiểm, nghĩa là người phạm tội nhận diện được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện sẽ gây ra nguy hiểm cho xã hội, sự nguy hiểm thể hiện ở chỗ nếu hành vi được thực hiện là nó sẽ xâm phạm đến một đối tượng cụ thể nào đó. Thứ hai nhận thức được hậu quả, người thực hiện hành vi bên cạnh nhận diện được mức độ nguy hiểm thì họ còn thấy được hậu của nó như thế nào, dự liệu được một cách chính xác và đúng đắn những hậu quả mà hành vi mang lại. Và không có việc người thực hiện hành vi sẽ mơ hồ, không xác định được hậu quả là gì, khi trong suy nghĩ người phạm tội nghĩ về một hành vi mà họ sẽ thực hiện thì đồng thời họ cũng đã thấy trước được hậu quả xảy ra, hai vấn đề này tiếp diễn liên tục, liền kề nhau và nhiều trường hợp thậm chí người phạm tội nghĩ đến hậu quả trước và tìm cách thực hiện hành vi tương ứng để hậu quả xảy ra như mong muốn. Thứ ba là nói đến tính quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội “mong muốn hậu quả đó xảy ra”, sự mong muốn này biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đặc điểm như: không chấm dứt hành vi, thực hiện hành vi cho đến khi nào hậu quả xảy ra hay nói cách khác hậu quả chính là mục đích cuối cùng. Như vậy trong chuỗi nhận thức của người thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp chính là biểu hiện của ý chí và quyết tâm cao nhất trong các loại lỗi, đi từ suy nghĩ và hiện thực hóa đến hành động.

    Lỗi cố ý gián tiếp: sự khác biệt cơ bản giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp được thể hiện ở khía cạnh tâm lý người phạm tội. Hai loại lỗi này các chủ thể đều nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đều nhận thức được hậu quả mà hành vi mang lại. Tuy nhiên với lỗi cố ý gián tiếp thì cần phải khẳng định, người phạm tội không hề mong muốn hậu quả đó xảy ra trên thực tế hay nói cách khác hậu quả không nằm trong kế hoạch hành động của họ. Việc hậu quả có xảy ra hay không không phải là đích đến cuối cùng. Sự bỏ mặc thể hiển ở việc người phạm tội không quan tâm, hậu quả xảy ra cũng được hoặc không xảy ra cũng được. Mục đích của người phạm tội đã có thể đạt được ở giai đoạn trước đó hoặc thực hiện hành vi nhưng lại hướng đến một mục đích khác.

    Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu về lỗi cố ý, nhiều quan điểm cho rằng việc phân loại lỗi cố ý thành lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp là không cần thiết. Bởi lẽ một người khi họ đã nhận thức được một cách đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy trước hậu quả xảy ra mà vẫn thực hiện thì cho dù họ có mong muốn hay không mong muốn thì hậu quả cũng đã xảy ra trên thực tế. Việc nhận thức đầy đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi đã chứng tỏ một quyết tâm và ý chí của người phạm tội. Pháp luật hình sự nghiêm cấm các chủ thể xâm phạm đến các mối quan hệ được qui định trong bộ luật này, do vậy việc không hành động hoặc hành động để tránh xâm hại và bảo vệ các mối quan hệ đó là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Chính vì vậy, việc cho rằng không mong muốn hậu quả xảy ra trong khi đã nhận thức và dự liệu một cách chính xác hậu quả mà vẫn thực hiện hành vi là hoàn toàn không có cơ sở.

    Điều 11. Vô ý phạm tội

    Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

    1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

    2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

    Bình Luận

    Vô ý phạm tội gồm hai loại sau:

    Thứ nhất: Vô ý phạm tội do quá tự tin

    Biểu hiện: Người phạm tội nhận thức và dự liệu được hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng xét về mặt ý chí lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc nếu xảy ra thì có biện pháp ngăn ngừa được. Tuy nhiên cần phân tích rõ mức độ nhận thức hậu quả của người thực hiện hành vi. Nếu xem xét lại các lỗi về cố ý thì việc nhận thức và xác định, dự liệu hậu quả là điều tất yếu, hiển nhiên, pháp luật hình sự buộc người phạm tội phải nhận thức rõ vấn đề này. Hậu quả xảy ra nếu thực hiện hành vi là một điều chắc chắn, còn đối với lỗi vô ý do quá tự tin thì hậu quả có thể xảy ra hoặc không xảy ra trên thực tế. Người phạm tội nhận thức được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện có thể dẫn đến một hậu quả nào đó nhưng lại cho rằng hậu quả đó không có cơ sở để xảy ra hoặc nếu xảy ra sẽ được ngăn chặn một cách ngay lập tức. Trong ý chí khi thực hiện hành vi, người phạm tội hoàn toàn không mong muốn hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra như biểu hiện của trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp nhưng trong nhận thức, người phạm tội tự tin ngăn chặn được hậu quả, tuy nhiên sự tự tin không tương đồng với thực tế, không giải quyết được vấn đề.

    Thứ hai: Vô ý phạm tội do cẩu thả

    Biểu hiện: Xét về mặt nhận thức thì người phạm tội hoàn toàn không thấy được hậu quả do hành vi của mình mang lại mặc dù pháp luật buộc người phạm tội phải thấy trước được điều đó. Việc đánh giá khả năng thấy trước hậu quả cũng cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau, cụ thể dựa vào chính khả năng của người phạm tội như trình độ, lứa tuổi, kinh nghiệm sống...; dựa vào hoàn cảnh khách quan về không gian, thời gian, vị trí địa lý...Việc buộc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội phải thấy trước được hậu quả chỉ có thể áp dụng đối với những mối quan hệ chung, phổ biến mà ở đó đã hình thành một quy tắc xử sự, ai cũng phải tuân theo. Ví dụ: Bác sĩ tiêm nhầm thuốc cho bệnh nhân và hậu quả là bệnh nhân chết. Trong trường hợp này chính sự cẩu thả của bác sĩ đã dẫn đến hậu quả là cái chết của bệnh nhân, trong quy tắc xử sự hành nghề y buộc bác sĩ phải là một người cẩn trọng trong việc sử dụng các loại thuốc và đồng thời họ cũng phải nhận thức được hậu quả sẽ như thế nào nếu có sự nhầm lẫn, sử dụng không chính xác.

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

    2.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

    Bình Luận

    Xuất phát từ thực tiễn xét xử và quá trình trẻ hóa tội phạm ngày càng nhiều trong suốt thời gian qua mà quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự hiện nay có thay đổi rõ nét so với qui định trong Bộ luật hình sự 1999. Nếu trước đây người phạm tội khi thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, thì hiện nay phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của nhóm đối tượng này đã được mở rộng, theo đó:

    - Khi thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cho dù với lỗi cố ý hay vô ý thì người phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên trách nhiệm này được giới hạn trong những tội phạm nhất định. Cụ thể Điều 123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếp dâm), Điều 142 (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi), Điều 143 (Tội cưỡng dâm), Điều 144 (Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi), Điều 150 (Tội mua bán người), Điều 151 (Tội mua bán người dưới 16 tuổi), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 178 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản), Điều 248 (Tội sản xuất trái phép chất ma túy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy), Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy), Điều 265 (Tội tổ chức đua xe trái phép), Điều 266 (Tội đua xe trái phép), Điều 286 (Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử), Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử), Điều 289 (Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác), Điều 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản), Điều 299 (Tội khủng bố), Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia), Điều 304 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quận sự).

    Ngoài các tội phạm được liệt kê nêu trên thì nhóm đối tượng này khi thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các loại tội phạm khác thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được khái quát như sau:

    - Từ đủ 16 tuổi trở lên: chịu trách nhiệm hình sự mọi loại tội phạm.

    - Từ đủ 14 tuổi đến dưới16 tuổi:

    + Tội ít nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.

    + Tội nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.

    + Tội rất nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được qui định.

    + Tội đặc biệt nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được qui định.

    Việc phân loại và giới hạn tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên phần nào đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần ngăn chặn, răn đe tội phạm vị thành niên. Nhìn lại khoảng thời gian gần đây, chúng ta không khỏi rùng mình trước các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận, người phạm tội còn tuổi đời rất trẻ nhưng lại thực hiện hành vi với tính chất côn đồ, tàn bạo thể hiện sự xem thường pháp luật, bất chấp mọi khuôn khổ, chuẩn mực để xâm phạm các mối quan hệ xã hội. Trong một môi trường với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, du nhập văn hóa, đề cao lối sống hưởng thụ, thích thể hiện… đã dẫn đến việc xuống cấp đạo đức nghiêm trọng trong bộ phận giới trẻ và từ đó dẫn đến hành vi phạm tội là điều tất yếu.

    Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

    Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình Luận

    Nếu trước đây Điều 14 Bộ luật hình sự 1999 chỉ thể hiện: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”, thì đến nay, qui định này đã được điều chỉnh. Cụ thể: Phù hợp về cách gọi tên, loại khái niệm về tình trạng say khi sử dụng rượu vì khi qui định như vậy, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm say và khi nào người sử dụng rượu rơi vào tình trạng say hay ngoài rượu thì các loại nước uống nào có thể gây ra tình trạng tương tự. Rõ ràng qui định như vậy hoàn toàn không phù hợp về khái niệm khoa học cũng như chưa tương thích với các thuật ngữ, ý nghĩa trong các thành tố cấu thành tội phạm được qui định tại khái niệm tội phạm. Bởi lẽ khi nói đến tội phạm, chúng ta đề cập ngay đến năng lực trách nhiệm hình sự, trong khi đó năng lực trách nhiệm hình sự được xem xét trên ba yếu tố:

    - Khả năng nhận thức.

    - Khả năng điều khiển hành vi.

    - Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

    Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác chỉ tác động đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chính vì vậy vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ không được đề cập ở đây. Do vậy chúng ta không cần quan tâm đến tình trạng say hay không say của người sử dụng mà chỉ xem xét, đánh giá khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi là chuẩn mực nhất, phù hợp với nội hàm của khái niệm tội phạm.

    Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác có thể làm người sử dụng rơi vào trạng thái hạn chế hoặc mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trong trường hợp này, pháp luật qui định rất rõ người thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đến cùng nếu có hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại Điều 8 về khái niệm tội phạm thì hành vi phạm tội phải được thực hiện bởi người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng xét về bản chất thì trước khi sử dụng rượu, bia hoặc các chất kich thích mạnh khác, người phạm tội hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức của mình, việc làm mất hoặc hạn chế là do lỗi của người sử dụng hay nói cách khác là họ tự mình tước đoạt đi khả năng đó và vì có lỗi nên họ buộc phải chịu trách nhiệm hình sự. Vậy đây có được xem là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt hay không? Tất nhiên việc tự mình tước đoạt đi quyền của mình và xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hoàn toàn không có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm. Thậm chí trong nhiều trường hợp, việc phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác được xem xét là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

    - Điều 260: Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ

    ….….

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    1. ……
    2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.

    - Điều 267: Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt

    ….…

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    1. ……
    2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.

    …...

    Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của người phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác. Sở dĩ, hành vi này có thể do người phạm tội tự thực hiện hoặc bị buộc phải sử dụng các chất kích thích để rơi vào trạng thái như vậy. Trong trường hợp bị ép buộc mà không còn cách nào khác hoặc bị lừa dối, đe dọa thì trách nhiệm hình sự sẽ không được đặt ra.

    Qui định này mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội. 

    Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

    1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

    2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

    3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình Luận

    Một tội phạm thực hiện được chia làm ba giai đoạn:

    - Chuẩn bị phạm tội.

    - Phạm tội chưa đạt.

    - Tội phạm hoàn thành.

    Việc xem xét, đánh giá giai đoạn đầu tiên của một hành vi phạm tội nhất định sẽ được bình luận tại Điều này. Giai đoạn phạm tội chưa đạt được qui định tại Điều 15, tội phạm hoàn thành được xử lý theo từng tội danh cụ thể. Để có thể xem xét trách nhiệm hình sự của một đối tượng tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì hành vi đó phải được biểu hiện ra hình thái bên ngoài dưới dạng các hoạt động cụ thể. Chính vì vậy mà khi tội phạm chỉ mới dừng ở suy nghĩ, chưa bộc lộ bằng hành vi, động thái thì hoàn toàn không có căn cứ xác định trách nhiệm hình sự. Việc biểu hiện từ suy nghĩ đến hành động được thể hiện dưới các dấu hiệu như:

    - Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.

    - Thành lập băng nhóm, tổ chức tội phạm.

    - Tham gia vào các băng, nhóm tội phạm sẵn có.

    Đây chính từ sự chuyển tiếp từ suy nghĩ đến hành động của người phạm tội, biểu hiện dưới các dạng vật chất, hành động nhất định mà thông qua việc xem xét, chúng ta có căn cứ xác đáng để cho rằng có hành vi phạm tội chuẩn bị xảy ra trên thực tế và từ đó có các biện pháp ngăn chặn, xử lý tội phạm hiệu quả. Mặc dù tại giai đoạn này, hành vi phạm tội chưa thật sự diễn ra, chưa tác động, chưa làm biến đổi bất kỳ một mối quan hệ nào dù được luật hình sự bảo vệ hay các qui phạm pháp luật khác. Tuy nhiên nó đang đe dọa gây ra các thiệt hạị và việc xâm hại trực tiếp đến các chủ thể mà tội phạm hướng đến chắc chắn sẽ diễn ra trong khoảng thời gian sắp tới.

    Các biểu hiện của một tội phạm cụ thể tại giai đoạn chuẩn bị phạm tôi, ví dụ Tội giết người qui định tại Điều 123: Sau khi có suy nghĩ giết Ông A để trả thù vì tranh chấp đất đai với mình, Ông B bắt đầu tìm hiểu thông tin về gia đình nạn nhân (có bao nhiêu người, lịch trình làm việc của từng người….), mua dao, chuẩn bị vật dụng cứng khác để đoạt mạng nạn nhân, chuẩn bị bao tải, cuốc nhằm phi tang xác, vì biết nạn nhân hay lên làm rẫy một mình nên Ông B đã chuẩn bị nơi phục kích…..tất cả các thông tin tìm hiểu hay công cụ, phương tiên nêu trên mà Ông B thực hiện là nhằm tiến tới thực hiện hành vi giết Ông A. Và xem xét trong tổng thể các giai đoạn của tội phạm thì việc làm của Ông B là đang trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

    Chuẩn bị phạm tội chỉ xảy ra đối với các loại tội phạm thực hiện với lỗi cố ý vì vậy dù chưa diễn ra nhưng đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi xem xét chi tiết vào từng loại tội danh được nêu tại Bộ luật hình sự cũng như căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, độ tuổi của người thực hiện mà không phải giai đoạn chuẩn bị phạm tội của bất kỳ tội danh nào cũng được đưa ra để xem xét trách nhiệm hình sự. Khoản 2 Điều 14 đã chỉ đích danh các trường hợp cụ thể phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội như Điều 108 (Tội phản bộ tổ quốc), Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 110 (Tội gián điệp), Điều 111 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ), Điều 112 (Tội bạo loạn), Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 114 (Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), Điều 115 (Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội), Điều 116 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết), Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), Điều 118 (Tội phá rối an ninh), Điều 119 (Tội chống phá nơi giam giữ), Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 121 (Tội trốn đi ngước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củ người khác), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả), Điều 299 (Tội khủng bố), Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố), Điều 301 (Tội bắt cóc con tin), Điều 302 (Tội cướp biển), Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc giá), Điều 324 (Tội rửa tiền).

    Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự cho một trong các tội danh đã liệt kê bên trên, trường hợp chuẩn bị phạm tội cho các tội danh khác thì trách nhiệm hình sự không được đặt ra. Riêng đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự cho hai tội danh duy nhất là tội giết người qui định tại Điều 123 và tội cướp tài sản qui định tại Điều 168.

    Điều 15. Phạm tội chưa đạt

    Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

    Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

    Bình Luận

    Tội phạm sau khi hoàn tất các hoạt động cần thiết tại giai đoạn chuẩn bị thì sẽ chuyển tiếp đến việc thực hiện hành vi trên thực tế. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp tội phạm đều được thực hiện hoàn thành mà trong giai đoạn này tội phạm đã hoặc đang thực hiện nhưng vì một lý do nào đó mà không đạt được mục đích hay nói cách khác hậu quả xảy ra ngoài mong muốn của người phạm tội. Tại Điều này, chúng ta sẽ xem xét các dấu hiệu cấu thành hành vi phạm tội chưa đạt.

    Thứ nhất: Hành vi đã hoặc đang thực hiện

    Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp, nếu việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, thu thập thông tin…tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa cho các suy nghĩ, ý định phạm tội thì đến giai đoạn này lại là biểu hiện cho quyết tâm đến cùng của tội phạm. Ví dụ: Tội phạm giết người tại Điều 123 Bộ luật hình sự, người phạm tội đã dùng dao đâm nạn nhân hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nạn nhân….tất các các hành động này thể hiện tội phạm đang diễn ra, người phạm tội đang tác động, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Tội cướp tài sản tại Điều 168, người phạm tội đã dùng dao khống chế hoặc dùng dây trói nạn nhân hoặc các hành vi khác bằng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực làm nạn nhân không thể chống cự. Tất cả các hành động nói trên của người phạm tội nhằm đạt được mục đích cuối cùng của mình (ở tội giết người, người phạm tội đã dùng dao đâm hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nhằm gây cái chết cho nạn nhân; ở tội cướp tài sản, người phạm tội dùng dao khống chế, đe dạo nạn nhân…nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của nạn nhân).

    Thứ hai: Mục đích người phạm tội chưa đạt được

    Sở dĩ ở đây chúng ta không sử dụng cụm từ hậu quả để nói lên rằng tội phạm chưa đạt do hậu quả chưa xảy ra là hoàn toàn không chính xác. Có nhiều trường hợp hậu quả chính là mục đích, là cái mong muốn đạt được của người phạm tội khi thực hiện hành vi và ngược lại có khi hậu quả không phải là đích cuối cùng mà người phạm tội hướng đến. Trong bất kỳ trường hợp nào, một hành vi phạm tội dù chưa đạt hoặc hoàn thành đều để lại những hậu quả nhất định, tội giết người nêu trên hậu quả có thể là nạn nhân chết (phù hợp với mong muốn của người phạm tội) hoặc hậu quả là gây thương tích, ảnh hưởng đến đời sống bình thường sau này của nạn nhân như gây ra cảm giác sợ hãi, lo lắng…Do vậy ở mọi khía cạnh, góc độ dù hành vi phạm tội hoàn thành hay chưa đạt đều gây ra hậu quả cho nạn nhân, gia đình và xã hội.

    Dấu hiệu của tội phạm chưa đạt thể hiện rõ nét ở mục đích phạm tội. Và rõ ràng một khi chưa đạt được mục đích thì tội phạm đó đã cấu thành dấu hiệu tội phạm chưa đạt. Các trường hợp chưa đạt bao gồm:

    - Hậu quả trên thực tế không đồng thời là hậu quả mong muốn của người phạm tội (đã thực hiện tất các hành vi).

    - Hành vi khách quan đang diễn ra nhưng chưa dẫn đến hậu quả.

    Thứ ba: Tội phạm chưa đạt là ngoài ý muốn

    Xét về ý chí thì hành vi của người phạm tội phải được diễn ra theo đúng những gì họ mong muốn. Tức là hậu quả xảy ra trên thực tế phải khớp với hậu quả mong muốn của họ.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vì một lý do nào đó (có thể là nạn nhân chống cự, phát hiện và hỗ trợ của mọi người xung quanh, sự cố của công cụ, phương tiện…..) mà mục đích của người phạm tội vẫn chưa đạt được. Để phân biệt với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội qui định tại Điều 16 thì chúng ta phải xác định và làm rõ rằng tội phạm chưa đạt là ngoài mong muốn, còn biểu hiện về ý chí, quyết tâm thì người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng.

    Tại giai đoạn này, chúng ta cũng cần phải làm rõ thêm các hành vi trên thực tế của người phạm tội, biểu hiện ở việc thực hiện các hành vi khách quan. Xem xét người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi được cho là cần thiết để tội phạm hoàn thành hay chưa. Để có đánh giá chính xác thì phải nhìn nhận vào từng tội danh cho từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định. Ví dụ Tội giết người: trường hợp người phạm tội đã dùng súng bắn nhưng súng kẹt cò không nổ hoặc đã bắn nhưng đạn không trúng nạn nhân hoặc trường hợp đạn trúng nạn nhân nhưng nạn nhân không chết vì được phát hiện và cấp cứu kịp thời. Rõ ràng ví dụ nêu trên có hai trường hợp khác biệt:

    Thứ nhất: chưa thực hiện hết các hành vi khách quan.

    Thứ hai: đã thực hiện toàn bộ các hành vi khách quan cần thiết được cho là sẽ dẫn đến hậu quả như mong muốn của người phạm tội.

    Sự phân loại nêu trên là cần thiết và có ý nghĩa trong hoạt động truy tố, xét xử tội phạm, có liên quan và quyết định mức khung hình phạt phù hợp.

    Không giống giai đoạn chuẩn bị phạm tội, pháp luật hình sự qui định người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội phạm chưa đạt. Không có bất kỳ sự giới hạn tội danh bởi lẽ phạm tội chưa đạt là ngoài mong muốn của người phạm tội, và trên thực tế nó đã gây ra những hậu quả nhất định.

    Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

    Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

    Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

    Bình Luận

    Xét về bản chất thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nét tương đồng so với qui định về phạm tội chưa đạt ở điểm hậu quả mong muốn của người phạm tội không xảy ra. Tuy nhiên hậu quả không xảy ra là xuất phát từ ý chí từ bỏ thực hiện hành vi của người phạm tội chứ không phải là do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như chế định phạm tội chưa đạt. Dấu hiệu của việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được thể hiện đầy đủ qua các đặc điểm dưới đây:

    Thứ nhất: Người phạm tội tự mình chấm dứt hành vi phạm tội

    Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận biết, người phạm tội phải tự mình, bằng ý chí của mình chấm dứt không thực các hành vi khách quan ở giai đoạn tiếp theo giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc các hành vi khách quan khác cần thiết cho hậu quả xảy ra. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội còn được xem xét ở cả giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay nói cách khác là ở tất cả các khâu, quá trình trước khi hậu quả xảy ra.

    Nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hành vi phạm tội: Phải xuất phát tự sự tự nguyện và kiên quyết của người thực hiện hành vi mà không phải bị tác động bởi các bên thứ ba hay chủ thể, nguyên nhân nào khác. Ví dụ Tội giết người qui định tại Điều 123 Bộ luật hình sự, để giết Ông A, Ông B đã chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, công cụ, nắm bắt được lịch trình, thời gian lên rẫy của Ông B. Tuy nhiên sau đó Ông B suy nghĩ lại chỉ vì tranh chấp đất mà mình lại ra tay giết người, cảm thấy cắn rứt lương tâm nên đã dừng không thực hiện tiếp. Việc không tiếp tục thực hiện hành vi của Ông B trong trường hợp này được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

    Thứ hai: Không bị ngăn cản thực hiện hành vi

    Điều này có nghĩa, ngoài việc tự mình từ bỏ ý định thực hiện hành vi phạm tội thì không có bất kỳ điều gì có thể ngăn cản người phạm tội nếu họ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Nếu trong phạm tội chưa đạt thì ta có thể dễ dàng nhận thấy người phạm tội luôn tìm mọi cách, tạo mọi cơ hội điều kiện, vượt qua các rào cản để thực hiện hành vi của mình nhưng trong chế định này người phạm tội không hề mong muốn hậu quả xảy ra nên dừng hoặc tìm mọi cách để dừng hành vi phạm tội.

    Loại bỏ việc ngăn cản, hay dừng thực hiện hành vi là do tác động bởi yếu tố khác. Cụ thể nếu do người khác khuyên răn, ngăn cản, do bị phát hiện kịp thời, do vật cản…thì không được xem xét là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà đây được xem là phạm tội chưa đạt. Ví dụ: đêm khuya Ông A đang lẻn vào nhà giết Ông B nhưng chó sủa làm mọi người thức giấc…Đây là chúng ta xem xét hành vi phạm tội không có đồng phạm, vậy trường hợp có đồng phạm với tư cách là người tổ chức, xíu giục, thực hành, giúp sức thì mỗi đồng phạm được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi nào trong khi các đồng phạm khác vẫn cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Trong đồng phạm, việc đánh giá hành vi được thể hiện ở chỗ bản thân mỗi đồng phạm phải ngay lập tức tự chấm dứt vai trò của mình, đồng thời tìm mọi cách để ngăn chặn vai trò của đồng phạm khác

    Trách nhiệm hình sự: về nguyên tắc người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm. Tuy nhiên nếu các yếu tố cấu thành một tội danh khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh đó. Ví dụ: Để giết Ông B, Ông A đã mua một khẩu súng tuy nhiên sau đó không thực hiện hành vi nữa do nhận thấy cảm giác có lỗi, ray rứt lương tâm nếu giết Ông B. Việc tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội, Ông A không phải chịu trách nhiệm hình sự cho Tội giết người theo Điều 123, tuy nhiên với việc mua một khẩu súng, Ông A sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” hoặc “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” tùy thuộc vào loại súng mà Ông A đã mua.

    Việc đưa ra chế định “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” cùng với miễn trách nhiệm hình sự cho tội định phạm, thật sự là chính sách khoan hồng của Nhà nước, bao dung với người biết hối lỗi, nhận thức được sai lầm của mình.

    Điều 17. Đồng phạm

    1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

    2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

    3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

    Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

    Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

    Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

    Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

    4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

    Bình Luận

    1. Đồng phạm: Khái niệm đồng phạm được hiểu là việc thực hiện hành vi phạm tội khi có từ hai chủ thể trở lên và tất nhiên các chủ thể này phải có năng lực trách nhiệm hình sự. Các chủ thể cùng nhau thực hiện tội phạm một cách cố ý. Tuy nhiên với khái niệm cùng nhau thực hiện một tội phạm có thể dẫn đến nhiều cách hiểu gây nhầm lẫn mà phổ biến là cho rằng các chủ thể chỉ được xem là đồng phạm khi và chỉ khi cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp cùng thực hiện từ hai tội phạm trở lên thì không thỏa mãn yếu tố đồng phạm. Với cách hiểu như vậy là hoàn toàn chưa phù hợp với tinh thần pháp luật bởi lẽ một hành vi phạm tội chỉ được xem xét có đồng phạm hay không khi có ít nhất từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện một tội phạm. Các chủ thể này thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng giữa họ chỉ có duy nhất một tội phạm cùng thực hiện thì tất nhiên các hành vi phạm tội còn lại sẽ không tồn tại yếu tố đồng phạm. Chính vì vậy mà việc xem xét có tồn tại đồng phạm hay không phải được cân nhắc xem xét trên từng tội danh một để xác định và từ đó pháp luật mới đưa ra khái niệm: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm”.

    Về ý chí: các chủ thể đều nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặt cho hậu quả đó xảy ra. Như vậy giữa các chủ thể đều thống nhất và quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.

    Xét về tính chất nguy hiểm giữa cùng một tội danh có đồng phạm và không đồng phạm thì tính chất, mức độ của hành vi phạm tội có đồng phạm gây nguy hiểm cao cho xã hội cũng như các hậu quả mà nó gây ra không hề nhỏ. Các tội phạm này thường được thực hiện một cách tinh vi, khó phát hiện cũng như ngăn chặn… vì vậy mà khi xét xử các tội danh có đồng phạm thì trách nhiệm hình sự của các chủ thể được xem xét ở mức tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn so với cùng một tội danh được thực hiện riêng lẽ.

    “Điều 52 qui định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    1. Chỉ các tình tiết sau đây mới được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

    a) Phạm tội có tổ chức"

    2. Phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội có đồng phạm nhưng nguy hiểm hơn bởi có sự cấu kết chặt giữa những người đồng phạm. Tính cấu kết chặt chẽ biểu hiện ở việc phân hóa rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi đồng phạm từ khi tội phạm được hình thành cho đến khi kết thúc. Tính tổ chức của tội phạm được thể hiện:

    Biến tổ chức thành môi trường, vỏ bọc, công cụ cho việc thực hiện tội phạm. Tổ chức được các đồng phạm tạo lập ra khi bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc các đồng phạm tham gia vào một tổ chức, băng nhóm sẵn có. Ví dụ: các băng nhóm tội phạm hình thành chuyên đi cướp giật tại các khu vực trung tâm thành phố hoặc việc gia nhập vào băng đảng bảo kê, đòi nợ tại các quán bar, nhà hàng, khách sạn. Thông qua lý luận cũng như thực tiễn phòng chống tội phạm, các băng nhóm tội phạm hoạt động rất công khai, táo tợn, sẵn sàng tấn công bất kỳ ai có ý định can thiệp, chống trả, luôn có đầy đủ công cụ, phương tiện phạm tội…thậm chí có chủ trương, kế hoạch hoạt động. Tội phạm có tổ chức không chỉ tác động đến quan hệ bị xâm hại mà còn gây ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý xã hội.

    3. Các loại chủ thể trong đồng phạm: Với tính chất của đồng phạm là có sự tham gia của nhiều người, phân hóa nội dung công việc nên vai trò của các chủ thể được biểu hiện thông qua các đối tượng cụ thể sau đây:

    - Người tổ chức: đây là chủ thể có vai trò quan trọng, khơi mào cho tội phạm được thực hiện. Thể hiện ở việc khởi xướng, lập ra kế hoạch, đường lối, tập hợp, lôi kéo và phân công các thành viên hay nói cách khác người tổ chức là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tội phạm.

    - Người xúi giục là người tác động lên nhận thức hoặc ý chí của người khác nhằm tìm mọi cách để tội phạm được thực hiện, hiện thực hóa tội phạm trên thực tế.

    - Người thực hành là người trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan của tội phạm. Ví dụ: là người dùng dao đâm, dùng súng bắn, đẩy nạn nhân xuống nước… đối với tội giết người; là người dùng vũ lực như đánh, đấm, đâm nạn nhân, trói nạn nhân… đối với tội cướp tài sản…Chủ thể là người thực hành, chúng ta xem xét dưới hai khía cạnh hành động trực tiếp hoặc hành động thông qua một người khác:

    + Hành động trực tiếp: Người hành động tự chính mình thực hiện các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm như tự mình cầm dao đâm, tự mình dùng súng bắn nạn nhân…

    + Hành động thông qua người khác: Người khác được đề cập ở đây chính là các chủ thể không có năng lực trách nhiệm hình sự. Chẳng hạn dụ dỗ trẻ em dưới 14 tuổi vận chuyển heroin, lừa người khác đưa đồ ăn có chứa chất độc nhằm mục đích giết người. Trong trường hợp này, người xíu giục trẻ en vận chuyển heroin, người lừa đưa đồ ăn là người thực hành cho các tội danh liên quan.

    - Người giúp sức là người hỗ trợ tích cực, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tội phạm được diễn ra, biểu hiện:

    + Giúp sức về vật chất: Như chuẩn bị sẵn công cụ, phương tiện phạm tội, thăm dò trước hiện trường, lập sơ đồ vị trí hướng dẫn, chỉ điểm, thông tin về đối tượng, quan hệ chuẩn bị xâm hại…

    + Giúp sức về tinh thần: Như động viên người thực hành (gợi ý mức lợi nhuận khổng lồ khi vận chuyển thành công heroin với số lượng lớn), hứa hẹn về việc che giấu tội phạm, các lợi ích…

    Điều 18. Che giấu tội phạm

    1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

    2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

    Bình Luận

    Che dấu tội phạm có được xem là đồng phạm hay không? Xem xét qui định tại Điều 17 về đồng phạm và các yếu tố cấu thành đồng phạm, chúng ta đã được hiểu rõ các dấu hiệu của nó. Tuy nhiên đối với hành vi che dấu tội phạm có sự khác biệt cơ bản ở những đặc điểm sau:

    - Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên trừ đối tượng che dấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiện hình sự, đây là các đối tượng có mối quan hệ mật thiết với người phạm tội về huyết thống, hôn nhân mà pháp luật hình sự đã loại họ ra khỏi chủ thể của tội danh này. Việc loại bỏ xuất phát từ văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta. Tuy nhiên đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng qui định tại Điều 389 thì các chủ thể đặc biệt này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự mà không có bất kỳ sự ngoại lệ nào.

    - Sau khi một tội phạm khác đã hoàn thành: có sự tách biệt rõ ràng giữa các tội danh với các chủ thể độc lập. Đây chính là đặc điểm để phân biệt sự khác nhau giữa hành vi che dấu tội phạm và đồng phạm. Người phạm tội sau khi biết được một tội phạm đã được thực hiện, thay vì tố giác thì họ lại thực hiện các hành vi với mục đích nhằm che dấu tội phạm. Đây chính là sự giúp sức để một tội phạm né tránh việc bị phát hiện và xử lý theo qui định của pháp luật và tất nhiên việc giúp sức này không phải xuất phát do sự hứa hẹn trước đó mà nó chỉ xuất hiện vào thời điểm tội phạm đã được thực hiện. Nếu có sự hứa hẹn hoặc phân công trước đó thì đây là đồng phạm với vai trò giúp sức của tội phạm đã thực hiện.

    - Biểu hiện của hành vi:

    + Che dấu người phạm tội: cho người phạm tội ẩn náu trong nhà mình hoặc một nơi nào khác hoặc biết người phạm tội đang ở đâu nhưng không khai báo và tìm mọi cách che dấu để người khác không biết được.

    + Che dấu dấu vết, tang vật của tội phạm: tương tự việc che dấu người phạm tội thì chủ thể của tội danh này cũng tìm mọi cách để ngăn chặn sự tiếp xúc của đối tượng thứ ba.

    + Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm: thể hiện ở các hành vi như cố tình cung cấp các thông tin sai sự thật, xóa bỏ dấu vết của tội phạm, tiêu hủy các công cụ, phương tiện tội phạm…

    Hành vi đồng phạm của người phạm tội là thể hiện sự xem thường pháp luật, chủ thể của hành vi không đấu tranh chống tội phạm mà lại góp phần che dấu, khuyến khích tội phạm thực hiện trên thực tế. Do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự tương thích và một phần răn đe những ai có định ý bao che cho tội phạm.

    Điều 19. Không tố giác tội phạm

    1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

    2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

    Bình Luận

    Nếu che dấu tội phạm chỉ được thực hiện sau khi một tội phạm đã được thực hiện trên thực tế thì hành vi không tố giác tội phạm xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào của tội phạm từ giai đoạn chuẩn bị cho đến đang thực hiện hoặc đã thực hiện. Để phân biệt được với đồng phạm, che dấu tội phạm thì hành vi cấu thành tội danh này hoàn toàn được biểu hiện dưới dạng không hành động.

    Chủ thể: bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên. Chủ thể là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm được qui định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Biểu hiện: ở dạng không hành động. Ví dụ: mặc dù trước đó A đã được B thông báo rằng B sẽ giết C vào tối mai (A hoàn toàn có cơ sở để xác định lời nói của B là có thật, hành vi của B chắc chắn sẽ diễn ra vì trước đó giữa B và C đã có cuộc ẩu đã, tạo tư thù cộng với bản tính giang hồ của B), tuy nhiên A đã không thông báo cho cơ quan chức năng về hành động sắp diễn ra của B và hậu quả là B đã giết C. Sự không hành động thể hiện sự phó mặc cho hậu quả xảy ra của người phạm tội, thể hiện sự vô tâm, hờ hững trước các quan hệ xã hội chuẩn bị bị hành vi phạm tội xâm hại. Không phải trong mọi trường hợp, việc không hành động của một người đều cấu thành và bị bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh không tố giác tội phạm theo Điều 390 Bộ luật hình sự. Chỉ cấu thành tội danh khi thỏa mãn đồng thời các yếu tố sau:

    - Phải biết rõ tội phạm đang diễn ra: Việc biết không vẫn chưa đủ mà điều luật qui định một người phải biết rõ, nghĩa là họ hoàn toàn có cơ sở để xác định rằng có tội phạm nếu không ngăn chặn kịp thời thì sẽ gây ra các hậu quả trên thực tế. Ví dụ: A nghe thông tin từ B nói rằng hình như thằng C đang nhận vận chuyển ma túy với số lượng lớn từ Lào vào Việt Nam. Trong khi đó từ trước đến giờ, C là một thanh niên chăm chỉ, sống tình cảm với mọi người xung quanh, hiếu thảo với cha mẹ và đang có công việc ổn định với vị trí nhân viên văn phòng… thì không có lý do gì mà A lẫn B tin rằng C sẽ thực hiện công việc nguy hiểm này để đánh đổi cả mạng sống của mình. Nhưng trên thực tế C lại thực hiện theo đúng những gì mà A và B biết được, tuy nhiên trong trường hợp này hoàn toàn không có căn cứ để cho rằng A, B không tố giác tội phạm.

    - Có điều kiện để thực hiện hành động tố giác tội phạm: Điều này có nghĩa việc tố giác tội phạm không bị cản trở, ngăn cản. Nếu một người sau khi nắm bắt chắc chắn thông tin hoặc có căn cứ xác đáng tội phạm đang diễn ra nhưng không có điều kiện, cơ hội.. để tố giác thì hành vi của họ cũng không đủ yếu tố cấu thành tội danh tại Điều 390. Trở lại ví dụ trên, mặc dù C là con người như thế nhưng A và B đều có căn cứ chính xác cho hành vi sắp tới của C như nghe trộm được thông tin trao đổi của C với bên giao ma túy và biết được số lượng, địa điểm giao hàng…nhưng C lẫn bên giao hàng đe dọa sẽ giết A, B và người thân của họ nếu như A, B tố giác hành vi. Do vậy việc không hành động của A, B nếu có cũng không được xem xét là hành vi khách quan của tội phạm.

    Điểm mới của Bộ luật hình sự hiện hành so với Bộ luật hình sự 1999 là việc bổ sung thêm một đối tượng là chủ thể của hành vi không tố giác tội phạm. Chủ thể này có điểm đặc biệt chính là người bào chữa, pháp luật qui định trong quá trình thực hiện việc bào chữa mà phát hiện hoặc có căn cứ xác đáng cho rằng người được bào chữa chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội tại chương III (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mà người bào chữa không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên cũng cần xem xét qui định này đã thực sự phù hợp hay chưa? Việc các nhà làm luật viện dẫn qui định cho rằng mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, và dẫn chiếu đến vấn đề bình đẳng trong việc tố giác tội phạm là thật sự chưa phù hợp. Xuất phát từ đặc thù của luật sư với tư cách là người bào chữa cho thân chủ của mình và đây cũng chính là nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề luật nên việc buộc luật sư phải tố giác ngược lại thân chủ là một điểm thụt lùi trong chính sách cho dù tội danh của thân chủ được xem xét dưới khía cạnh nào, xâm phạm đến các mối quan hệ nào đi nữa. Có hay chăng chỉ qui định quyền được cung cấp, tiết lộ thông tin khi có căn cứ cho rằng thân chủ mình đang bào chữa chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đã thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên. Luật sư chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ và cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự cho các trường hợp này. Chúng ta chỉ đặt ra nghĩa vụ tố giác tội phạm của luật sư là bình đẳng với mọi công dân khác khi và chỉ khi đối tượng đó không phải là thân chủ/người được bào chữa của Luật sư.

    Chương IV: NHỮNG TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

    Cấu thành tội phạm bao gồm 4 yếu tố: Chủ quan, khách quan, chủ thể, khách thể.Trong mỗi yếu tố lại bao gồm nhiều yếu tố nhỏ khác nữa trong đó có yếu tố bắt buộc phải có ở tất cả các loại tội phạm có các yếu tố không bắt buộc phải có và chỉ cần thiếu ít nhất là 1 yếu tố đã nêu thì sẽ không thể cấu thành tội phạm.

    Những trường hợp sau đây là những trường hợp không thỏa mãn tất cả các yếu tố của cấu thành tội phạm (tự thân hoặc do pháp luật quy ước) do đó được loại trừ trách nhiệm hình sự. So với Bộ Luật hình sự cũ thì Bộ Luật này đã bổ sung thêm 3 Điều (24,25,26) được quyền loại trừ trách nhiệm hình sự.

    Điều 20. Sự kiện bất ngờ

    Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận

    Trong Điều luật này chính mặt khách quan đã không được thỏa mãn. Cụ thể mặt khách quan bao gồm các yếu tố: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm đó và mối quan hệ nhân quả giữa chúng... Trong đó, hành vi nguy hiểm là bắt buộc phải có ở tất cả các loại tội phạm.

    Điều luật này có thể được phân tích như sau để dễ dàng nắm bắt nội dung hơn:

    Điều kiện giả định bao gồm:(1) hành vi gây hậu quả nguy hại + (2) không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả

    Hệ quả: Không phải chịu trách nhiệm hình sự

    Phần hệ quả đã quá rõ ràng nên sau đây tác giả chỉ tập trung phân tích (1) (2)

    (1) Hành vi gây hậu quả nguy hại

    Lưu ý rằng đây là hành vi gây hậu quả nguy hại chứ không phải là hành vi nguy hiểm như trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm. Tác giả nhấn mạnh nội dung này vì bản chất của chúng là khác nhau và hậu quả pháp lý cũng vậy. Hành vi gây hậu quả nguy hại, tức nhà làm luật chú trọng và tập trung vào cái hậu quả nguy hại chứ không phải là hành vi. Hành vi gây nguy hại có thể là những hành vi hợp pháp hoặc hành vi bất hợp pháp. Nghe có vẻ phi lý vì sao hành vi hợp pháp nhưng lại có thể gây nguy hại được và sự kiện bất ngờ là một minh chứng rõ ràng nhất.

    Ví dụ: A đang lưu thông trên đường đúng quy định của pháp luật giao thông đường bộ (làn đường, tốc độ di chuyển và các biện pháp an toàn khác…) (hành vi hợp pháp), bỗng nhiên có 1 người xuất hiện đột ngột trước đầu xe với khoảng cách gần đến mức không thể xử lý việc dừng xe, do đó đã tông người này và người này tử vong ngay lập tức (hậu quả nguy hại). Như vậy chúng ta có thể thấy rất rõ người điều khiển phương tiện đã thực hiện một hành vi hợp pháp nhưng lại gây ra một hậu quả nguy hại cho xã hội.

    Như vậy một câu hỏi đặt ra nếu hành vi đó phạm pháp gây hậu quả nguy hại và thỏa mãn điều kiện (2) thì có loại trừ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi hay không? Câu trả lời là không. Bởi lẽ, không có hành vi phạm pháp luật hình sự nào mà chủ thể đó không nhận thấy trước được hậu quả có thể xảy ra và pháp luật cũng không bắt buộc họ phải nhìn thấy trước, bản chất của hành vi vi phạm đã hàm chứa trong nó về một hậu quả nguy hại cho xã hội. Vì thế có thể hiểu hành vi trong trường hợp trên là hành vi hợp pháp.

    (2)Không thể thấy trước hậu quả hoặc không bắt buộc phải nhìn thấy trước hậu quả. Vẫn với ví dụ trên, chúng ta thấy rằng việc người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đúng với các quy định của pháp luật giao thông thì không có lý do gì để anh ta có thể thấy hậu quả của việc chết người xảy ra từ việc lái xe đúng quy định của mình và pháp luật cũng không bắt buộc anh ta phải thấy, lường trước hậu quả có một người nào đó lại bỗng nhiên xuất hiện trước đầu xe để rồi gây ra hậu quả chết người.

    Phân tích thêm một chút để chúng ta hiểu thêm về trường hợp pháp luật bắt buộc phải nhìn thấy trước hậu quả:

    Trong một số trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng ý chí chủ quan của người đó không nhận thấy trước hậu quả có thể xảy ra từ hành vi nguy hiểm của mình. Ví dụ: B giăng bẫy điện dân dụng để diệt chuột tại nơi đông dân cư qua lại thường xuyên. Trong trường hợp này có thể B không thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra khi bị giật điện nhưng pháp luật bắt buộc B phải thấy được điều này. Nếu hậu quả chết người xảy ra thì đã thỏa mãn yếu tố mặt khách quan (hành vi nguy hiểm), nếu thỏa mãn các yếu tố cầu thành còn lại thì B phải chịu trách nhiệm hình sự của hành vi giăng điện bẫy chuột này.

    Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận

    Điều luật trên được trình bày giản tiện lại để dễ phân tích:

    Điều kiện giả định:(1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội  +(2) mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác =>(3) làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi

    Hậu quả:Không phải chịu trách nhiệm hình sự

    Dễ dàng để nhận thấy đây là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự do không thỏa mãn được yếu tố mặt chủ thể trong cấu thành tội phạm. Cụ thể là chủ thể đã không đáp ứng được điều kiện “..do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện…”. Cụ thể:

    (1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội: Hành vi nguy hiểm ở đây được hiểu là những hành vi có thể hoặc đã gây tổn hại đến các mối quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Nói cách khác, hành vi đó phải là hành vi thuộc mặt khách quan của ít nhất một tội được quy định cụ thể trong Bộ Luật này. Đây là tiền đề để dẫn nhập vào các nội dung sau, bản thân nó không có giá trị trong việc có loại trừ trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi hay không và dấu hiệu hành vi khách quan này không phải là mấu chốt của vấn đề.

    (2)Trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác: Đầu tiên cần phải chú ý đến cụm “trong khi đang”. Trước tiên cần xác định như thế nào là đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác. Cơ sở nào để xác định một ai đó có đang mắc bệnh tâm thần hay không? Có 2 trường hợp có thể xảy ra

    Trường hợp 1: Người đó đã có Giấy xác nhận của cơ quan Y tế có thẩm quyền về bệnh tâm thần đang mắc phải và (hoặc) tuyên bố mất năng lực hành vi của Tòa án.

    Trường hợp 2: Chưa có bất kỳ một giấy tờ nào từ cơ quan có thầm quyền chứng minh tình trạng bệnh lý của người thực hiện hành vi.

    Trường hợp 1 thông thường sẽ rất dễ dàng trong việc xác định người đó có bị mắc bệnh tâm thần hay không, tuy nhiên trong trường hợp 2 thì việc này sẽ trở nên khó khăn hơn khi phải tiến hành việc giám định bệnh tâm thần sau khi hành vi đã được thực hiện trong thực tế. Và cái khó khăn nhất là làm rõ được 2 chữ “trong khi”. Ngành Y học đã chứng minh có một số bệnh tâm thần mà biểu hiện của bệnh lý không diễn ra một cách liên tục, cái mà nhân gian hay gọi 3 hồi tỉnh 3 hồi say nghĩa là mặc dù bị mắc bệnh nhưng tỉnh thoảng họ vẫn tỉnh táo nhận thức một cách bình thường. Đối chiếu theo đúng quy định của điều luật trong trường hợp đó họ sẽ không được loại trừ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên thực tế để xác định việc có loại trừ hay không trong những trường hợp này rất khó khăn. Và điều luật này cũng nhiều lần bị lợi dụng nhằm trốn tránh trách nhiệm bằng cách xin giấy chứng nhận bị bệnh tâm thần mà báo chí hay gọi là kim bài miễn tử.

    (3)Làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi:mục (2) chỉ là điều kiện cần mà thôi, để đảm bảo điều kiện đủ, bệnh tâm thần hay bệnh khác nào đó phải  dẫn đến mất khả năng nhận thức (không thể biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội) hoặc mất khả năng điều khiển hành vi (vẫn ý thức được nhưng không thể điều khiển được do bệnh lý – thông thường là các bệnh liên quan đến hệ thần kinh vận động). Lưu ý ở đây là mất chứ không phải là hạn chế, nghĩa là trường hợp hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi thì vẫn không thuộc trường hợp được loại trừ theo quy định tại điều luật này mà hạn chế đó có thể được dùng làm căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    Điều 22. Phòng vệ chính đáng

    1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

    Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

    2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

    Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

    Bình luận

    Trước tiên cần làm rõ như thế nào là phòng vệ chính đáng theo định nghĩa tại Khoản 1 của Điều luật. Ngay tên của Điều luật cũng đã cho chúng ta thấy rằng có 2 vấn đề lớn ở đây đó là Phòng vệ và Chính đáng. Vì sao nhà làm luật không dùng từ Tự vệ mà là Phòng vệ? Tự vệ có nghĩa là tự bản thân bảo vệ cho chính mình, tự vệ chỉ dùng trong trường hợp bản thân người đang có hành vi chống trả bị xâm phạm. Trong trường hợp lợi ích của người khác bị xâm hại mà một cá nhân nào đó thực hiện hành vi chống trả thì hành vi này không còn được xem là tự vệ nữa mà nó đã chuyển sang phòng vệ (phòng ngừa và bảo vệ), nội hàm của hành vi phòng vệ rộng hơn tự vệ rất nhiều. Quyền và lợi ích chính đáng đang bị xâm hại mà nhà làm luật khuyển khích bảo vệ vượt ra ngoài phạm vi của một cá nhân nào đó, nghĩa là pháp luật không chỉ khuyến khích tự bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình mà còn khuyến khích bảo vệ quyền và lợi ích của người khác. Vậy nên dùng từ phòng vệ ở đây là chính xác và nội hàm đủ rộng để thể hiện tính mục đích của điều luật.

    Tiếp theo chúng ta cùng tìm hiểu như thế nào là chính đáng, điều luật không định nghĩa như thế nào là chính đáng mà chỉ mô tả như thế nào là phòng vệ chính đáng. Tách câu chữ ra, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ý chí của nhà làm luật thông qua cách hành văn và có thể hiều chính đáng = cần thiết.Tuy nhiên có một vấn đề rất đáng để chúng ta và những người áp dụng luật pháp phải lưu tâm đó là chính đáng và cần thiết đều là những yếu tố mang tính chất định tính, nó phụ thuộc rất lớn vào ý chỉ chủ quan của người nhận diện và đánh giá tình huống. Có thể theo người có hành vi chống trả thì cho rằng nó cần thiết nhưng người bị chống trả và cơ quan xét xử không cho là như vậy và ngược lại.

    Khoản 2 quy định thêm 2 yếu tố, tạm gọi là 2 căn cứ để góp phần “định lượng” được sự cần thiết đó là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì phần nào chúng ta có thể xác định được dựa vào phân loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng). Việc này giúp cho việc định tính sự cần thiết trở nên giảm định tính hơn nhưng không thể giải quyết triệt để vấn đề. Do vậy nhà làm luật đã rất cẩn trọng và quy định trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là “rõ ràng” vượt quá mức cần thiết. Nghĩa là việc nhận thấy sự quá mức đó rất dễ nhận ra và tuyệt đại đa số đều thấy được điều đó.

    Thoáng nhìn chung ta sẽ cảm nhận rằng Khoản 1 và Khoản 2 bổ trợ cho nhau (nếu không thuộc Khoản 1 thì thuộc Khoản 2 và ngược lại). Tuy vậy phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy có một phần khá nhập nhằng ở 2 Khoản này

    Khoản 1:…một cách cần thiết…

    Khoản 2:…rõ ràng quá mức cần thiết…

    Như vậy đối với trường hợp vượt quá mức cần thiết nhưng chưa đến mức rõ ràng (dễ dàng) nhận ra thì sẽ áp dụng Khoản 1 hay Khoản 2, bởi lẽ ranh giới giữa phạm tội trong lúc này là rất mong manh.Và theo quan điểm của tác giả trong trường hợp này chúng ta sẽ áp dụng Khoản 1 theo nguyên tắc có lợi hơn cho người phạm tôi. Nghĩa là cơ quan công tố buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh sự rõ ràng quá mức cần thiết này, nếu không chứng minh được thì bắt buộc phải hiểu người có hành vi chống trả đã chống trả một cách cần thiết.

    Một vấn đề nữa cũng cần phải chú ý đó là đối tượng chịu tác động phải là người đang có hành vi xâm phạm.Đây không phải là sự cẩn thận quá thừa của nhà lập pháp khi ai cũng biết rằng chống trả thì đương nhiên là chống trả lại người đang thực hiện hành vi vi phạm. Tuy nhiên trong thực tế hành vi chống trả này có thể ảnh hưởng đến nhiều người khi sử dụng công cụ, phương thức có phạm vi tác động rộng, hoặc có thể chống trả nhầm đối tượng

    Ví dụ 1: Vì muốn chống trả lại người đang hiếp dâm mình, C đã thực hiện hành vi xả bình khí độc ngay cạnh đó và cách làm này đã gây thương vong nghiêm trọng cho một số người khu vực xung quanh. Hành vi chống trả này đã vượt ra ngoài chủ thể thực hiện hành vi xâm hại, đã gây phương hại đến các chủ thể khác.

    Ví dụ 2: Thấy D đang bị bọn cướp tấn công bằng dao và không có khả năng chống trả, E đã rút súng nhằm vào bọn cướp mà bắn, tuy nhiên do trong bối cảnh hoản loạn, E đã bắn đúng vào D gây tử vong tại chỗ. Trường hợp này E đã không chống trả lại người đang xâm hại mà đã chống trả nhầm vào nạn nhân bị xâm hại do đó không thỏa mãn điều kiện phòng vệ chính đáng.

    Điều 23. Tình thế cấp thiết

    1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

    Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

    2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận

    Về cấu trúc điều luật cách sắp xếp quy phạm của Điều luật này khá tương đồng với Điều luật về phòng vệ chính đáng. Chúng ta sẽ cùng phân tích điều luật này Tình thế + cấp thiết:

    Nếu như Điều luật về phòng vệ chính đáng chú trọng đến tính chính đáng và giới hạn của sự cần thiết thì điều luật về tình thế cấp thiết này lại chú trọng đến tính cấp thiết và thiệt hại gây ra của hành vi. Cụ thể, sự cấp thiết ở đây đã đến mức đưa người thực hiện hành vi vào tình thế - đúng nghĩa đen – không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây ra một thiệt hại. Thông thường việc gây ra thiệt hại là một hành vi vi phạm pháp luật có thể là hình sự, nhẹ hơn là hành chính hay nhẹ hơn nữa là dân sự nhưng trong trường hợp này hành vi gây thiệt hại đó không phải là hành vi vi phạm NẾU thiệt hại đã gây ra nhỏ hơn thiệ hại cần ngăn ngừa.

    Như vậy điều kiện cần (1) chủ thể thực hiện hành vi đã không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây thiệt hại và điều kiện đủ (2) thiệt hại đó phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì khi đó chủ thể sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự (thông thường là các tội phạm liên quan đến khách thể là quan hệ sở hữu như tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản, chiếm hữu sử dụng tài sản trái phép v.v…)

    Ví dụ: Vì muốn ngăn chặn đám cháy đang lây lan trong dãy dân cư liền nhau F bắt buộc phải đập nhà anh G để ngăn đám cháy lại. Trường hợp này có thể thấy F đã không còn sự lựa chọn nào khác và thiệt hại xảy ra đối với nhà anh G rõ ràng nhỏ hơn thiệt hại của cháy nhà của cả khu dân cư do đó hành vi của F thỏa dấu hiệu của tình thế cấp thiết và sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.

    Tuy nhiên 2 Khoản trên của điều luật đã bỏ ngỏ trường hợp thiệt hại đã gây ra bằng với thiệt hại cần ngăn ngừa.

    Khoản 1 “…gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa…”

    Khoản 2 “…thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết…”

    Sẽ là lý tưởng và tuyệt đối nếu thiệt hại đã gây ra = thiệt hại cần ngăn ngừa (do vậy nhà làm luật không quy định trường hợp này cũng là điều dễ hiểu). Thiệt hại đã gây ra thì có thể cân đo đong đếm được nhưng thiệt hại cần ngăn ngừa (chưa xảy ra) thì rất khó để xác định và trong một số trường hợp gần như là không thể xác định được.

    Do đó vẫn theo quan điểm áp dụng quy định theo hướng có lợi cho người phạm tội thì trong những trường hợp không thể xác định được hoặc xác định được nhưng cán cân thiệt hại đã gây ra và thiệt hại cần phòng ngừa tương đương nhau thì sẽ áp dụng theo hướng áp dụng tình thế cấp thiết. Trong trường hơp muốn áp dụng quy định tại Khoản 2 cơ quan công tố phải có nghĩa vụ chứng minh.

    Sau khi phân tích Điều 22 Phòng vệ chính đáng và Điều 23 Tình thế cấp thiết chúng ta có thể thấy được quan điểm lập pháp của nhà làm luật. Một mặt trao quyền và khuyển khích công dân chủ động thực hiện quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và của người khác nhưng để đảm bảo việc sử dụng quyền này không bị lạm dụng khi thực hiện nhà làm luật cũng đã dự liệu luôn trường hợp vượt quá quyền thì sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự mặc dù mức hình phạt sẽ có phần nhẹ hơn so với phạm tội trong trường hợp thông thường.

    (Còn nữa…)

    Nguồn tài liệu được cập nhật từ Uselaw

     
    11516 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #483741   30/01/2018

    leenguyens
    leenguyens

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2012
    Tổng số bài viết (14)
    Số điểm: 205
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 5 lần


    cảm ơn bạn, bạn có thể up tiếp theo được không bạn

    091234.2086

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn leenguyens vì bài viết hữu ích
    chiakinguyen (05/02/2018) chuc21ppt (18/05/2018)
  • #484409   05/02/2018

    chiakinguyen
    chiakinguyen
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/06/2016
    Tổng số bài viết (182)
    Số điểm: 3874
    Cảm ơn: 76
    Được cảm ơn 203 lần


    Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

    1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

    2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận

    Đây là một trong ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà Bộ Luật hình sự mới đã mở rộng thêm so với quy định tại các Bộ Luật hình sự cũ.

    Một lần nữa kỹ thuật lập pháp tại Điều luật này cũng không hề khác so với Điều 22 và Điều 23 mỗi điều đều bao gồm 2 khoản, Khoản 1 sẽ quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, Khoản 2 thì vẫn chủ thể gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm nếu hành vi gây thiệt hại đó rõ ràng vượt quá mức cần thiết. Như tác giả đã phân tích ở 2 điều luật trước đó, quy định như hiện tại sẽ tạo ra 1 lỗ hổng pháp lý khi nếu hành vi gây thiệt hại nằm dưới mức rõ ràng quá mức nhưng lại trên mức cần thiết. Trong trường hợp này, khác với quan điểm ở 2 điều luật trên tác giả không ủng hộ áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nghĩa là sẽ áp dụng Khoản 1 thay vì Khoản 2. Tác giả sẽ làm rõ hơn ở phần sau cùng của bình luận.

    Tóm ý nội dung Khoản 1 bao gồm các thành phần sau:

    Chủ thể: Người để bắt giữ

    Hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

    Ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện

    Hệ quả: Không phải là tội phạm.

    Đầu tiên là vấn đề chủ thể: Hãy xem xét đến chủ thể thực hiện thực hiện hành vi bắt giữ trong điều luật này đó là “người”. Như vậy chủ thể ở đây có phải là bất cứ người nào hay không?Câu trả lời là không. Chúng ta cần phải phân định rõ việc này vì không phải ai cũng đương nhiên có quyền hoặc được trao quyền để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội.

    Điều kiện cần đầu tiên để thỏa mãn dấu hiệu của Khoản 1 là người đó phải được quyền bắt giữ và đó là những ai thì phải căn cứ quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.

    Một cách sơ lược có thể hiểu chỉ có một số cá nhân, tổ chức có thẩm quyền được trao quyền bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội theo trình tự thủ tục luật định (tạm gọi là người của cơ quan công quyền). Tuy nhiên trong trường hợp phạm tội quả tang thì chủ thể được quyền bắt giữ không còn bị giới hạn, nghĩa là bất cứ ai cũng được quyền bắt giữ một người đang phạm tội quả tang (tạm gọi là công dân).Như vậy chủ thể thuộc pham vi điều chỉnh của Điều 24 không phải là một chủ thể đặc biệt mà là bất kỳ người nào thực hiện hành vi bắt giữ (phải hiểu ở đây là được quyền bắt giữ theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự).

    Tiếp theo đến hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

    Đến đây tiếp tục một lần nữa từ cần thiết được sử dụng và đây là một từ mang tính định tính rất cao, phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của người thực hiện việc sử dụng vũ lực và đôi khi là của người thuộc cơ quan điều tra, truy tố xét xử nếu hành vi đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thiệt hại xảy ra cho người bị bắt giữ thông thường sẽ là những thiệt hại về sức khỏe, nhẹ có thể ở mức gây thương tích, nặng có thể dẫn đến gây tử vong, bên cạnh đó có thể là những thiệt hại về tài sản kèm theo như đang thực hiện hành vi cướp giật, bị truy đuổi và bị đạp ngã xe gây thiệt hại về người và tài sản.

    Sau cùng là ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện. Không còn cách nào khác ở đây sẽ rõ ràng và có căn cứ hơn đối với những người thuộc cơ quan công quyền vì quy trinh bắt giữ đã được quy định rất rõ trong hoạt động nghiệp vụ riêng. Tuy nhiên đối với chủ thể bắt giữ là công dân thì việc xác định không còn cách nào khác hay vẫn còn cách nào khác là một việc rất khó để xác định trong bối cảnh bắt giữ người phạm tội quả tang, tính cấp thiết của viêc bắt giữ đặt ra rất nhanh trong khi họ không có chuyên môn nghiệp vụ để phán đoán và đưa ra cách hành xử đúng đắn nhất, do đó nguy cơ nhóm chủ thể này dễ vượt quá quy định tại Khoản 1 để rơi vào Khoản 2, tức là phải chịu trách nhiệm hình sự sẽ cao hơn.

    Quy định trên là một quy định mới cho thấy phần nào việc gây thiệt hại cho người bị bắt giữ (đa phần là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng) ở một mức độ cần thiết là hành vi hợp pháp nếu thỏa mãn các điều kiện còn lại. Dù là quy định mới nhưng tác giả không cho rằng đó là một tiến bộ. Bởi lẽ khách thể bị tác động đến là sức khỏe tính mạng chứ không chỉ đơn thuần như là những thiệt hại về tài sản như trong tình thế cấp thiết. Minh chứng rất rõ trong những thời gian qua có hàng loạt những hành vi sử dụng vũ lực một cách khá tự do gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậm chí là tính mạng của những người phạm tội quả tang như trộm chó. Rất nhiều những người trộm chó đã bị đánh đến tử vong. Bên cạnh đó có rất nhiều những vụ án oan sai xuất phát từ việc bức cung, ép cung, dùng nhục hình đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của cơ quan công quyền và gây thiệt hại về Ngân sách nhà nước bởi những khoản tiền bồi thường lên đến hàng chục tỉ đồng. Hiện trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng một phần không nhỏ là do sự lạm dụng quyền sử dụng vũ lực để bắt giữ khi cho rằng điều đó là cần thiết và không còn cách nào khác. Thực sự, khung pháp lý cho vấn đề này rất yếu, lỏng lẻo dễ tạo cơ hội để những người bắt giữ gây thiệt hại cho người bị bắt giữ nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự, đặc biệt là những người thuộc cơ quan công quyền vì họ rất dễ để chứng minh cho sự cần thiết của việc sử dụng vũ lực đó.

    Một vấn đề rất quan trọng là người bị bắt giữ chưa phải là người phạm tội cho đến khi có bản án có hiệu lực thi hành (theo nguyên tắc suy đoán vô tội) vì thế cho nên họ có quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tài sản v.v…Điều luật trên xét ở một khía cạnh nào đó đã làm cho việc tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội bị ảnh hưởng ít nhiều. Tâm lý của người bắt giữ cũng sẽ thoải mái hơn trong việc sử dụng vũ lực thay vì phải cân nhắc thật kỹ lưỡng như trước đây.

    Điều 25. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

    Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

    Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận

    Đây là trường hợp mới được đưa vào danh sách những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo đánh giá chủ quan đây là một trường hợp thể hiện rất sâu sắc tinh thần vực dậy thúc đẩy nền kinh tế của đất nước chúng ta. Có thể thấy chính sách kinh tế đã ảnh hưởng không chỉ đến hệ thống các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự thương mại mà còn ảnh hưởng cả đến những quy định của pháp luật hình sự. Trong phát triển kinh tế việc đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới là điều tất yếu và có thể nói là ưu tiên hàng đầu đối với Việt Nam một đất nước mà cơ cấu thành phần kinh tế vẫn đang phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy (chưa áp dụng được nhiều những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại), công nghiệp và dịch vụ còn nhiều hạn chế. Chúng ta đều biết đã là nghiên cứu, thử nghiệm thì khả năng rủi ro rất cao đôi khi phải trả giá bằng chính sức khỏe thậm chí là mạng sống của con người như việc nghiên cứu chế tạo các loại thuốc, vắc xin mới trong lĩnh vực y tế v.v…Do đó nguy cơ chủ thể thực hiện những nghiên cứu thử nghiệm xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là đúng.

    Tuy nhiên điều luật trên vẫn còn một vài điểm chưa ổn cần phải làm rõ:

    Thứ nhất: Tên điều luật và nội hàm quy định tại Khoản 1 không thống nhất. Cụ thể Điều 25 chỉ nêu …nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệtrong khi đó Khoản 1 lại quy định…nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới… Vậy một câu hỏi đặt ra mới ở đây là mới hoàn toàn hay chỉ cần có yếu tố mới? và nếu nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ không mới thì có thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 25 hay không?

    Câu hỏi thứ hai, ranh giới giữa được loại trừ trách nhiệm và không loại trừ trách nhiệm đó là việc người thực hiện đã áp dụng đúng quy trình, quy phạm, đầy đủ biện pháp phòng ngừa hay chưa? Vậy trong trường hợp bản thân quy trình không đảm bảo, vốn dĩ đã có khiếm khuyết thì người thực hiện đã áp dụng đúng nhưng vẫn gây ra thiệt hại thì có được miễn trách nhiệm hay không, thêm vào đó vấn đề trách nhiệm của những người ban hành quy trình quy phạm khiếm khuyết đó ở chỗ nào?

    Hai câu hỏi trên bản thân tác giả hay bạn đọc cũng khó mà đưa ra một câu trả lời hợp lý nhất. Vậy nên đành chờ hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền hoặc sửa đổi nếu có của các nhà lập pháp.

    Điều 26. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

    Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.

    Bình luận

    Đây là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự cuối cùng được thêm vào trong Bộ Luật hình sự này so với các Bộ Luật hình sự trước đây. Quy định rất rõ ràng, chủ thể không phải là bất cứ người nào mà phải là người trong lực lượng vũ trang nhân dân và người đó phải là người có chỉ huy hoặc cấp trên, nghĩa là điều luật sẽ không áp dụng đối với người có vị trí cao nhất.

    Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi thực hiện theo mệnh lệnh sau khi đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh. Như vậy không phải bất kỳ trường hợp nào người gây ra thiệt hại khi thực hiện theo mệnh lệnh của chỉ huy hoặc cấp trên đều được loại trừ trách nhiệm mà khi và chỉ khi họ đã thực hiện việc báo cáo lại nhưng vẫn bắt buộc phải thi hành. Quy định này một mặt đảm bảo tính nguyên tắc, kỷ luật trong lực lượng vũ trang nhân dân, tính đặc thù trong mối quan hệ giữa chỉ huy, cấp trên với thuộc cấp là tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên. Tuy nhiên, không phải lúc nào người đưa ra mệnh lệnh cũng sáng suốt và tỉnh táo, do đó trong trường hợp thuộc cấp hoài nghi về tính đúng đắn của mệnh lệnh thì sẽ thực hiện việc báo cáo theo đúng quy trình, sau đó nếu vẫn bắt buộc phải thực hiện mệnh lệnh thì người thực hiện sẽ được loại trừ trách nhiệm và người ra mệnh lệnh mới là người chịu trách nhiệm.

    Tuy nhiên quy định này có 3 ngoại lệ mà người thực hiện mệnh lệnh mặc dù sau khi đã thực hiện việc báo cáo đúng quy trình vẫn không được loại trừ trách nhiệm. Đó là Khoản 2 của các Điều sau:

    Điều 421. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược

    2. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

    Điều 422. Tội chống loài người

    2. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

    Điều 423. Tội phạm chiến tranh

    2. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  

    Chương VTHỜI HIỆU TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ, MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

    Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

    1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

    b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

    c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

    d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

    Bình Luận

    1. Nội dung qui định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này không có gì mới so với qui định của Bộ luật năm 1999, có chăng chỉ là cách diễn đạt câu từ đảm bảo được yếu tố tinh gọn nhưng vẫn hàm ý một cách đầy đủ và nhất quán. Theo qui định tại Điều 8 về Khái niệm tội phạm, chúng ta đã cách nhìn nhận đúng đắn, hiểu rõ được các yếu tố cấu thành một tội phạm trên thực tế. Như vậy một vấn đề được đặt ra là khi có tội phạm thì chủ thể nào đảm nhiệm nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, nhân danh quyền lực Nhà nước để bảo vệ các mối quan hệ mà pháp luật hình sự bảo vệ, tội phạm được truy cứu bao lâu hay nói cách khác thời hiệu được thiết lập như thế nào…rất nhiều vấn đề được đặt ra khi phát sinh tội phạm nhưng trong phạm vi nghiên cứu của Bộ luật này chúng ta chỉ đi giải đáp vấn đề về thời hiệu, còn các vấn đề khác sẽ được đề cập chi tiết tại Bộ luật tố tụng hình sự.

    Về khái niệm thời hiệu: tương tự khái niệm tội phạm thì khái niệm về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên được qui định tại Bộ luật hình sự 1999 và duy trì cho đến ngày nay. Trước đây Bộ luật hình sự năm 1985, cụ thể tại Điều 45, các nhà làm luật không hề đưa ra được một khái niệm nào về thời hiệu, không phải vào thời điểm này chúng ta chưa giải nghĩa được thời hiệu là gì mà có lẽ với lối tư duy cho rằng việc lý thuyết hóa trong một Bộ luật vốn được xem là công cụ quan trọng, chuyên chế bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực của giai cấp thống trị sẽ làm giảm đi tính uy nghiêm, răn đe tội phạm. Tuy nhiên, hơn hết việc lý thuyết hóa một số vấn đề là đối tượng nghiên cứu của luật hình sự có ý nghĩa rất quan trong trong công tác áp dụng luật khi đi vào thực tế, giúp các chủ thể đại diện cho công quyền khi truy cứu trách nhiệm hình sự một đối tượng có hành vi phạm tội được chuẩn xác và đồng thời là cơ sở, căn cứ để các học giả nghiên cứu, so sánh, đối chiếu và xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó chắt lọc để đưa ra được một khái niệm chính xác nhất, phù hợp giữa lý thuyết và thực tiễn áp dụng.

    Vậy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là gì: Trước hết cần phải nhận định, thời hiệu của một quan hệ pháp luật nói chung chính là thời hạn do pháp luật điều chỉnh quan hệ đó qui định mà khi kết thúc thời hạn, sẽ làm phát sinh hay chấm dứt một quyền hoặc trách nhiệm pháp lý. Đối chiếu một quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hành vi xâm phạm quan hệ này chính là tội phạm, mà theo qui định thì thuộc tính tất yếu của tội phạm là tính phải chịu hình phạt, như vậy chúng ta dễ dàng hiểu được nội hàm của khái niệm thời hiệu trong pháp luật hình sự chính là thời hạn do pháp luật hình sự qui định mà khi kết thúc thời hạn đó người phạm tội sẽ không chịu hình phạt nữa. Mặc dù tội phạm chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị trừng phạt thích đáng, thậm chí loại trừ ra khỏi đời sống xã hội nhưng không vì thế mà yếu tố thời hiệu bị bỏ qua, các nhà làm luật từ Bộ luật hình sự 1985 cho đến nay vẫn luôn đồng thuận một quan điểm rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự của một chủ thể phải bị giới hạn lại trong một khoảng thời gian, khoảng thời gian này chính là thời hiệu, các chủ thể như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ thực thi quyền truy cứu tội phạm trong khoảng thời gian đó và khi hết thời hạn thì chủ thể thực hiện hành vi phạm tội không bị xem là tội phạm nữa mà trước đó rất có thể hành vi của họ là đặc biệt nghiệm trọng.

    2. Phân loại thời hiệu: Khoản 2 chia thời hiệu thành bốn loại tương ứng với bốn loại tội phạm. Cụ thể:

    - 05 năm ----> tội ít nghiêm trọng.

    - 10 năm ----> tội nghiêm trọng.

    - 15 năm ----> tội rất nghiêm trọng.

    - 20 năm ----> tội đặc biệt nghiêm trọng.

    Như vậy việc phân loại thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được căn cứ trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Việc phân loại này là hoàn toàn phù hợp và thiết thực.

    §  Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu:

    Như chúng ta đã bàn luận về khái niệm thời hiệu của một quan hệ xã hội chính là thời hạn do pháp luật điều chỉnh nó qui định mà thời hạn lại là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Vậy thời hạn qui đinh thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính bắt đầu từ khi nào? Mầm mống của tội phạm là được hình thành từ trong suy nghĩ của người phạm tội và sau đó sẽ được hiện thực hóa ra bên ngoài thông qua các hành vi khác nhau, có thể thấy tội phạm được hình thành và phát triển qua rất nhiều giai đoạn, dưới nhiều hình thái. Chính vì vậy, xác định được thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiễn phòng chống tội phạm. Căn cứ để xem xét áp thời hiệu là phải dựa vào những biểu hiệu của tội phạm ra bên ngoài hay nói cách khác là tội phạm đã biểu hiện dưới một trạng thái, hình hài nhất định. Một người chỉ mới có ý định phạm tội nhưng chưa biểu hiện ra bên ngoài thì chúng ta hoàn toàn không có cơ sở để tính thời hiệu vì khi đó ý định chưa đáp ứng đầy đủ các yếu tố để cấu thành tội phạm. Và khoản 3 đã qui định rất rõ thời hiệu phải được tính từ ngày tội phạm được thực hiện, nghĩa là hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm dù ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay đang/đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc xem xét thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của một số giai đoạn phạm tội được nhìn nhận như sau:

    - Giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt: Việc xác định thời điểm tính thời hiệu phải được hiểu và kết hợp với các qui định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Theo đó tại thời điểm các hành vi bị chấm dứt do xuất phát từ các yếu tố khách quan (như bị phát hiện, ngăn chặn, bị cản trở…) và tất nhiên việc chấm dứt này hoàn toàn trái với ý muốn của người thực hiện hành vi phạm tội, làm cho họ không thể nào thực hiện đến cùng tội phạm . Ví dụ: A có ý định giết B để cướp tài sản, A đã chuẩn bị dao, dây thừng, bao tải, rà soát giờ giấc hoạt động của B…tuy nhiên trong quá trình lẻn vào nhà B thì chó nhà B sủa, A bị mọi người phát hiện và bắt giữ ---> vậy việc không giết được B là hoàn toàn ngoài ý muốn của A, nếu chó nhà B không sủa thì liệu rằng hành vi của A có bị phát hiện, A có tự ý nửa chừng chấm dứt việc giết B hay không, hay A vẫn quyết tâm thực hiện theo đúng mục đích ban đầu của mình là giết cho bằng được B để cướp tài sản. Trong trường hợp này thời hiệu được xác định vào thời điểm hành vi của B bị phát hiện. Tuy nhiên đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, chúng ta cần chú ý đối độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của đối tượng thực hiện hành vi cũng như tội danh tương ứng được qui định vì xét cho cùng thì giai đoạn này mặc dù hành vi của người phạm tội có tiềm ẩn những mối nguy hiểm nhất định cho xã hội nhưng chính vì bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên hậu quả cho xã hội không xảy ra và tất nhiên khi trách nhiệm hình sự không được đặt ra cho mọi trường hợp thì thời hiệu truy cứu cũng không cần phải xem xét.

    - Tội phạm thực hiện hoàn thành: Việc hoàn thành ở đây không chỉ là việc thực hiện hành vi tội phạm đạt được mục đích ban đầu của người phạm tội mà có thể chưa đạt đối với hành vi này nhưng đã đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác. Đối với các loại tội phạm này thì thời điểm truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được xem xét vào thời điểm tội phạm kết thúc. Ví dụ: A, B và C lập băng nhóm cướp giật đường phố, chuyên hoạt động tại các khu vực quanh trung tâm thương mại, phố đi bộ…A, B và C đã giật túi xách của D, trên đường trốn chạy, cả ba đã bị các hiệp sĩ đường phố bắt giữ. Như vậy thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A, B và C được tính từ ngày thực hiện hành vi tức là ngày giật túi xách của D, trường hợp này ngày bị bắt giữ lại trùng với ngày thực hiện hành vi phạm tội.

    Việc xác định thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên là áp dụng về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên pháp luật hình sự cũng đã dự liệu một số trường hợp ngoại lệ mà việc tính thời hiệu thực hiện theo một phương thức hoàn toàn mới. Cụ thể với các trường hợp sau:

    Thứ nhất: Đang trong thời hiệu truy cứu đối với tội danh đã thực hiện mà người phạm tội lại thực hiện một hành vi phạm tội mới mà khung hình phạt cao nhất được áp dụng là trên một năm tù thì thời hiệu đối với tội cũ được tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Điều kiện tính lại thời hiệu đối với trường hợp này bao gồm yếu tố sau: khung hình phạt cao nhất của tội thực hiện phải trên một năm tù, nếu tội danh thực hiện mà khung hình phạt cao nhất từ một năm trở xuống thì thời hiệu đối với tội cũ nếu có sẽ không được tính lại. Tuy nhiên đối với khoản này chúng ta cần phải lưu ý một số điểm mấu chốt như sau, nếu chỉ nhìn nhận cảm tính sẽ rất dễ nhầm lẩn và hiểu sai qui định như khung hình phạt cao nhất được hiểu như thế nào? Phạm một tội mới có phải là tội đó phải hoàn toàn khác với tội đã thực hiện và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sư?

    Khung hình phạt cao nhất: Ví dụ đối với tội cướp tài sản qui định tại Điều 168 thì có rất nhiều khung hình phạt khác nhau như khoản 1 từ 03 đến 10 năm tù, khoản 2 từ 07 đến 15 năm, khoản 3 từ 12 đến 20 năm, khoản 4 từ 18 đến 20 năm hoặc tù chung thân, khoản 5 chuẩn bị phạm tội thì từ 01 đến 05 năm. Như vậy có được quyền hiểu khung hình phạt cao nhất là mức cao nhất trong một khung hay khung phạt cao nhất trong tất cả các khung của một Điều luật. Theo như cách viện dẫn của các nhà làm luật thì bắt buộc chúng ta phải hiểu đó là khung cao nhất trong một tội danh, không phân biệt hành vi phạm tội của chủ thể thực hiện chỉ rơi vào khung thấp nhất. Với hạn mức trên một năm tù thì dường như toàn bộ các tội danh áp dụng cho chủ thể là cá nhân đều đáp ứng.

    Phạm một tội mới: có ý kiến cho rằng phạm tội mới phải được hiểu là tội đó phải hoàn toàn khác với tội đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: A phạm tội giết người và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khoảng thời gian này A lại tiếp tục phạm tội giết người nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm đối với tội giết người trước không được tính lại. Tuy nhiên với cách hiểu như vậy là chưa chính xác vì tính mới trong phạm tội mới không đồng nghĩa với việc khác biệt tội phạm được thực hiện mà tính mới được thể hiện, xem xét dưới góc độ độc lập, nghĩa là cho dù các tội phạm được thực hiện có cùng tội danh nhưng một khi đảm bảo đây là các hành vi khác nhau, không cùng trong một vụ án, tách biệt thì đã đảm bảo tính mới trong hành vi phạm tội.

    Thứ hai: Một tội phạm được thực hiện thì không đồng nghĩa với việc thời hiệu sẽ được tính liên tục và khi hết khoảng thời hạn đó người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hay đồng nghĩa họ không bị xem là có tội. Tính liên tục của thời hiệu chỉ được đảm bảo khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau:

    - Không phạm tội mới mà khung hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội đó là trên 01 năm tù (phần này chúng ta đã bình luận phía trên).

    - Không được cố tình trốn tránh: điều này đồng nghĩa với việc người phạm tội không tìm mọi cách để né tránh các chế tài của Bộ luật hình sự. Biểu hiện cho việc né tránh này là sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, người phạm tội bỏ trốn khỏi nơi cư trú, thay đổi họ tên, ra nước ngoài, phẫu thuật để thay đổi hình dạng bên ngoài…..

    - Chưa có quyết định truy nã: Khi có đầy đủ căn cứ xác định đối tượng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú hoặc không biết ở đâu mặc dù đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng vẫn không có kết quả thì Cơ quan điều tra có thẩm quyền sẽ ra quyết định truy nã đối tượng.

    Như vậy khi người phạm tội cố tình trốn tránh và Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã ra quyết định truy nã thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh đó sẽ được tính lại. Thời điểm để bắt đầu lại thời hiệu được xem xét khi người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Mặc dù người phạm tội có cố tình trốn tránh bao nhiêu lâu đi nữa mà họ vẫn chưa bị truy nã bằng một quyết định chính thức thì thời hiệu không được tính lại và khi hết thời hiệu tương ứng với loại tội phạm thực hiện, dưới góc độ pháp lý họ hoàn toàn không có tội, không một cơ quan nào có quyền truy tố xét xử họ.

    Xét đến thời điểm tính lại thời hiệu, Bộ luật hình sự hiện hành có một qui định khác so với Bộ luật hình sự 1999, thể hiện cụ thể bằng việc thay thế cụm từ “tự thú” bằng “đầu thú”. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, việc điều chỉnh này là hoàn toàn phù hợp. Để có thể hiểu rõ vai trò của việc điều chỉnh này, trước hết cần phải nghiên cứu về mặt khái niệm, tự thú là gì và đầu thú là gì?

    - Tự thú nghĩa là người phạm tội tự nhận và khai ra hành vi phạm tội của mình mặc dù hành vi của họ chưa bị phát hiện.

    - Đầu thú là khi hành vi phạm tội đã bị phát hiện, điều tra, người thực hiện hành vi biết không thể trốn thoát hoặc dằn vặt lương tâm nên ra trình diện trước cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo qui định của pháp luật.

    Từ khái niệm nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy qui định tại khoản 3 Điều 23 Bộ luật hình sự 1999 chưa thật sự phù hợp về mặt thuật ngữ. Bởi lẽ điều luật đã thể hiện rất rõ là khi và chỉ khi người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu sẽ được tính lại nhưng các nhà làm luật lại qui định thời điểm người phạm tội tự thú, điều này là hoàn toàn không có ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Vì một khi có quyết định truy nã thì điều đó đồng nghĩa với việc hành vi phạm tội đã bị phát hiện, điều tra thì chắc chắn không có việc người phạm tội lại tự thú. Qui định này không chỉ là sự nhầm lẫn về mặt thuật ngữ, câu từ mà còn tạo ra lỗ hổng lớn. Chính vì vậy, tác giả khẳng định, việc điều chỉnh lại cụm từ “đầu thú” là hoàn toàn phù hợp.

    Điều 28. Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

    Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:

    1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

    2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này;

    3. Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

    Bình Luận

    Mặc dù tại Điều 27 Bộ luật hình sự qui định rất rõ về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các loại tội phạm cũng như các trường hợp tính lại thời hiệu thì điều đó hoàn toàn không đồng nghĩa với việc 318 tội danh đều áp dụng thời hiệu nêu trên. Tương tự Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật mới này vẫn tiếp tục liệt kê các tội xâm phạm an ninh quốc gia; phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh không áp dụng thời hiệu. Xem xét các loại tội phạm này, chúng ta nhận thấy đặc điểm chung của chúng chính là tính nguy hiểm cho xã hội cũng như mức độ, phạm vi ảnh hưởng. Nghiên cứu đặc điểm của Bộ luật hình sư là công cụ đặc biệt quan trọng của giai cấp thống trị trong việc bảo vệ quyền lực của mình cũng như duy trì sự ổn định của xã hội, các tội xâm phạm an ninh quốc gia như: tội phản tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội gián điệp, tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, tội bạo loạn, tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, tội phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tội phá rối an ninh, tội phá hoại chính sách đoàn kết…đang xâm phạm và tác động trực tiếp lên quyền lợi, sự tồn vong của giai cấp thống trị. Rõ ràng tính nguy hiểm của hành vi là cực kỳ lớn, sự ổn định của giai cấp cầm quyền chính là sự ổn định cho cả một hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội. Vượt ra ngoài phạm vi của một quốc gia, vùng lãnh thổ thì các hành vi như: phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người, chiến tranh, tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê, làm lính đánh thuê đã tác động lên phạm vi liên quốc gia, khu vực, châu lục. Tất cả các tội phạm này không còn được thực hiện một cách riêng lẻ nữa mà được hình thành, liên kết thành các băng đảng tổ chức lớn, hoạt động một cách công khai và thậm chí được sự hậu thuận về mặt tài chính từ một bên thứ ba nào đó. Xét lại các tội phạm được qui định tại Chương XIII và Chương XXVI có tính nguy hiểm đặc biệt nghiệm trọng, nếu không có các biện pháp phòng chống, đấu tranh hữu hiệu thì hậu quả mà nó để lại sẽ không thể nào lường hết được.

    Bên cạnh những điểm chung thì Bộ luật hiện hành đã có những bổ sung, điều chỉnh nhất định. Cụ thể ngoài các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu nêu trên thì đến nay các tội danh sau cũng không được áp dụng thời hiệu:

    - Khoản 3, khoản 4 Tội tham ô tài sản.

    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

    - Khoản 3, khoản 4 Tội nhận hối lộ.

    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

    Đây là các tội phạm về chức vụ qui định tại Chương XXIII với đặc điểm là chủ thể đặc biệt, sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện phạm tội. Trong những năm gần đây, với sự quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước mà hàng loạt các cán bộ, các vụ án tham nhũng bị phanh phui và đưa ra xét xử. Điều này tạo ra được một tín hiệu tích cực trong công cuộc phòng chống tham nhũng, đưa cả hệ thống chính trị vào guồng trong sạch, liên khiết với chính bản thân mình và với nhân dân. Chính vì vậy mà khi soạn thảo Bộ luật hình sự mới, các nhà làm luật đã liệt kê hẳn vấn đề nhức nhối này vào trường hợp không áp dụng thời hiệu nhằm đảm bảo được một yếu tố duy nhất là truy cứu, xử lý tội phạm đến cùng. Cho dù tội phạm có được thực hiện vào thời điểm nào, không gian nào, bí mật, kín đáo ra sao thì vẫn không thoát khỏi chế tài, sự trừng phạt của pháp luật. Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc loại bỏ yếu tố thời hiệu đối với các tội danh này là một lần nữa khẳng định được quyết tâm xử lý tội phạm cũng như tạo được niểm tin ở nhân dân. 

    Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

    1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

    a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    b) Khi có quyết định đại xá.

    2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

    a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

    c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

    3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

    Bình Luận

    Xem xét, đối chiếu với các qui định về miễn trách nhiệm hình sự tại Bộ luật 1999 thì qui định này có nhiều điểm mới mà chúng ta cần phải lưu ý. Để dễ dàng nắm bắt được các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự cũng như những trường hợp khác liên quan, trước tiên cần phải làm rõ khái niệm và bản chất của việc miễn trách nhiệm hình sự.

    Pháp luật hiện hành cũng như trong lịch sử pháp luật hình sự vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về việc miễn trách nhiệm hình sự mà theo đó các nhà làm luật chỉ liệt các trường hợp nào được miễn trách nhiệm, như Bộ luật 1999:

    - “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”.

    Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn tự nhận thức được bản chất của chế định này là như thế nào. Miễn trách nhiệm hình sự chính là việc người phạm tội không còn phải chịu các hậu quả pháp lý từ hành vi phạm tội khi có các căn cứ luật định, nhưng phải khằng định rằng việc không phải chịu hậu quả ở đây chỉ đề cập đến góc độ về hình sự vì trong nhiều trường hợp mặc dù được miễn trách nhiệm hình sự nhưng người thực hiện hành vi phạm tội phải gánh chịu các hậu quả pháp lý khác như về hành chính, dân sự, lao động (bồi thường thiệt hại, bị xử phạt, đình chỉ quan hệ lao động…..).

    Việc miễn trách nhiệm hình sự theo Điều luật này được nghiên cứu dưới hai góc độ: đương nhiên và không đương nhiên. Đương nhiên được hiểu là khi một người có hành vi phạm tội nhưng có đầy đủ các điều kiện theo luật định thì họ hiển nhiên được miễn trách nhiệm hình sự mà không có bất kỳ chủ thể nào có thể ngăn cản. Không đương nhiên được hiểu là khi một người có hành vi phạm tội nhưng có các điều kiện theo luật định thì họ sẽ được cơ quan có thẩm quyền xem xét việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự.

    Thứ nhất: Trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự

    Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

    Trường hợp này được hiểu, trước đây hành vi này là nguy hiểm cho xã hội và chủ thể thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên do sự chuyển biến của tình hình thực tế, nhận thức, đánh giá sự việc…mà đã dẫn đến sự thay đổi trong chính sách, pháp luật nên hành vi này nếu xem xét theo qui định mới thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nữa. Việc miễn trách nhiệm trong trường hợp này có một số đặc điểm như sau:

    - Sự thay đổi phải được ghi nhận, thể hiện bằng văn bản có hiệu lực pháp luật, nghĩa là việc áp dụng phải có cơ sở xác đáng, ràng buộc các bên liên quan phải thi hành mà không có một ngoại lệ nào.

    - Việc miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc chấm dứt các trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự, lao động.

    Khi có quyết định đại xá

    Việc đại xá thể hiện rõ nét chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, được Quốc hội ban hành căn cứ trên tình hình thực tế, hoạt động tội phạm cũng như sự ảnh hưởng, mức độ tác động của một số loại tội phạm. Nếu căn cứ nêu trên cần phải được thể hiện rõ sự loại trừ hành vi ra khỏi nhóm các tội danh được pháp luật hình sự qui định thì việc đại xá không làm mất đi hay thay đổi các chế định pháp luật đối với các loại tội phạm đó. Nghĩa là theo pháp luật hình sự thì các hành vi mà người phạm tội được đại xá vẫn bị xem là tội phạm, người thực hiện hành vi buộc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình gây ra. Quyết định đại xá của Quốc hội sẽ là căn cứ làm cho một số loại tội phạm mà người thực hiện hành vi phạm tội không phải tiếp tục gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự nữa cho dù họ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn nào. Nếu đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì sẽ không bị điều tra, truy tố, xét xử nữa; nếu đang chấp hành hình phạt tù thì không phải tiếp tục chịu hình phạt tù còn lại, được tự do ngay lập tức và được xóa án tích, xem như chưa từng phạm tội danh được đại xá, không bị mang tiền án….Như vậy việc miễn trách nhiệm hình sự do đại xá là căn cứ phát sinh dựa trên thẩm quyền quyết định của Quốc hội khi xem xét các yếu tố, tình hình đời sống kinh tế chính trị xá hội.

    Thứ hai: trường hợp không đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự

    - Sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

    Nếu như trước đây, căn cứ theo qui định của Bộ luật hình sự 1999 thì đây chính là trường hợp người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên qui định này hoàn toàn không phù hợp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng, việc đương nhiên được miễn trách nhiệm phải dựa vào một căn cứ, qui định rõ ràng, được cụ thể hóa bằng một văn bản có hiệu lực pháp luật vì có như vậy mới ràng buộc được nghĩa vụ tuân thủ của các chủ thể liên quan cũng như bảo vệ được quyền của người phạm tội. Nhưng xuất phát từ căn cứ áp dụng là dựa trên sự chuyển biến của tình hình thì chắc chắn một điều rằng là chúng ta không thể dự liệu được một cách chính xác, tình hình có sự chuyển biến là sự thay đổi, vận động của cả một hệ thống các yếu tố, lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, pháp luật …. hoặc sự chuyển biến có thể biểu hiện ở một lĩnh vực, khía cạnh nào đó của đời sống xã hội mà làm cho người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Như vậy có thể thấy, Bộ luật hình sự 1999 đã luật hóa căn cứ này thành quyền đương nhiên được hưởng miễn trách nhiệm hình sự nhưng hoàn toàn không có một văn bản, qui định để chi tiết, cụ thể hóa sự chuyển biến của tình hình là như thế nào để xác định việc áp dụng cho người phạm tội. Bên cạnh đó, vì là sự chuyển biến nên chắc chắn sẽ có sự thay đổi liên tục, biến hóa theo từng thời điểm, trình độ nhận thức, đánh giá nên không thể áp khung một vật thể chuyển động để áp dụng cho một trường hợp.

    Chính vì vậy mà trong Bộ luật hình sự hiện hành, việc các nhà làm luật đã điều chỉnh căn cứ này từ đương nhiên được hưởng thành có thể được hưởng. Sự có thể ở đây phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đó là các yếu tố của tình hình đời sống xã hội và hơn hết là sự tùy nghi áp dụng căn cứ trên cơ sở nhận thức, nhìn nhận chủ quan của các cá nhân, tổ chức trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tội phạm.

    - Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.

    Đây là căn cứ hoàn toàn mới mà các nhà làm luật áp dụng xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. So với yếu tố “sự chuyển biến của tình hình” thì căn cứ này hoàn toàn khả thi và có cơ sở để áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên cũng cần phải xem xét chi tiết điều kiện để một người phạm tội có thể được vận dụng căn cứ này trong việc đưa ra yêu cầu được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự, cần lưu ý như sau:

    - Người phạm tội phải mắc bệnh hiểm nghèo: căn cứ để xác đinh phải dựa vào danh mục các bệnh hiểm nghèo theo qui định của pháp luật.

    - Không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội: Điều này đồng nghĩa với việc không phải bất kỳ người phạm tội nào mắc bệnh hiểm nghèo đều được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự mà còn phải xác định khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của họ trên thực tế. Ví dụ: A mắc bệnh ung thư nhưng được phát hiện, điều trị tại giai đoạn đầu nên vẫn còn khỏe mạnh, khả năng khỏi bệnh rất cao, vì vậy hoàn toàn không có cơ sở để miễn trách nhiệm hình sự cho A. Tuy nhiên, nếu xét trường hợp A bị ung thư giai đoạn cuối, đã di căn, sức khỏe ốm yếu thì cần phải xem xét áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự.

    - Người phạm tội tự thú.

    Về mặt khái niệm, nghĩa là hành vi phạm tội chưa bị phát hiện nhưng người thực hiện hành vi đã tự khai nhận và trình diện trước Cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo qui định của pháp luật. Việc tự thú để có thể hưởng quyền yêu cầu xem xét miễn trách nhiệm hình sự được thể hiện rõ nét nhất trong các loại tội phạm có đồng phạm. Bởi đối với các tội phạm được thực hiện riêng lẻ thì việc tự thú chỉ được thực hiện sau khi tội phạm hoàn thành, tức là đã đạt được mục đích mong muốn của người phạm tội trước khi thực hiện hành vi, đã gây ra hậu quả nhất định cho xã hội. Trường hợp này việc tự thú chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng khung hình phạt.

    Tự thú đối với các tội phạm có đồng phạm: nghĩa là có từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện một tội phạm. Trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện, một trong những chủ thể vì lý do nào đó mà tự thú trước cơ quan có thẩm quyền để khai nhận toàn bộ hành vi của mình cũng như khai báo hành vi chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện của các đồng phạm khác. Việc khai báo này giúp cho cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn kịp thời tội phạm, không cho hậu quả xảy ra trên thực tế hoặc hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra.

    Hành vi tự thú của một chủ thể tội phạm chỉ được xem xét áp dụng miễn trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi việc khai nhận, khai báo của họ đã mang đến những lợi ích nhất định như:

    - Hiệu quả trong việc phát hiện và điều tra tội phạm: Biểu hiện ở việc cung cấp các chứng cứ, lời khai, thông tin về các đồng phạm, địa điểm….

    - Ngăn chặn hoặc hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm: Biểu hiện ở việc giúp kịp thời ngăn chặn được hậu quả hoặc nếu hậu quả đang xảy ra thì hạn chế được đến mức thấp nhất có thể.

    Ví dụ: A, B, C và D tổ chức buôn bán ma túy từ Lào về Việt Nam, toàn bộ 2 bánh heroin được vận chuyển trót lót vào Thành phố Hồ Chí Minh và chuẩn bị phân phối cho các tụ điểm, đại lý để bán lẻ đến các con nghiện trên địa bàn. C sau đó tự thú khai nhận hành vi của mình và đồng bọn, A, B và D lần lượt bị bắt, 2 bánh heroin bị thu giữ trước khi bị phân tán đi tiêu thụ. Chúng ta thấy việc tự thú của C giúp Cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và bắt giữ tội phạm, kịp thời tịch thu các bánh heroin, bên cạnh đó từ lời khai của C mà Cơ quan điều tra có cơ sở xác định được A, B, D có liên quan đến hàng loạt vụ án buôn bán trọng điểm ma túy khác. Rõ ràng hành vi tự thú của C đã mang lại một lợi ích rất lớn trong việc xử lý tội phạm ma túy trên địa bàn nên hoàn toàn có cơ sở xem xét áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự.

    Cuối cùng một căn cứ để xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội là xuất phát từ yêu cầu, đề nghị của bị hại hoăc đại diện hợp pháp của bị hại. Căn cứ này không phải được áp dụng cho mọi loại tội phạm mà chỉ áp dụng cho: tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác. Bên cạnh qui định về loại tội phạm thì để được xem xét áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự thì người phạm tội còn phải thỏa mãn các điều kiện sau:

    - Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả: Người phạm tội phải chủ động, tự nguyện thực hiện trước khi có yêu cầu, chế tài áp dụng của cơ quan có thẩm quyền. Tính tự nguyện đánh giá được sự hối lỗi, nhận biết được sai lầm cũng như thể hiện được mong muốn bù đắp cho bị hại của người phạm tội.

    - Được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giả và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự: Bên bị tác động bởi hành vi vi phạm chủ động, bằng thâm tâm của mình mong muốn bỏ qua tội lỗi của người phạm tội mà từ đó tự đưa ra yêu cầu, đề nghị cơ quan chức năng xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa. Pháp luật qui định rất rõ, đề nghị này phải xuất phát tự sự tự nguyện, bởi lẽ trên thực tế khi có một hành vi phạm tội xảy ra, người thực hiện hành vi vì muốn né tránh các chế tài của pháp luật hình sự mà tìm mọi cách để đạt được mục đích đó mà không loại trừ yếu tố đe dọa, cưỡng ép buộc bị hại phải đưa ra yêu cầu trước cơ quan chức năng. Rõ ràng yêu cầu đưa ra trong trường hợp này không xuất phát tự sự tự nguyện, không phù hợp với ý chí của bị hại hoặc đại diện bị hại. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng việc dùng tiền bạc, vật chất để bị hại hoặc đại diện bị hại đưa ra yêu cầu không phải xuất phát từ sự tự nguyện mà đúng đắn hơn là việc mua bán, đổi chát làm cho tính nghiệm minh của pháp luật không được đảm bảo, không răn đe được tội phạm, không công bằng vì những người giàu có khi phạm tội thì dùng tiền bạc để tránh sự trừng phạt của pháp luật. Ý kiến nêu trên xét ở một khía cạnh nào đó là có cơ sở, tuy nhiên chúng ta cần nhìn nhận tổng thể, đa chiều vì căn cứ xem xét miễn trách nhiệm hình sự khi có đề nghị của bị hại hoặc đại diện bị hại chỉ được áp dụng cho loại tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội của nó không cao, trách nhiệm hình sự không nhất thiết phải được đặt ra, việc trao quyền cho phía bị hại là nên ghi nhận. Trong khi đó tại các qui định đầu, chúng ta đã hiểu Bộ luật hình sự không chỉ là công cụ để trừng phạt người phạm tội mà còn có một nhiệm vụ quan trọng không kém chính là giáo dục. Chính vì vậy, đối với các trường hợp này, các nhà làm luật đã qui định cho nó có thể trở thành một căn cứ xem xét miễn trách nhiệm hình sự là hoàn toàn hợp lý, có cơ sở. Chúng ta phải hiểu rằng, đây chỉ là căn cứ để xem xét có hay không việc áp dụng việc miễn trách nhiệm chứ không phải là trường hợp đương nhiên được miễn, do vậy khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện nêu trên thì điều kiện tiên quyết cuối cùng là sự đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Còn nữa…

    Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

    1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

    2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

     

     

    Bình luận

    Đây là một trong ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà Bộ Luật hình sự mới đã mở rộng thêm so với quy định tại các Bộ Luật hình sự cũ.

    Một lần nữa kỹ thuật lập pháp tại Điều luật này cũng không hề khác so với Điều 22 và Điều 23 mỗi điều đều bao gồm 2 khoản, Khoản 1 sẽ quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, Khoản 2 thì vẫn chủ thể gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm nếu hành vi gây thiệt hại đó rõ ràng vượt quá mức cần thiết. Như tác giả đã phân tích ở 2 điều luật trước đó, quy định như hiện tại sẽ tạo ra 1 lỗ hổng pháp lý khi nếu hành vi gây thiệt hại nằm dưới mức rõ ràng quá mức nhưng lại trên mức cần thiết. Trong trường hợp này, khác với quan điểm ở 2 điều luật trên tác giả không ủng hộ áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nghĩa là sẽ áp dụng Khoản 1 thay vì Khoản 2. Tác giả sẽ làm rõ hơn ở phần sau cùng của bình luận.

    Tóm ý nội dung Khoản 1 bao gồm các thành phần sau:

    Chủ thể: Người để bắt giữ

    Hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

    Ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện

    Hệ quả: Không phải là tội phạm.

    Đầu tiên là vấn đề chủ thể: Hãy xem xét đến chủ thể thực hiện thực hiện hành vi bắt giữ trong điều luật này đó là “người”. Như vậy chủ thể ở đây có phải là bất cứ người nào hay không?Câu trả lời là không. Chúng ta cần phải phân định rõ việc này vì không phải ai cũng đương nhiên có quyền hoặc được trao quyền để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội.

    Điều kiện cần đầu tiên để thỏa mãn dấu hiệu của Khoản 1 là người đó phải được quyền bắt giữ và đó là những ai thì phải căn cứ quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.

    Một cách sơ lược có thể hiểu chỉ có một số cá nhân, tổ chức có thẩm quyền được trao quyền bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội theo trình tự thủ tục luật định (tạm gọi là người của cơ quan công quyền). Tuy nhiên trong trường hợp phạm tội quả tang thì chủ thể được quyền bắt giữ không còn bị giới hạn, nghĩa là bất cứ ai cũng được quyền bắt giữ một người đang phạm tội quả tang (tạm gọi là công dân).Như vậy chủ thể thuộc pham vi điều chỉnh của Điều 24 không phải là một chủ thể đặc biệt mà là bất kỳ người nào thực hiện hành vi bắt giữ (phải hiểu ở đây là được quyền bắt giữ theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự).

    Tiếp theo đến hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

    Đến đây tiếp tục một lần nữa từ cần thiết được sử dụng và đây là một từ mang tính định tính rất cao, phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của người thực hiện việc sử dụng vũ lực và đôi khi là của người thuộc cơ quan điều tra, truy tố xét xử nếu hành vi đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thiệt hại xảy ra cho người bị bắt giữ thông thường sẽ là những thiệt hại về sức khỏe, nhẹ có thể ở mức gây thương tích, nặng có thể dẫn đến gây tử vong, bên cạnh đó có thể là những thiệt hại về tài sản kèm theo như đang thực hiện hành vi cướp giật, bị truy đuổi và bị đạp ngã xe gây thiệt hại về người và tài sản.

    Sau cùng là ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện. Không còn cách nào khác ở đây sẽ rõ ràng và có căn cứ hơn đối với những người thuộc cơ quan công quyền vì quy trinh bắt giữ đã được quy định rất rõ trong hoạt động nghiệp vụ riêng. Tuy nhiên đối với chủ thể bắt giữ là công dân thì việc xác định không còn cách nào khác hay vẫn còn cách nào khác là một việc rất khó để xác định trong bối cảnh bắt giữ người phạm tội quả tang, tính cấp thiết của viêc bắt giữ đặt ra rất nhanh trong khi họ không có chuyên môn nghiệp vụ để phán đoán và đưa ra cách hành xử đúng đắn nhất, do đó nguy cơ nhóm chủ thể này dễ vượt quá quy định tại Khoản 1 để rơi vào Khoản 2, tức là phải chịu trách nhiệm hình sự sẽ cao hơn.

    Quy định trên là một quy định mới cho thấy phần nào việc gây thiệt hại cho người bị bắt giữ (đa phần là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng) ở một mức độ cần thiết là hành vi hợp pháp nếu thỏa mãn các điều kiện còn lại. Dù là quy định mới nhưng tác giả không cho rằng đó là một tiến bộ. Bởi lẽ khách thể bị tác động đến là sức khỏe tính mạng chứ không chỉ đơn thuần như là những thiệt hại về tài sản như trong tình thế cấp thiết. Minh chứng rất rõ trong những thời gian qua có hàng loạt những hành vi sử dụng vũ lực một cách khá tự do gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậm chí là tính mạng của những người phạm tội quả tang như trộm chó. Rất nhiều những người trộm chó đã bị đánh đến tử vong. Bên cạnh đó có rất nhiều những vụ án oan sai xuất phát từ việc bức cung, ép cung, dùng nhục hình đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của cơ quan công quyền và gây thiệt hại về Ngân sách nhà nước bởi những khoản tiền bồi thường lên đến hàng chục tỉ đồng. Hiện trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng một phần không nhỏ là do sự lạm dụng quyền sử dụng vũ lực để bắt giữ khi cho rằng điều đó là cần thiết và không còn cách nào khác. Thực sự, khung pháp lý cho vấn đề này rất yếu, lỏng lẻo dễ tạo cơ hội để những người bắt giữ gây thiệt hại cho người bị bắt giữ nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự, đặc biệt là những người thuộc cơ quan công quyền vì họ rất dễ để chứng minh cho sự cần thiết của việc sử dụng vũ lực đó.

    Một vấn đề rất quan trọng là người bị bắt giữ chưa phải là người phạm tội cho đến khi có bản án có hiệu lực thi hành (theo nguyên tắc suy đoán vô tội) vì thế cho nên họ có quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tài sản v.v…Điều luật trên xét ở một khía cạnh nào đó đã làm cho việc tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội bị ảnh hưởng ít nhiều. Tâm lý của người bắt giữ cũng sẽ thoải mái hơn trong việc sử dụng vũ lực thay vì phải cân nhắc thật kỹ lưỡng như trước đây.

    Điều 25. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

    Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

    Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bình luận

    Đây là trường hợp mới được đưa vào danh sách những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo đánh giá chủ quan đây là một trường hợp thể hiện rất sâu sắc tinh thần vực dậy thúc đẩy nền kinh tế của đất nước chúng ta. Có thể thấy chính sách kinh tế đã ảnh hưởng không chỉ đến hệ thống các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự thương mại mà còn ảnh hưởng cả đến những quy định của pháp luật hình sự. Trong phát triển kinh tế việc đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới là điều tất yếu và có thể nói là ưu tiên hàng đầu đối với Việt Nam một đất nước mà cơ cấu thành phần kinh tế vẫn đang phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy (chưa áp dụng được nhiều những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại), công nghiệp và dịch vụ còn nhiều hạn chế. Chúng ta đều biết đã là nghiên cứu, thử nghiệm thì khả năng rủi ro rất cao đôi khi phải trả giá bằng chính sức khỏe thậm chí là mạng sống của con người như việc nghiên cứu chế tạo các loại thuốc, vắc xin mới trong lĩnh vực y tế v.v…Do đó nguy cơ chủ thể thực hiện những nghiên cứu thử nghiệm xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là đúng.

    Tuy nhiên điều luật trên vẫn còn một vài điểm chưa ổn cần phải làm rõ:

    Thứ nhất: Tên điều luật và nội hàm quy định tại Khoản 1 không thống nhất. Cụ thể Điều 25 chỉ nêu …nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệtrong khi đó Khoản 1 lại quy định…nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới… Vậy một câu hỏi đặt ra mới ở đây là mới hoàn toàn hay chỉ cần có yếu tố mới? và nếu nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ không mới thì có thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 25 hay không?

    Câu hỏi thứ hai, ranh giới giữa được loại trừ trách nhiệm và không loại trừ trách nhiệm đó là việc người thực hiện đã áp dụng đúng quy trình, quy phạm, đầy đủ biện pháp phòng ngừa hay chưa? Vậy trong trường hợp bản thân quy trình không đảm bảo, vốn dĩ đã có khiếm khuyết thì người thực hiện đã áp dụng đúng nhưng vẫn gây ra thiệt hại thì có được miễn trách nhiệm hay không, thêm vào đó vấn đề trách nhiệm của những người ban hành quy trình quy phạm khiếm khuyết đó ở chỗ nào?

    Hai câu hỏi trên bản thân tác giả hay bạn đọc cũng khó mà đưa ra một câu trả lời hợp lý nhất. Vậy nên đành chờ hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền hoặc sửa đổi nếu có của các nhà lập pháp.

    Điều 26. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

    Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.

    Bình luận

    Đây là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự cuối cùng được thêm vào trong Bộ Luật hình sự này so với các Bộ Luật hình sự trước đây. Quy định rất rõ ràng, chủ thể không phải là bất cứ người nào mà phải là người trong lực lượng vũ trang nhân dân và người đó phải là người có chỉ huy hoặc cấp trên, nghĩa là điều luật sẽ không áp dụng đối với người có vị trí cao nhất.

    Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi thực hiện theo mệnh lệnh sau khi đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh. Như vậy không phải bất kỳ trường hợp nào người gây ra thiệt hại khi thực hiện theo mệnh lệnh của chỉ huy hoặc cấp trên đều được loại trừ trách nhiệm mà khi và chỉ khi họ đã thực hiện việc báo cáo lại nhưng vẫn bắt buộc phải thi hành. Quy định này một mặt đảm bảo tính nguyên tắc, kỷ luật trong lực lượng vũ trang nhân dân, tính đặc thù trong mối quan hệ giữa chỉ huy, cấp trên với thuộc cấp là tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên. Tuy nhiên, không phải lúc nào người đưa ra mệnh lệnh cũng sáng suốt và tỉnh táo, do đó trong trường hợp thuộc cấp hoài nghi về tính đúng đắn của mệnh lệnh thì sẽ thực hiện việc báo cáo theo đúng quy trình, sau đó nếu vẫn bắt buộc phải thực hiện mệnh lệnh thì người thực hiện sẽ được loại trừ trách nhiệm và người ra mệnh lệnh mới là người chịu trách nhiệm.

    Tuy nhiên quy định này có 3 ngoại lệ mà người thực hiện mệnh lệnh mặc dù sau khi đã thực hiện việc báo cáo đúng quy trình vẫn không được loại trừ trách nhiệm. Đó là Khoản 2 của các Điều sau:

    Điều 421. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược

    2. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

    Điều 422. Tội chống loài người

    2. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

    Điều 423. Tội phạm chiến tranh

    2. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  

    Chương VTHỜI HIỆU TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ, MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

    Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

    1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

    b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

    c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

    d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

    Bình Luận

    1. Nội dung qui định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này không có gì mới so với qui định của Bộ luật năm 1999, có chăng chỉ là cách diễn đạt câu từ đảm bảo được yếu tố tinh gọn nhưng vẫn hàm ý một cách đầy đủ và nhất quán. Theo qui định tại Điều 8 về Khái niệm tội phạm, chúng ta đã cách nhìn nhận đúng đắn, hiểu rõ được các yếu tố cấu thành một tội phạm trên thực tế. Như vậy một vấn đề được đặt ra là khi có tội phạm thì chủ thể nào đảm nhiệm nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, nhân danh quyền lực Nhà nước để bảo vệ các mối quan hệ mà pháp luật hình sự bảo vệ, tội phạm được truy cứu bao lâu hay nói cách khác thời hiệu được thiết lập như thế nào…rất nhiều vấn đề được đặt ra khi phát sinh tội phạm nhưng trong phạm vi nghiên cứu của Bộ luật này chúng ta chỉ đi giải đáp vấn đề về thời hiệu, còn các vấn đề khác sẽ được đề cập chi tiết tại Bộ luật tố tụng hình sự.

    Về khái niệm thời hiệu: tương tự khái niệm tội phạm thì khái niệm về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên được qui định tại Bộ luật hình sự 1999 và duy trì cho đến ngày nay. Trước đây Bộ luật hình sự năm 1985, cụ thể tại Điều 45, các nhà làm luật không hề đưa ra được một khái niệm nào về thời hiệu, không phải vào thời điểm này chúng ta chưa giải nghĩa được thời hiệu là gì mà có lẽ với lối tư duy cho rằng việc lý thuyết hóa trong một Bộ luật vốn được xem là công cụ quan trọng, chuyên chế bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực của giai cấp thống trị sẽ làm giảm đi tính uy nghiêm, răn đe tội phạm. Tuy nhiên, hơn hết việc lý thuyết hóa một số vấn đề là đối tượng nghiên cứu của luật hình sự có ý nghĩa rất quan trong trong công tác áp dụng luật khi đi vào thực tế, giúp các chủ thể đại diện cho công quyền khi truy cứu trách nhiệm hình sự một đối tượng có hành vi phạm tội được chuẩn xác và đồng thời là cơ sở, căn cứ để các học giả nghiên cứu, so sánh, đối chiếu và xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó chắt lọc để đưa ra được một khái niệm chính xác nhất, phù hợp giữa lý thuyết và thực tiễn áp dụng.

    Vậy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là gì: Trước hết cần phải nhận định, thời hiệu của một quan hệ pháp luật nói chung chính là thời hạn do pháp luật điều chỉnh quan hệ đó qui định mà khi kết thúc thời hạn, sẽ làm phát sinh hay chấm dứt một quyền hoặc trách nhiệm pháp lý. Đối chiếu một quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hành vi xâm phạm quan hệ này chính là tội phạm, mà theo qui định thì thuộc tính tất yếu của tội phạm là tính phải chịu hình phạt, như vậy chúng ta dễ dàng hiểu được nội hàm của khái niệm thời hiệu trong pháp luật hình sự chính là thời hạn do pháp luật hình sự qui định mà khi kết thúc thời hạn đó người phạm tội sẽ không chịu hình phạt nữa. Mặc dù tội phạm chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị trừng phạt thích đáng, thậm chí loại trừ ra khỏi đời sống xã hội nhưng không vì thế mà yếu tố thời hiệu bị bỏ qua, các nhà làm luật từ Bộ luật hình sự 1985 cho đến nay vẫn luôn đồng thuận một quan điểm rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự của một chủ thể phải bị giới hạn lại trong một khoảng thời gian, khoảng thời gian này chính là thời hiệu, các chủ thể như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ thực thi quyền truy cứu tội phạm trong khoảng thời gian đó và khi hết thời hạn thì chủ thể thực hiện hành vi phạm tội không bị xem là tội phạm nữa mà trước đó rất có thể hành vi của họ là đặc biệt nghiệm trọng.

    2. Phân loại thời hiệu: Khoản 2 chia thời hiệu thành bốn loại tương ứng với bốn loại tội phạm. Cụ thể:

    - 05 năm ----> tội ít nghiêm trọng.

    - 10 năm ----> tội nghiêm trọng.

    - 15 năm ----> tội rất nghiêm trọng.

    - 20 năm ----> tội đặc biệt nghiêm trọng.

    Như vậy việc phân loại thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được căn cứ trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Việc phân loại này là hoàn toàn phù hợp và thiết thực.

    §  Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu:

    Như chúng ta đã bàn luận về khái niệm thời hiệu của một quan hệ xã hội chính là thời hạn do pháp luật điều chỉnh nó qui định mà thời hạn lại là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Vậy thời hạn qui đinh thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính bắt đầu từ khi nào? Mầm mống của tội phạm là được hình thành từ trong suy nghĩ của người phạm tội và sau đó sẽ được hiện thực hóa ra bên ngoài thông qua các hành vi khác nhau, có thể thấy tội phạm được hình thành và phát triển qua rất nhiều giai đoạn, dưới nhiều hình thái. Chính vì vậy, xác định được thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiễn phòng chống tội phạm. Căn cứ để xem xét áp thời hiệu là phải dựa vào những biểu hiệu của tội phạm ra bên ngoài hay nói cách khác là tội phạm đã biểu hiện dưới một trạng thái, hình hài nhất định. Một người chỉ mới có ý định phạm tội nhưng chưa biểu hiện ra bên ngoài thì chúng ta hoàn toàn không có cơ sở để tính thời hiệu vì khi đó ý định chưa đáp ứng đầy đủ các yếu tố để cấu thành tội phạm. Và khoản 3 đã qui định rất rõ thời hiệu phải được tính từ ngày tội phạm được thực hiện, nghĩa là hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm dù ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay đang/đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc xem xét thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của một số giai đoạn phạm tội được nhìn nhận như sau:

    - Giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt: Việc xác định thời điểm tính thời hiệu phải được hiểu và kết hợp với các qui định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Theo đó tại thời điểm các hành vi bị chấm dứt do xuất phát từ các yếu tố khách quan (như bị phát hiện, ngăn chặn, bị cản trở…) và tất nhiên việc chấm dứt này hoàn toàn trái với ý muốn của người thực hiện hành vi phạm tội, làm cho họ không thể nào thực hiện đến cùng tội phạm . Ví dụ: A có ý định giết B để cướp tài sản, A đã chuẩn bị dao, dây thừng, bao tải, rà soát giờ giấc hoạt động của B…tuy nhiên trong quá trình lẻn vào nhà B thì chó nhà B sủa, A bị mọi người phát hiện và bắt giữ ---> vậy việc không giết được B là hoàn toàn ngoài ý muốn của A, nếu chó nhà B không sủa thì liệu rằng hành vi của A có bị phát hiện, A có tự ý nửa chừng chấm dứt việc giết B hay không, hay A vẫn quyết tâm thực hiện theo đúng mục đích ban đầu của mình là giết cho bằng được B để cướp tài sản. Trong trường hợp này thời hiệu được xác định vào thời điểm hành vi của B bị phát hiện. Tuy nhiên đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, chúng ta cần chú ý đối độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của đối tượng thực hiện hành vi cũng như tội danh tương ứng được qui định vì xét cho cùng thì giai đoạn này mặc dù hành vi của người phạm tội có tiềm ẩn những mối nguy hiểm nhất định cho xã hội nhưng chính vì bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên hậu quả cho xã hội không xảy ra và tất nhiên khi trách nhiệm hình sự không được đặt ra cho mọi trường hợp thì thời hiệu truy cứu cũng không cần phải xem xét.

    - Tội phạm thực hiện hoàn thành: Việc hoàn thành ở đây không chỉ là việc thực hiện hành vi tội phạm đạt được mục đích ban đầu của người phạm tội mà có thể chưa đạt đối với hành vi này nhưng đã đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác. Đối với các loại tội phạm này thì thời điểm truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được xem xét vào thời điểm tội phạm kết thúc. Ví dụ: A, B và C lập băng nhóm cướp giật đường phố, chuyên hoạt động tại các khu vực quanh trung tâm thương mại, phố đi bộ…A, B và C đã giật túi xách của D, trên đường trốn chạy, cả ba đã bị các hiệp sĩ đường phố bắt giữ. Như vậy thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A, B và C được tính từ ngày thực hiện hành vi tức là ngày giật túi xách của D, trường hợp này ngày bị bắt giữ lại trùng với ngày thực hiện hành vi phạm tội.

    Việc xác định thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên là áp dụng về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên pháp luật hình sự cũng đã dự liệu một số trường hợp ngoại lệ mà việc tính thời hiệu thực hiện theo một phương thức hoàn toàn mới. Cụ thể với các trường hợp sau:

    Thứ nhất: Đang trong thời hiệu truy cứu đối với tội danh đã thực hiện mà người phạm tội lại thực hiện một hành vi phạm tội mới mà khung hình phạt cao nhất được áp dụng là trên một năm tù thì thời hiệu đối với tội cũ được tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Điều kiện tính lại thời hiệu đối với trường hợp này bao gồm yếu tố sau: khung hình phạt cao nhất của tội thực hiện phải trên một năm tù, nếu tội danh thực hiện mà khung hình phạt cao nhất từ một năm trở xuống thì thời hiệu đối với tội cũ nếu có sẽ không được tính lại. Tuy nhiên đối với khoản này chúng ta cần phải lưu ý một số điểm mấu chốt như sau, nếu chỉ nhìn nhận cảm tính sẽ rất dễ nhầm lẩn và hiểu sai qui định như khung hình phạt cao nhất được hiểu như thế nào? Phạm một tội mới có phải là tội đó phải hoàn toàn khác với tội đã thực hiện và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sư?

    Khung hình phạt cao nhất: Ví dụ đối với tội cướp tài sản qui định tại Điều 168 thì có rất nhiều khung hình phạt khác nhau như khoản 1 từ 03 đến 10 năm tù, khoản 2 từ 07 đến 15 năm, khoản 3 từ 12 đến 20 năm, khoản 4 từ 18 đến 20 năm hoặc tù chung thân, khoản 5 chuẩn bị phạm tội thì từ 01 đến 05 năm. Như vậy có được quyền hiểu khung hình phạt cao nhất là mức cao nhất trong một khung hay khung phạt cao nhất trong tất cả các khung của một Điều luật. Theo như cách viện dẫn của các nhà làm luật thì bắt buộc chúng ta phải hiểu đó là khung cao nhất trong một tội danh, không phân biệt hành vi phạm tội của chủ thể thực hiện chỉ rơi vào khung thấp nhất. Với hạn mức trên một năm tù thì dường như toàn bộ các tội danh áp dụng cho chủ thể là cá nhân đều đáp ứng.

    Phạm một tội mới: có ý kiến cho rằng phạm tội mới phải được hiểu là tội đó phải hoàn toàn khác với tội đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: A phạm tội giết người và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khoảng thời gian này A lại tiếp tục phạm tội giết người nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm đối với tội giết người trước không được tính lại. Tuy nhiên với cách hiểu như vậy là chưa chính xác vì tính mới trong phạm tội mới không đồng nghĩa với việc khác biệt tội phạm được thực hiện mà tính mới được thể hiện, xem xét dưới góc độ độc lập, nghĩa là cho dù các tội phạm được thực hiện có cùng tội danh nhưng một khi đảm bảo đây là các hành vi khác nhau, không cùng trong một vụ án, tách biệt thì đã đảm bảo tính mới trong hành vi phạm tội.

    Thứ hai: Một tội phạm được thực hiện thì không đồng nghĩa với việc thời hiệu sẽ được tính liên tục và khi hết khoảng thời hạn đó người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hay đồng nghĩa họ không bị xem là có tội. Tính liên tục của thời hiệu chỉ được đảm bảo khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau:

    - Không phạm tội mới mà khung hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội đó là trên 01 năm tù (phần này chúng ta đã bình luận phía trên).

    - Không được cố tình trốn tránh: điều này đồng nghĩa với việc người phạm tội không tìm mọi cách để né tránh các chế tài của Bộ luật hình sự. Biểu hiện cho việc né tránh này là sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, người phạm tội bỏ trốn khỏi nơi cư trú, thay đổi họ tên, ra nước ngoài, phẫu thuật để thay đổi hình dạng bên ngoài…..

    - Chưa có quyết định truy nã: Khi có đầy đủ căn cứ xác định đối tượng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú hoặc không biết ở đâu mặc dù đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng vẫn không có kết quả thì Cơ quan điều tra có thẩm quyền sẽ ra quyết định truy nã đối tượng.

    Như vậy khi người phạm tội cố tình trốn tránh và Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã ra quyết định truy nã thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh đó sẽ được tính lại. Thời điểm để bắt đầu lại thời hiệu được xem xét khi người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Mặc dù người phạm tội có cố tình trốn tránh bao nhiêu lâu đi nữa mà họ vẫn chưa bị truy nã bằng một quyết định chính thức thì thời hiệu không được tính lại và khi hết thời hiệu tương ứng với loại tội phạm thực hiện, dưới góc độ pháp lý họ hoàn toàn không có tội, không một cơ quan nào có quyền truy tố xét xử họ.

    Xét đến thời điểm tính lại thời hiệu, Bộ luật hình sự hiện hành có một qui định khác so với Bộ luật hình sự 1999, thể hiện cụ thể bằng việc thay thế cụm từ “tự thú” bằng “đầu thú”. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, việc điều chỉnh này là hoàn toàn phù hợp. Để có thể hiểu rõ vai trò của việc điều chỉnh này, trước hết cần phải nghiên cứu về mặt khái niệm, tự thú là gì và đầu thú là gì?

    - Tự thú nghĩa là người phạm tội tự nhận và khai ra hành vi phạm tội của mình mặc dù hành vi của họ chưa bị phát hiện.

    - Đầu thú là khi hành vi phạm tội đã bị phát hiện, điều tra, người thực hiện hành vi biết không thể trốn thoát hoặc dằn vặt lương tâm nên ra trình diện trước cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo qui định của pháp luật.

    Từ khái niệm nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy qui định tại khoản 3 Điều 23 Bộ luật hình sự 1999 chưa thật sự phù hợp về mặt thuật ngữ. Bởi lẽ điều luật đã thể hiện rất rõ là khi và chỉ khi người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu sẽ được tính lại nhưng các nhà làm luật lại qui định thời điểm người phạm tội tự thú, điều này là hoàn toàn không có ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Vì một khi có quyết định truy nã thì điều đó đồng nghĩa với việc hành vi phạm tội đã bị phát hiện, điều tra thì chắc chắn không có việc người phạm tội lại tự thú. Qui định này không chỉ là sự nhầm lẫn về mặt thuật ngữ, câu từ mà còn tạo ra lỗ hổng lớn. Chính vì vậy, tác giả khẳng định, việc điều chỉnh lại cụm từ “đầu thú” là hoàn toàn phù hợp.

    Điều 28. Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

    Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:

    1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

    2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này;

    3. Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

    Bình Luận

    Mặc dù tại Điều 27 Bộ luật hình sự qui định rất rõ về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các loại tội phạm cũng như các trường hợp tính lại thời hiệu thì điều đó hoàn toàn không đồng nghĩa với việc 318 tội danh đều áp dụng thời hiệu nêu trên. Tương tự Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật mới này vẫn tiếp tục liệt kê các tội xâm phạm an ninh quốc gia; phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh không áp dụng thời hiệu. Xem xét các loại tội phạm này, chúng ta nhận thấy đặc điểm chung của chúng chính là tính nguy hiểm cho xã hội cũng như mức độ, phạm vi ảnh hưởng. Nghiên cứu đặc điểm của Bộ luật hình sư là công cụ đặc biệt quan trọng của giai cấp thống trị trong việc bảo vệ quyền lực của mình cũng như duy trì sự ổn định của xã hội, các tội xâm phạm an ninh quốc gia như: tội phản tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội gián điệp, tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, tội bạo loạn, tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, tội phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tội phá rối an ninh, tội phá hoại chính sách đoàn kết…đang xâm phạm và tác động trực tiếp lên quyền lợi, sự tồn vong của giai cấp thống trị. Rõ ràng tính nguy hiểm của hành vi là cực kỳ lớn, sự ổn định của giai cấp cầm quyền chính là sự ổn định cho cả một hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội. Vượt ra ngoài phạm vi của một quốc gia, vùng lãnh thổ thì các hành vi như: phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người, chiến tranh, tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê, làm lính đánh thuê đã tác động lên phạm vi liên quốc gia, khu vực, châu lục. Tất cả các tội phạm này không còn được thực hiện một cách riêng lẻ nữa mà được hình thành, liên kết thành các băng đảng tổ chức lớn, hoạt động một cách công khai và thậm chí được sự hậu thuận về mặt tài chính từ một bên thứ ba nào đó. Xét lại các tội phạm được qui định tại Chương XIII và Chương XXVI có tính nguy hiểm đặc biệt nghiệm trọng, nếu không có các biện pháp phòng chống, đấu tranh hữu hiệu thì hậu quả mà nó để lại sẽ không thể nào lường hết được.

    Bên cạnh những điểm chung thì Bộ luật hiện hành đã có những bổ sung, điều chỉnh nhất định. Cụ thể ngoài các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu nêu trên thì đến nay các tội danh sau cũng không được áp dụng thời hiệu:

    - Khoản 3, khoản 4 Tội tham ô tài sản.

    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

    - Khoản 3, khoản 4 Tội nhận hối lộ.

    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

    Đây là các tội phạm về chức vụ qui định tại Chương XXIII với đặc điểm là chủ thể đặc biệt, sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện phạm tội. Trong những năm gần đây, với sự quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước mà hàng loạt các cán bộ, các vụ án tham nhũng bị phanh phui và đưa ra xét xử. Điều này tạo ra được một tín hiệu tích cực trong công cuộc phòng chống tham nhũng, đưa cả hệ thống chính trị vào guồng trong sạch, liên khiết với chính bản thân mình và với nhân dân. Chính vì vậy mà khi soạn thảo Bộ luật hình sự mới, các nhà làm luật đã liệt kê hẳn vấn đề nhức nhối này vào trường hợp không áp dụng thời hiệu nhằm đảm bảo được một yếu tố duy nhất là truy cứu, xử lý tội phạm đến cùng. Cho dù tội phạm có được thực hiện vào thời điểm nào, không gian nào, bí mật, kín đáo ra sao thì vẫn không thoát khỏi chế tài, sự trừng phạt của pháp luật. Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc loại bỏ yếu tố thời hiệu đối với các tội danh này là một lần nữa khẳng định được quyết tâm xử lý tội phạm cũng như tạo được niểm tin ở nhân dân. 

    Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

    1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

    a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    b) Khi có quyết định đại xá.

    2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

    a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

    c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

    3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

    Bình Luận

    Xem xét, đối chiếu với các qui định về miễn trách nhiệm hình sự tại Bộ luật 1999 thì qui định này có nhiều điểm mới mà chúng ta cần phải lưu ý. Để dễ dàng nắm bắt được các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự cũng như những trường hợp khác liên quan, trước tiên cần phải làm rõ khái niệm và bản chất của việc miễn trách nhiệm hình sự.

    Pháp luật hiện hành cũng như trong lịch sử pháp luật hình sự vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về việc miễn trách nhiệm hình sự mà theo đó các nhà làm luật chỉ liệt các trường hợp nào được miễn trách nhiệm, như Bộ luật 1999:

    - “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”.

    Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn tự nhận thức được bản chất của chế định này là như thế nào. Miễn trách nhiệm hình sự chính là việc người phạm tội không còn phải chịu các hậu quả pháp lý từ hành vi phạm tội khi có các căn cứ luật định, nhưng phải khằng định rằng việc không phải chịu hậu quả ở đây chỉ đề cập đến góc độ về hình sự vì trong nhiều trường hợp mặc dù được miễn trách nhiệm hình sự nhưng người thực hiện hành vi phạm tội phải gánh chịu các hậu quả pháp lý khác như về hành chính, dân sự, lao động (bồi thường thiệt hại, bị xử phạt, đình chỉ quan hệ lao động…..).

    Việc miễn trách nhiệm hình sự theo Điều luật này được nghiên cứu dưới hai góc độ: đương nhiên và không đương nhiên. Đương nhiên được hiểu là khi một người có hành vi phạm tội nhưng có đầy đủ các điều kiện theo luật định thì họ hiển nhiên được miễn trách nhiệm hình sự mà không có bất kỳ chủ thể nào có thể ngăn cản. Không đương nhiên được hiểu là khi một người có hành vi phạm tội nhưng có các điều kiện theo luật định thì họ sẽ được cơ quan có thẩm quyền xem xét việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự.

    Thứ nhất: Trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự

    Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

    Trường hợp này được hiểu, trước đây hành vi này là nguy hiểm cho xã hội và chủ thể thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên do sự chuyển biến của tình hình thực tế, nhận thức, đánh giá sự việc…mà đã dẫn đến sự thay đổi trong chính sách, pháp luật nên hành vi này nếu xem xét theo qui định mới thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nữa. Việc miễn trách nhiệm trong trường hợp này có một số đặc điểm như sau:

    - Sự thay đổi phải được ghi nhận, thể hiện bằng văn bản có hiệu lực pháp luật, nghĩa là việc áp dụng phải có cơ sở xác đáng, ràng buộc các bên liên quan phải thi hành mà không có một ngoại lệ nào.

    - Việc miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc chấm dứt các trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự, lao động.

    Khi có quyết định đại xá

    Việc đại xá thể hiện rõ nét chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, được Quốc hội ban hành căn cứ trên tình hình thực tế, hoạt động tội phạm cũng như sự ảnh hưởng, mức độ tác động của một số loại tội phạm. Nếu căn cứ nêu trên cần phải được thể hiện rõ sự loại trừ hành vi ra khỏi nhóm các tội danh được pháp luật hình sự qui định thì việc đại xá không làm mất đi hay thay đổi các chế định pháp luật đối với các loại tội phạm đó. Nghĩa là theo pháp luật hình sự thì các hành vi mà người phạm tội được đại xá vẫn bị xem là tội phạm, người thực hiện hành vi buộc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình gây ra. Quyết định đại xá của Quốc hội sẽ là căn cứ làm cho một số loại tội phạm mà người thực hiện hành vi phạm tội không phải tiếp tục gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự nữa cho dù họ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn nào. Nếu đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì sẽ không bị điều tra, truy tố, xét xử nữa; nếu đang chấp hành hình phạt tù thì không phải tiếp tục chịu hình phạt tù còn lại, được tự do ngay lập tức và được xóa án tích, xem như chưa từng phạm tội danh được đại xá, không bị mang tiền án….Như vậy việc miễn trách nhiệm hình sự do đại xá là căn cứ phát sinh dựa trên thẩm quyền quyết định của Quốc hội khi xem xét các yếu tố, tình hình đời sống kinh tế chính trị xá hội.

    Thứ hai: trường hợp không đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự

    - Sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

    Nếu như trước đây, căn cứ theo qui định của Bộ luật hình sự 1999 thì đây chính là trường hợp người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên qui định này hoàn toàn không phù hợp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng, việc đương nhiên được miễn trách nhiệm phải dựa vào một căn cứ, qui định rõ ràng, được cụ thể hóa bằng một văn bản có hiệu lực pháp luật vì có như vậy mới ràng buộc được nghĩa vụ tuân thủ của các chủ thể liên quan cũng như bảo vệ được quyền của người phạm tội. Nhưng xuất phát từ căn cứ áp dụng là dựa trên sự chuyển biến của tình hình thì chắc chắn một điều rằng là chúng ta không thể dự liệu được một cách chính xác, tình hình có sự chuyển biến là sự thay đổi, vận động của cả một hệ thống các yếu tố, lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, pháp luật …. hoặc sự chuyển biến có thể biểu hiện ở một lĩnh vực, khía cạnh nào đó của đời sống xã hội mà làm cho người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Như vậy có thể thấy, Bộ luật hình sự 1999 đã luật hóa căn cứ này thành quyền đương nhiên được hưởng miễn trách nhiệm hình sự nhưng hoàn toàn không có một văn bản, qui định để chi tiết, cụ thể hóa sự chuyển biến của tình hình là như thế nào để xác định việc áp dụng cho người phạm tội. Bên cạnh đó, vì là sự chuyển biến nên chắc chắn sẽ có sự thay đổi liên tục, biến hóa theo từng thời điểm, trình độ nhận thức, đánh giá nên không thể áp khung một vật thể chuyển động để áp dụng cho một trường hợp.

    Chính vì vậy mà trong Bộ luật hình sự hiện hành, việc các nhà làm luật đã điều chỉnh căn cứ này từ đương nhiên được hưởng thành có thể được hưởng. Sự có thể ở đây phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đó là các yếu tố của tình hình đời sống xã hội và hơn hết là sự tùy nghi áp dụng căn cứ trên cơ sở nhận thức, nhìn nhận chủ quan của các cá nhân, tổ chức trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tội phạm.

    - Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.

    Đây là căn cứ hoàn toàn mới mà các nhà làm luật áp dụng xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. So với yếu tố “sự chuyển biến của tình hình” thì căn cứ này hoàn toàn khả thi và có cơ sở để áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên cũng cần phải xem xét chi tiết điều kiện để một người phạm tội có thể được vận dụng căn cứ này trong việc đưa ra yêu cầu được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự, cần lưu ý như sau:

    - Người phạm tội phải mắc bệnh hiểm nghèo: căn cứ để xác đinh phải dựa vào danh mục các bệnh hiểm nghèo theo qui định của pháp luật.

    - Không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội: Điều này đồng nghĩa với việc không phải bất kỳ người phạm tội nào mắc bệnh hiểm nghèo đều được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự mà còn phải xác định khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của họ trên thực tế. Ví dụ: A mắc bệnh ung thư nhưng được phát hiện, điều trị tại giai đoạn đầu nên vẫn còn khỏe mạnh, khả năng khỏi bệnh rất cao, vì vậy hoàn toàn không có cơ sở để miễn trách nhiệm hình sự cho A. Tuy nhiên, nếu xét trường hợp A bị ung thư giai đoạn cuối, đã di căn, sức khỏe ốm yếu thì cần phải xem xét áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự.

    - Người phạm tội tự thú.

    Về mặt khái niệm, nghĩa là hành vi phạm tội chưa bị phát hiện nhưng người thực hiện hành vi đã tự khai nhận và trình diện trước Cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo qui định của pháp luật. Việc tự thú để có thể hưởng quyền yêu cầu xem xét miễn trách nhiệm hình sự được thể hiện rõ nét nhất trong các loại tội phạm có đồng phạm. Bởi đối với các tội phạm được thực hiện riêng lẻ thì việc tự thú chỉ được thực hiện sau khi tội phạm hoàn thành, tức là đã đạt được mục đích mong muốn của người phạm tội trước khi thực hiện hành vi, đã gây ra hậu quả nhất định cho xã hội. Trường hợp này việc tự thú chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng khung hình phạt.

    Tự thú đối với các tội phạm có đồng phạm: nghĩa là có từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện một tội phạm. Trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện, một trong những chủ thể vì lý do nào đó mà tự thú trước cơ quan có thẩm quyền để khai nhận toàn bộ hành vi của mình cũng như khai báo hành vi chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện của các đồng phạm khác. Việc khai báo này giúp cho cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn kịp thời tội phạm, không cho hậu quả xảy ra trên thực tế hoặc hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra.

    Hành vi tự thú của một chủ thể tội phạm chỉ được xem xét áp dụng miễn trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi việc khai nhận, khai báo của họ đã mang đến những lợi ích nhất định như:

    - Hiệu quả trong việc phát hiện và điều tra tội phạm: Biểu hiện ở việc cung cấp các chứng cứ, lời khai, thông tin về các đồng phạm, địa điểm….

    - Ngăn chặn hoặc hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm: Biểu hiện ở việc giúp kịp thời ngăn chặn được hậu quả hoặc nếu hậu quả đang xảy ra thì hạn chế được đến mức thấp nhất có thể.

    Ví dụ: A, B, C và D tổ chức buôn bán ma túy từ Lào về Việt Nam, toàn bộ 2 bánh heroin được vận chuyển trót lót vào Thành phố Hồ Chí Minh và chuẩn bị phân phối cho các tụ điểm, đại lý để bán lẻ đến các con nghiện trên địa bàn. C sau đó tự thú khai nhận hành vi của mình và đồng bọn, A, B và D lần lượt bị bắt, 2 bánh heroin bị thu giữ trước khi bị phân tán đi tiêu thụ. Chúng ta thấy việc tự thú của C giúp Cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và bắt giữ tội phạm, kịp thời tịch thu các bánh heroin, bên cạnh đó từ lời khai của C mà Cơ quan điều tra có cơ sở xác định được A, B, D có liên quan đến hàng loạt vụ án buôn bán trọng điểm ma túy khác. Rõ ràng hành vi tự thú của C đã mang lại một lợi ích rất lớn trong việc xử lý tội phạm ma túy trên địa bàn nên hoàn toàn có cơ sở xem xét áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự.

    Cuối cùng một căn cứ để xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội là xuất phát từ yêu cầu, đề nghị của bị hại hoăc đại diện hợp pháp của bị hại. Căn cứ này không phải được áp dụng cho mọi loại tội phạm mà chỉ áp dụng cho: tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác. Bên cạnh qui định về loại tội phạm thì để được xem xét áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự thì người phạm tội còn phải thỏa mãn các điều kiện sau:

    - Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả: Người phạm tội phải chủ động, tự nguyện thực hiện trước khi có yêu cầu, chế tài áp dụng của cơ quan có thẩm quyền. Tính tự nguyện đánh giá được sự hối lỗi, nhận biết được sai lầm cũng như thể hiện được mong muốn bù đắp cho bị hại của người phạm tội.

    - Được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giả và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự: Bên bị tác động bởi hành vi vi phạm chủ động, bằng thâm tâm của mình mong muốn bỏ qua tội lỗi của người phạm tội mà từ đó tự đưa ra yêu cầu, đề nghị cơ quan chức năng xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa. Pháp luật qui định rất rõ, đề nghị này phải xuất phát tự sự tự nguyện, bởi lẽ trên thực tế khi có một hành vi phạm tội xảy ra, người thực hiện hành vi vì muốn né tránh các chế tài của pháp luật hình sự mà tìm mọi cách để đạt được mục đích đó mà không loại trừ yếu tố đe dọa, cưỡng ép buộc bị hại phải đưa ra yêu cầu trước cơ quan chức năng. Rõ ràng yêu cầu đưa ra trong trường hợp này không xuất phát tự sự tự nguyện, không phù hợp với ý chí của bị hại hoặc đại diện bị hại. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng việc dùng tiền bạc, vật chất để bị hại hoặc đại diện bị hại đưa ra yêu cầu không phải xuất phát từ sự tự nguyện mà đúng đắn hơn là việc mua bán, đổi chát làm cho tính nghiệm minh của pháp luật không được đảm bảo, không răn đe được tội phạm, không công bằng vì những người giàu có khi phạm tội thì dùng tiền bạc để tránh sự trừng phạt của pháp luật. Ý kiến nêu trên xét ở một khía cạnh nào đó là có cơ sở, tuy nhiên chúng ta cần nhìn nhận tổng thể, đa chiều vì căn cứ xem xét miễn trách nhiệm hình sự khi có đề nghị của bị hại hoặc đại diện bị hại chỉ được áp dụng cho loại tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội của nó không cao, trách nhiệm hình sự không nhất thiết phải được đặt ra, việc trao quyền cho phía bị hại là nên ghi nhận. Trong khi đó tại các qui định đầu, chúng ta đã hiểu Bộ luật hình sự không chỉ là công cụ để trừng phạt người phạm tội mà còn có một nhiệm vụ quan trọng không kém chính là giáo dục. Chính vì vậy, đối với các trường hợp này, các nhà làm luật đã qui định cho nó có thể trở thành một căn cứ xem xét miễn trách nhiệm hình sự là hoàn toàn hợp lý, có cơ sở. Chúng ta phải hiểu rằng, đây chỉ là căn cứ để xem xét có hay không việc áp dụng việc miễn trách nhiệm chứ không phải là trường hợp đương nhiên được miễn, do vậy khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện nêu trên thì điều kiện tiên quyết cuối cùng là sự đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Còn nữa…

     
    Báo quản trị |  
  • #486779   11/03/2018

    sontung2013
    sontung2013

    Sơ sinh

    Nam Định, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2016
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 3 lần


    Mong chủ top sớm update tiếp để mọi người còn tham khảo. Xin cảm ơn.

     

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn sontung2013 vì bài viết hữu ích
    chiakinguyen (17/05/2018) phanhuan73 (14/05/2018)
  • #486780   11/03/2018

    sontung2013
    sontung2013

    Sơ sinh

    Nam Định, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2016
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 3 lần


    Mong nhận update phần tiếp theo. Xin cảm ơn

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn sontung2013 vì bài viết hữu ích
    chiakinguyen (17/05/2018)
  • #486781   11/03/2018

    sontung2013
    sontung2013

    Sơ sinh

    Nam Định, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2016
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 3 lần


    mình muốn tham khảo thêm phần tiếp theo. Xin cảm ơn

     
    Báo quản trị |  
  • #486815   12/03/2018

    Nguồn của tài liệu này từ đâu vậy chủ topic

    Hỗ trợ các bạn những vấn đề pháp lý qua email, skype hoặc điện thoại.

    Email: lstrantrongqui@gmail.com

    Skype: QUI.LHLF

    ĐTDĐ: 0906 530 214

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn LSTranTrongQui vì bài viết hữu ích
    chiakinguyen (17/05/2018) chuc21ppt (18/05/2018)
  • #486818   12/03/2018

    chinamnhi
    chinamnhi
    Top 500
    Male
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/06/2017
    Tổng số bài viết (192)
    Số điểm: 2445
    Cảm ơn: 308
    Được cảm ơn 127 lần


    LSTranTrongQui viết:

    Nguồn của tài liệu này từ đâu vậy chủ topic

    Mình thấy chủ top có ghi nguồn từ Uselaw, chỉ có điều hơi khó thấy một chút 

    Đi không, há lẽ trở về không?

    Cái nợ cầm thư phải trả xong!

    Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt

    Trót đem thân thế hẹn tang bồng

    Đã mang tiếng ở trong trời đất

    Phải có danh gì với núi sông

    Trong cuộc trần ai, ai dễ biết?

    Rồi ra mới rõ mặt anh hùng

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn chinamnhi vì bài viết hữu ích
    chiakinguyen (17/05/2018)
  • #486823   12/03/2018

    giangmoom
    giangmoom
    Top 150
    Female
    Lớp 4

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:10/05/2017
    Tổng số bài viết (346)
    Số điểm: 5235
    Cảm ơn: 213
    Được cảm ơn 127 lần


    Rất có tâm đấy, như vậy sẽ dễ dàng cho việc xem điều luật và hiểu sâu hơn về quy định của pháp luật. Mình nhìn Bộ luật hình sự 2015 mà thấy mệt luôn, sửa quá chừng, đọc luật thôi cũng mệt chứ chưa nói đến áp dụng. Đây chỉ là luật thôi chứ sau đó lại tiếp thông tư, công văn hướng dẫn nữa thì...

     
    Báo quản trị |  
  • #491943   16/05/2018

    mong có phần 6 từ điều 37 đến điều 50

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn PhamHoan20071992 vì bài viết hữu ích
    chiakinguyen (17/05/2018)
  • #491965   17/05/2018

    chiakinguyen
    chiakinguyen
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/06/2016
    Tổng số bài viết (182)
    Số điểm: 3874
    Cảm ơn: 76
    Được cảm ơn 203 lần


    Chương VI  HÌNH PHẠT

    Điều 30. Khái niệm hình phạt

    Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

    Bình luận

    Điều luật trên được trình bày lại một cách dễ nắm bắt như sau:

    Bản chất: Biện pháp cưỡng chế (nghiêm khắc nhất) (1)

    Thẩm quyền quyết định: Tòa án (2)

    Đối tượng bị áp dụng: Người, pháp nhân thương mại phạm tội (3)

    Hướng đến: Tước bỏ (hạn chế) quyền, lợi ích (4)

    Đây là Điều luật định nghĩa về hình phạt, so với định nghĩa cũ trong Bộ Luật hình sự 1999 thì cách thức sắp xếp câu chữ có thay đổi tuy nhiên nội dung về cơ bản vẫn giống như cũ chỉ thêm phần pháp nhân thương mại cho phù hợp với đối tượng điều chỉnh theo Bộ luật mới.

    (1) Nếu thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chúng ta sẽ bị chế tài và tùy thuộc vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà chế tài chúng ta phải chịu có thể là chế tài trong lĩnh vực dân sự, hành chính, hình sự. Trong đó có thể thấy hình phạt là 1 hình thức chế tài nghiêm khắc nhất.Điều này chứng tỏ rằng mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ là những quan hệ xã hội quan trọng nhất. Biện pháp chế tài ở đây không chỉ đơn thuần là chế tài về mặt tài sản (như phạt tiền) mà nó còn là chế tài liên quan đến quyền tự do cư trú, tự do đi lại và cao nhất là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng (án tử hình).

    (2) Cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định áp dụng hình phạt là Tòa án. Tòa án ở đây phải được hiểu là Tòa án có thẩm quyền đối với từng vụ án cụ thể theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy so với các biện pháp chế tài trong các lĩnh vực pháp luật khác thì chủ thể có quyền áp dụng hình phạt là ít nhất, ít hơn rất nhiều so với chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và điều đó cũng dẫn đến một hệ quả là quy trình để đưa ra biện pháp chế tài là hình phạt cũng sẽ khó khăn hơn do tính chất phức tạp và hậu quả pháp lý mà nó mang lại.

    (3) “Người” thì chúng ta sẽ không bàn luận gì thêm vì nó hoàn toàn dễ hiểu và giống với các quy định cũ. Do đó chúng ta cùng tìm hiểu thêm về đối tượng mới được bổ sung: pháp nhân thương mại. Việc thêm đối tượng này vào phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật hình sự này được đánh giá là một tiến bộ lớn trong ngành khoa học pháp lý hình sự. Đó là cả một quá trình thai nghén, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới, tổ chức hội thảo để tiếp thu những góp ý từ những người có chuyên môn trong và ngoài nước để cho ra chế định áp dụng với đối tượng tương đối đặc biệt, lạ lẫm trong pháp luật hình sự này. Tuy nhiên do lần đầu tiên đưa vào nên cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà như tác giả đã có dịp đề cập trong các chương trước. Nhưng dù sao xét về mặt tổng thể trên hướng đi của nhà làm luật chúng ta đang đi đúng con đường và con đường này có đảm bảo có chất lượng, an toàn hay không thì trong quá trình sử dụng chúng ta sẽ biết được, đồng thời sẽ khắc phục, sửa chữa những lỗ hổng, những chỗ sai khi cần thiết.

    (4) Có thể hiểu một cách xúc tích đối tượng bị áp dụng hình phạt sẽ bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích. Mức độ ảnh hưởng có thể là bị hạn chế một số quyền, lợi ích đó hoặc là bị tước bỏ (mất hẳn). Quyền và lợi ích ở đây có thể chia làm 3 nhóm chính: Nhóm quyền về tài sản; quyền về nhân thân và quyền công dân. Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà chủ thể có thể bị hạn chế (tước bỏ) một, một số hoặc tất cả những quyền và lợi ích trên.

    Điều 31. Mục đích của hình phạt

    Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

    Bình luận

    Mục đích của hình phạt có thể được trình bày gồm các ý chính sau

    (1) không chỉ nhằm trừng trị

    (2) mà còn giáo dục ý thức tuân theo pháp luật; ngăn ngừa phạm tội mới;

    (2.1) giáo dục người khác tôn trọng pháp luật,

    (2.2) phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

    Phân tích câu chữ và cách sắp xếp ý diễn đạt của Điều luật trên dễ dàng nhận thấy mức độ quan trong của mục đích giảm dần từ (1) -> (4).Mức độ ưu tiên như vậy liệu đã ổn?

    (1) Không chỉ nhằm trừng trị như vậy có thể thấy ngay trừng trị là mục đích chính và quan trọng nhất nhưng không phải là tất cả. Quan điểm của nhà nước ta về tội phạm cũng như các nhà nước khác trên thế giới là tiến tới xóa bỏ án tử hình, giảm nhẹ sự đau khổ của tử tù khi thi hành án tử (chuyển từ hình thức xử bắn sang tiêm thuốc độc và có thể trong tương lai sẽ có các biện khác êm ái hơn). Đó là xu hướng đúng đắn và tiến bộ trong khi đó quy đinh trên mục đích trừng trị là mục đích quan trọng nhất thì tác giả  e rằng nó đã đi ngược lại với đường lối chung. Loài người chúng ta đã bước qua thời kỳ khi mà hình phạt là hình thức mạng đổi mạng, tra tấn, gây đau đớn về thể xác tinh thần (trung cổ, phong kiến) lâu lắm rồi. Chính sách của nhà nước về tội phạm cũng đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực như đã nói nhưng có lẽ quy định tại Điều luật này đã đi ngược lại với xu hướng nhân văn đó.

    (2) Hai chữ mà còn ở đây cho thấy mục đích giáo dục ý thức tuân theo pháp luật; ngăn ngừa phạm tội mới đối với người phạm tội chỉ là mục đích thứ yếu; Trong khi theo quan điểm riêng của tác giả thì đây mới là mục đích chính yếu cần phải ưu tiên hơn là mục đích trừng trị. Sự ưu tiên này vừa đảm bảo tính thống thống nhất với hướng đi và cách nhìn nhận của xã hội với tội phạm vừa đảm bảo phù hợp với xu hướng lập pháp của thế giới bên cạnh đó sẽ đảm bảo khả năng cải tạo tốt, khả năng tái phạm hạn chế đáng kể khi người phạm tội đã ý thức được giá trị của việc tuân thủ pháp luật.

    Hai mục đích (2.1) và (2.2) là những mục đích không liên quan trực tiếp đến những người thực hiện hành vi phạm tội. Những mục đích này mang mục đích phòng ngừa là chính. Một trong những phương thức để thực hiện mục đích này là thực hiện việc xét xử lưu động đối với các vụ án điểm. Việc xét xử này vừa mang tính răn đe vừa là kênh phổ biến tuyên truyền những kiến thức pháp luật. Tuy nhiên bên cạnh những mặt được hình thức này gây ra những hệ quả không tốt như ảnh hưởng đến tâm lý người phạm tội, người thân của họ cũng như những đứa trẻ khi chứng kiến việc xét xử. Chi phí cho những vụ án xét xử như vậy thông thường rất lớn và khả năng đảm bảo an ninh cũng không được an toàn. Do đó gần đây đã ngưng hình thức xét xử này.

    Điều 32. Các hình phạt đối với người phạm tội

    1. Hình phạt chính bao gồm:

    a) Cảnh cáo;

    b) Phạt tiền;

    c) Cải tạo không giam giữ;

    d) Trục xuất;

    đ) Tù có thời hạn;

    e) Tù chung thân;

    g) Tử hình.

    2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

    a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

    b) Cấm cư trú;

    c) Quản chế;

    d) Tước một số quyền công dân;

    đ) Tịch thu tài sản;

    e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

    g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

    3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

    Bình luận

    Điều luật này mang tính chất liệt kê những hình phạt có thể áp dụng đối với người phạm tội.Quy định này hoàn toàn giống với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ. Ở đây chúng ta có 2 nhóm hình phạt, nhóm hình phạt chính (1) và nhóm hình phạt bổ sung (2)

    (1) Hình phạt chính là hình phạt có thể áp dụng 1 cách độc lập hoặc áp dụng kết hợp với hình phạt bổ sung và lưu ý chỉ được áp dụng một hình phạt chính duy nhất đối với người phạm tội mà không thể áp dùng cùng lúc nhiều hình phạt chính trở lên.

    (2) Hình phạt bổ sung là hình phạt đi kèm với hình phạt chính. Nói cách khác, nếu không có hình phạt chính thì sẽ không có hình  phạt bổ sung. Khác với hình phạt chính, có thể áp dụng cùng lúc nhiều hình phạt bổ sung khác nhau ví dụ vừa có thể áp dụng hình phạt quản chế đồng thời tịch thu tài sản cùng 1 lúc.

    Tuy nhiên cần lưu ý hình phạt: Phạt tiền, trục xuất, đây là 2 hình phạt mà có thể áp dụng làm hình phạt chính và cũng có thể áp dụng làm hình phạt bổ sung (nếu không áp dụng là hình phạt chính). Như vậy có thể hiểu nếu những hình phạt chính còn lại không áp dụng với người phạm tội thì hình phạt tiền, trục xuất nếu áp dụng thì đó sẽ là hình phạt chính. Trong trường hợp đã áp dụng một hình thức phạt chính nào khác một trong hai hình phạt đã nêu thì khi áp dụng hình phạt tiền, trục xuất thì khi đó 2 hình thức này chính là hình thức phạt bổ sung.

    Điều 33. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    1. Hình phạt chính bao gồm:

    a) Phạt tiền;

    b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

    c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

    2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

    a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

    b) Cấm huy động vốn;

    c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

    3. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

    Bình luận

    Về nhóm hình phạt và nguyên tắc áp dụng hình phạt của pháp nhân thương mại không khác so với trường hợp người phạm tội. Riêng nội dung từng hình phạt chính, bổ sung bên trong thì khác biệt hoàn toàn và ít hơn nhiều so với đối tượng là người phạm tội (trừ hình thức phạt tiền). Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích một số hình phạt được quy định trong nhóm này (không được nhà làm luật quy định thành những Điều luật riêng biệt).

    (1) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

    (2) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

    (3) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

    (4) Cấm huy động vốn;

    Ở đây tác giả không hiểu từ “hoạt động” mà nhà làm luật đề cập đến nội hàm như thế nào? Nếu như hiểu hoạt động là bao gồm tất cả các hoạt động của pháp nhân thì 2 hình phạt (3), (4)  này không thể nào áp dụng cùng lúc vơi hình phạt chính (1) (2) được mà chỉ có thể áp dụng được cùng với hình thức phạt tiền (tất nhiên vẫn chưa có gì sai ở đây cả). Tuy nhiên đến khi phân tích (3) (4) chúng ta sẽ thấy có sự không rõ ràng:

    (3) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định => Hoạt động và kinh doanh là khác nhau?

    (4) Cấm huy động vốn => Huy động vốn là một hình thức khác với kinh doanh, hoạt động?

    Nếu như vậy thì hình phạt bổ sung này đã đủ khi pháp nhân thương mại đó thực hiện việc đầu tư vốn khi bị cấm kinh doanh, hoạt động, huy động thì pháp nhân đó có vi phạm? phải chăng đây là một lỗ hổng pháp lý?

    Chung quy lại, quy định như trên tạo ra một sự nhập nhằng khó hiểu và rất khó áp dụng trong thực tế. Cần có 1 sự sửa đổi hay ít nhất là một hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền để có thể áp dụng một cách chính xác, hiệu quả quy định trên.

    Điều 34. Cảnh cáo

    Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.

    Bình luận

    Đây có thể xem là hình thức phạt chính nhẹ nhất so với các hình phạt còn lại. Điều kiện để áp dụng hình phạt này khá rõ ràng:

    (1) Phạm tội ít nghiêm trọng

    (2) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ NHƯNG chưa đến mức miễn hình phạt

    (1) Là điều kiện cần, trong đó tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

    Và (2) là điều kiện đủ: Có nhiều tình tiết giảm nhẹ (từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên) nhưng phải đảm bảo chưa đến mức miễn hình phạt. Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ đến mức miễn hình phạt thì sẽ áp dụng miễn hình phạt thay vì áp dụng hình phạt cảnh cáo.  

    Điều 35. Phạt tiền

    1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:

    a) Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định;

    b) Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

    2. Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

    3. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

    4. Hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 77 của Bộ luật này.

    Bình luận

    Hình thức phạt tiền là một hình thức khá đặc biệt khi nó vừa có thể áp dụng làm hình phạt chính vừa cũng có thể làm hình phạt bổ sung.

    (1) Trường hợp áp dụng là hình phạt chính: phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng

    (2) Trường hợp áp dụng là hình bổ sung: phạm tội về tham nhũng, ma túy

    Và cả 2 hình thức nhà làm luật đều chèn thêm quy định và các tội phạm khác do Bộ Luật này quy định. Như vậy những trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 là bao gồm nhưng không chỉ giới hạn.

    Mức phạt tiền đối với những trường hợp cụ thể sẽ khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, tình hình tài sản người phạm tội, biến động giá cả nhưng tối thiểu không được thấp hơn 1.000.000 đồng

    Nội dung này có 2 vế: Vế đầu tiên thể hiện sự dự liệu và tính toán rất hợp lý của nhà làm luật khi tính đến các yếu tố biến động của giá trị đồng tiền. Tuy nhiên vế thứ 2 lại chốt một con số tuyệt đối là 1.000.000 đồng là hoàn toàn không hợp lý.

    Đây là một con số tuyệt đối và giá trị thực sự của nó sẽ thay đổi theo thời gian (có thể lên hoặc xuống nhưng thông thường là xuống do lạm phát). Nhưng vậy lấy nó làm căn cứ là không ổn, thời gian tồn tại của Bộ Luật này chắc chắn sẽ lâu hơn sự thay đổi giá trị tuyệt đối đó và như vậy chắc chắn chúng ta lại phải một lần nữa chỉnh sửa Bộ Luật này. Thiết nghĩ trong trường hợp này chúng ta nên căn cứ vào các yếu tố trung gian như mức lương tối thiểu chung chẳng hạn (thời điểm hiện tại không hơn con số 1.000.000 đồng là bao nhiêu). Như vậy khi giá trị đồng tiền có thay đổi thì cũng không dẫn đến sự thay đổi giá trị của Bộ Luật hình sự (không cần sửa đổi, bổ sung).

    Điều 36. Cải tạo không giam giữ

    1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

    Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

    2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

    3. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

    Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

    4. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

    Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

    Bình luận

    Đây là hình phạt mang tính chất giáo dục, cải tạo để người phạm tội có thể hoàn lương, trở thành công dân có ích cho xã hội, tính trừng trị trong hình phạt này gần như là không có. Hình phạt cải tạo không giam giữ có một số đặc điểm sau:

    Thời hạn áp dụng: từ 06 tháng đến 03 năm, đây là khung thời hạn áp dụng biện pháp cải tạo không giam giữ, sẽ tùy trường hợp mà áp dụng mức hình phạt cụ thể khác nhau. Tuy nhiên bặt buộc không được dưới 06 tháng và không được quá 03 năm. Không có một quy định thành văn nào nhưng thông lệ nếu xét thấy thời gian phạt cải tạo không giam giữ dưới 06 tháng thì sẽ chuyển sang hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền còn thời hạn trên 03 năm thì sẽ chuyển sang hình phạt tù có thời hạn.

    Điều kiện áp dụng: Phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

    Từ nếu ở đây cho chúng ta thấy được: phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng chỉ là điều kiện cần và chứ chưa phải là điều kiện đủ để người thực hiện hành vi phạm tội được áp dụng hình phạt này. Mấu chốt của vấn đề là việc xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội.Mà sự xét thấy đó rất mang tính cảm tính và được quyết định bởi Hội đồng xét xử (bao gồm Thẩm phán và hội thẩm). Theo tác giả, pháp luật trao một quyền khá lớn cho HĐXX trong khi không có định hướng rõ ràng tiêu chí như thế nào thì xét thấy cần hoặc không cần cách ly ra khỏi xã hội là chưa ổn dễ dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất và mang nặng tính chủ quan của HĐXX trong từng vụ án cụ thể.

    Người tiếp nhận: Cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục + sự phối hợp của gia đình. Trong từng trường hợp cụ thể mà Tòa án sẽ quyết định giao người phạm tội cho cơ quan tổ chức nơi học tập,làm việc hoặc giao cho UBND cấp xã. Việc giao cho ai này sẽ được quy định rõ trong bản án sau khi xét xử. Gia đình trong trường hợp này chỉ giữ vai trò phối hợp giám sát, giáo dục.

    Nghĩa vụ: thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

    So với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ thì việc khấu trừ này đã quy định rõ hơn về phương thức đó là khấu trừ hàng tháng. Bên cạnh đó cũng quy định thêm trường hợp không thực hiện việc khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

    Ngoài ra Bộ Luật này cũng quy định rõ nếu người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt (không có thu nhập) thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng với thời gian không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    Đây là một quy định mới và tác giả đánh giá là tiến bộ, giảm thiếu sự bất công. Bởi lẽ, nếu A và B cùng bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng A có việc làm và có thu nhập thì sẽ bị khấu trừ trong khi B thất nghiệp thì không bị khấu trừ và cũng không bị chế tài khác thay thế là vô lý. Do đó trong Bộ Luật lần này nhà làm luật đã đưa vào biện pháp có giá trị thay thế khá tương xứng với việc bị khấu trừ thu nhập là hợp lý.

    Một số lưu ý:

    Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

    Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

    Điều 37. Trục xuất

    Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

    Bình luận

    Đầu tiên có thể nói đây là hình phạt khá đặc biệt. Đặc biệt trước hết là ở chỗ nó có thể áp dụng là hình phạt chính hoặc cũng có thể là hình phạt bổ sung. Yếu tố đặc biệt thứ hai là người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt này không phải là tất cả các đối tượng mà chỉ là người nước ngoài.Hay nói các khác chủ thể của hình phạt này đã bị giới hạn.Vậy người nước ngoài là những ai?Hiện nay định nghĩa về người nước ngoài nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau trong đó có Luật Quốc tịch và Luật Xuất nhập cảnh. Theo các quy định đó có thể hiểu nôm na người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam (có thể có hoặc không có quốc tịch của bất kỳ một quốc gia nào).

    Đặt vấn đề, đối với trường hợp người có nhiều quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam thì có thể áp dụng hình phạt trục xuất được không bởi vì họ không phải là người nước ngoài.Xét trong thực tế có rất nhiều người vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch của một quốc gia khác. Đa phần các hoạt động sinh sống, làm ăn đều phát sinh ở quốc gia đó và họ thực hiện hành vi phạm tội ở Việt Nam, sự tồn tại của họ ở Việt Nam sẽ tồn tại nguy cơ gây những thiệt hại cho xã hội vậy liệu có áp dụng biện pháp trục xuất buộc phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngay lập tức được không hay bắt buộc phải làm thủ tục tước quốc tịch rồi mới áp dụng hình phạt trục xuất?

    Điều 38. Tù có thời hạn

    1. Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.

    Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm.

    Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

    2. Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

    Bình luận

    Hình thức: người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ. Cơ sở giam giữ là tên gọi mới, trước đây được gọi là trại giam. Có thể thấy ít nhiều việc thay từ trại giam thành cơ sở giam giữ cũng đem lại một cảm giác bớt nặng nề hơn cho thấy xu hướng khá tích cực trong cách nhìn nhận và đối xử với người phạm tội của pháp luật hình sự nói riêng và chính sách của nhà nước nói chung.

    Thời hạn: tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm. Tù có thời hạn, ngay chữ thời hạn đã cho chúng ta thấy việc thụ án này là một khoảng thời gian xác định nhất định, tối thiểu là 03 tháng và tối đa là 20 năm đối với một tội. Lưu ý là chỉ đối với một tội, trong trường hợp người phạm tội phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt thì mức tối đa áp dụng đối với hình phạt phạt tù có thời hạn là 30 năm theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt.

    Trường hợp không áp dụng: người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Đây là quy định mới được bổ sung so với Bộ Luật cũ cho thấy chính sách hạn chế việc lạm dụng áp hình phạt tù có thời hạn. Tuy vậy tác giả vẫn thấy có một chút gì đó thể hiện sự thiên vị nhất định khi khi điều kiện cần là lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và điều kiện đủ là có nơi cư trú rõ ràng. Như vậy giữa 2 cá nhân cùng thực hiện cùng hành vi do vô ý nhưng 1 cá nhân có nơi cư trú rõ ràng sẽ không áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng nếu một cá nhân (vô gia cư) thì lại có thể áp dụng hình phạt này. Thực sự tác giả không hiểu dụng ý của nhà làm luật ở đây như thế nào, có phải ở trong cơ sở giam giữ sẽ tốt hơn cho những người không có nơi cư trú rõ ràng? Bởi ai cũng nằm lòng câu nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, quy định như trên liệu rằng đã công bằng?

    Điều 39. Tù chung thân

    Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

    Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

    Bình luận

    Đặc điểm: Hình phạt tù chung thân cũng giống như phạt tù có thời hạn là người phạm tội phải thụ án tại cơ sở giam giữ chứ không được tại ngoại. Nhưng khác biệt rõ ở đặc điểm về thời hạn, hình phạt tù chung thân là không xác định thời hạn. Điều này làm một số người hiểu nhầm rằng nhận án chung thân là thụ án đến khi nào chết trong tù thì mới xong. Cách hiểu này hoàn toàn không đúng. Về lý thuyết bản chất của tù chung thân là không thời hạn nhưng thực tế người phạm tội có chấp hành hình phạt đó đến lúc qua đời hay không phụ thuộc rất lớn vào quá trình cải tạo của cá nhân người phạm tội đó. Nhà nước luôn có chính sách rút ngắn thời hạn, giảm hình phạt đối với những phạm nhân tham gia cải tạo tốt, đóng góp nhiều thành tích v.v…vấn đề này tác giả sẽ có dịp làm rõ chi tiết hơn tại các phần sau. Chung quy, người bị áp dụng hình phạt tù chung thân vẫn có thể có cơ hội tại ngoại được.

    Điều kiện áp dụng: phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Về mức độ nghiêm khắc thì hình phạt tù chung thân chỉ thấp hơn hình phạt tử hình và cao hơn tất cả các hình phạt còn lại. Do đó hình phạt này chỉ áp dụng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Với xu hướng hạn chế áp dụng hình phạt tử hình mà chuyển xuống chung thân như hiện nay và trong tương lai thì chắc chắn số lượng án chung thân được tuyên sẽ ngày càng tăng, kéo theo đó là một số hệ quả cần giải quyết như hệ thống nhân lực và cơ sở vật chất để đảm bảo việc thi hành án được diễn ra một cách chất lượng. Tuy nhiên theo tác giả, những hệ quả phát sinh chúng ta có thể giải quyết được và hướng đi như hiện tại là đúng, phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.

    Trường hợp không áp dụng: người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là trường hợp ngoại lệ duy nhất khi áp dụng hình phạt này. Người dưới 18 tuổi (chưa đủ 18 tuổi) là người chưa thành niên và xét ở một góc độ nào đó đối tượng này chưa thực sự nhận thức được đúng và đầy đủ tất cả các hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện. Sự chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn đó xuất phát từ việc chưa hoàn thiện sự phát triển thể chất, tinh thần dưới góc độ sinh học cũng như sự hoàn thiện về mặt nhận thức xã hôij.Đó là những nguyên nhân khách quan. Trong khi đó hình phạt chung thân là một hình phạt cực kỳ nghiêm khắc do đó nếu áp dụng trong trường hợp này sẽ không đảm bảo được tính mục đích giáo dục của hình phạt, có phần quá khắc khe và thiếu công bằng giữa những người đã trưởng thành và những người chưa thành niên.

    Tuy nhiên ở đây cũng có một vấn đề cần lưu tâm, đó là con số 18 đã phản ánh đúng thực trạng tâm sinh lý và nhận thức của một ai đó hay không, xu hướng tội phạm hiện nay đang trẻ hóa với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhiều đứa trẻ trưởng thành từ rất sớm vậy liệu chúng ta có nên hạ con số 18 tuổi này xuống? Tác giả chỉ gợi mở vấn đề, trong phạm vi bình luận này tác giả sẽ không bàn luận, hẹn có một dịp nào chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận sau.

    Điều 40. Tử hình

    1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

    2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

    3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

    b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

    c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

    4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

    Bình luận

    Đặc điểm: Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất mà pháp luật hình sự áp dụng đối với người phạm tội và hậu quả pháp lý là người phạm tội phải trả giá bằng mạng sống của mình. Xét về tính răn đe thì đây là hình phạt có tính răn đe mạnh nhất nhưng ẩn chứa trong nó vẫn có một yếu tố gì đó mang tính chất trừng trị và không mang tính chất nhân đạo vì nó tước đi quyền sống của con người (quyền tự nhiên). Do đó hiện nay trên thế giới cũng có 2 trường phái quan niệm về việc tiếp tục giữ hay loại bỏ án tử hình ra khỏi luật hình sự. Một số quốc gia đã bỏ hẳn hình phạt này, một số quốc gia tuy vẫn giữ nhưng sẽ dè chừng, hạn chế áp dụng và một số quốc gia còn lại vẫn tiếp tục duy trì và không có động thái nào về việc thể hiện xu hướng lập pháp về việc này. Việt Nam chúng ta thuộc vào nhóm thứ hai, so với Bộ Luật hình sự cũ chúng ta đã bỏ đi khá nhiều hình phạt tử hình đối với một số tội và đó cũng là hướng đi trong thời gian tới theo quan điểm của các nhà lập pháp hiện tại. Vấn đề bỏ hẳn hình phạt tử hình này trong Bộ Luật hình sự Việt Nam hay không là một vấn đề lớn và tất nhiên là luôn có 2 luồng quan điểm trái chiều, tranh cãi dữ dội của giới nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như của người dân trong xã hội. Do đó, chúng ta sẽ có dịp trao đổi cụ thể về vấn đề này ở một đề tài thảo luận pháp lý nào đó trong tương lai.

    Điều kiện áp dụng: Hình phạt này chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (loại tội phạm nguy hiểm nhất), thông thường sẽ là các tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng. Khách thể mà những tội phạm này xâm hại đến là những quan hệ xã hội rất quan trọng, cần được bảo vệ một cách an toàn nhất do đó khi quan hệ xã hội đó bị xâm phạm hình phạt áp dụng thường sẽ là chung thân hoặc tử hình để đảm bảo tính răn đe. Tuy nhiên hậu quả pháp lsy của hình phạt này rất lớn đó là tính mạng của con người chứ không đơn thuần là một số quyền, lợi ích luật định bị tước bỏ vì quyền sống là quyền tự nhiên của con người. Do vậy, pháp luật cũng rất hạn chế áp dụng hình phạt này và nêu rõ một vài trường hợp ngoại lệ sẽ không áp dụng mặc dù tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã đến mức có thể áp dụng nhằm mục đích thể hiện tính nhân đạo của nhà nước. So với trường hợp loại trừ áp dụng án chung thân thì những trường hợp loại trừ áp dụng án tử hình nhiều hơn, cụ thể bao gồm:

    Thứ nhất: người dưới 18 tuổi khi phạm tội. Lưu ý đầu tiên là thời điểm tính tuổi là khi người đó thực hiện hành vi phạm tội. Điều này cực kỳ quan trọng vì không phải khi nào hành vi phạm tội cũng bị phát hiện ngay tại thời điểm thời điểm thực hiện hành vi. Trong rất nhiều trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhưng thời điêm phát hiện, xét xử người đó đã đủ 18 tuổi thì cũng sẽ không áp dụng hình phạt tử hình. Lưu ý thứ hai là dưới 18 tuổi nhưng phải đảm bảo tối thiểu đủ 14 tuổi thì mới là độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, dưới tuổi đó không làm phát sinh trách nhiệm hình sự do không đáp ứng điều kiện về chủ thể do vậy cũng không cần phải xem xét đến việc có áp dụng hình phạt tử hình hay không. Lưu ý thứ ba, tuổi ở đây là tính theo tuổi đủ, nghĩa là đủ năm, đủ tháng đủ ngày căn cứ vào Chứng minh nhân dân (thẻ căn cước), giấy khai sinh và trong một số trường hợp là phân tích đã xác định tuổi nếu không có giấy tờ để căn cứ. Không tính tuổi theo ông, bà dân gian hay tính là cứ sinh vào năm nào thì cũng tính là 1 tuổi, một người sinh 01/01 cũng bằng tuổi với người sinh 31/12, cách này không đúng và thông thường người được tính tuổi sẽ bị già hơn 1 tuổi.

    Thứ hai: phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử. Có thể thấy thời điểm áp dụng việc loại trừ này đối với chủ thể là phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi rộng hơn chủ thể là người dưới 18 tuổi. Cụ thể thời điểm tính bao gồm cả khi phạm tội hoặc khi xét xử. Quy định này cho thấy rõ sự nhân đạo của nhà nước đối với chủ thể phạm tội khá đặc biệt phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ (dưới 36 tháng). Phần nào đó có thể hiểu trong lúc mang thai phụ nữ thường có những thay đổi lớn về tâm sinh lý (thông thường là theo hướng tiêu cực) do đó ảnh hưởng đến sự nhận thức và kiểm soát việc thực hiện hành vi của mình. Trong một số trường hợp sau khi sinh xong phụ nữ mắc một số bệnh như trầm cảm sau sinh và một số dạng bệnh lý tương tự khác do đó pháp luật dự trù việc nuôi con nhỏ trong thời hạn 36 tháng cũng khá an toàn để người phụ nữ phục hồi hoàn toàn lại tâm sinh lý và đứa trẻ cũng đủ độ tuổi nhất định để có thể chấp nhận cuộc sống không có mẹ (khi áp dụng án tử). Tác giả đánh giá quy định này khá hợp lý và nhân văn tuy nhiên việc áp dụng thời điểm là khi xét xử đã phần nào tạo cơ hội cho những người thực hiện hành vi phạm tội thực hiện việc lợi dụng để thoát án tử.

    Ví dụ: Cô E khi thực hiện hành vi phạm tội và khi bị phát hiện đưa ra xét xử hoàn toàn là một người phụ nữ bình thường, không thai nghén nuôi con nhỏ nhưng trong quá trình xét xử, trong quá trình bị tạm giam cô E đã tìm cách thông đồng với những người có liên quan để có thai và đương nhiên theo quy định sẽ không được áp dụng án tử với cô E.

    Phân tích ví dụ trên có thể thấy không hề có một sự ảnh hưởng nào về tâm sinh lý của cô E trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội (trong lúc mang thai và sau khi sinh) nhưng pháp luật vẫn đồng ý không áp dụng án tử cho cô này thì khi đó chỉ có một lý do duy nhất là nhân đạo đối với đứa trẻ sau khi sinh. Dù thực tiễn đã có không ít những trường hợp lợi dụng quy định này nhưng chính sách pháp luật của chúng ta vẫn nhất quán và không thay đổi và tác giả cũng ủng hộ quan điểm này vì tính nhân đạo của nó.

    Thứ ba: người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đây là trường hợp mới được bổ sung vào những trường hợp không áp dụng ản tử so với Bộ luật hình sự cũ. Điều đó cho thấy chính sách của pháp luật hình sự ngày càng trở nên nhân đạo và phù hợp với xu hướng của thế giới hơn. Cụ thể những người đủ 75 tuổi trở lên khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc khi xét xử thì cũng thuộc trường hợp thất thập cổ lai hy, sống thọ được 70 thì xưa nay hiếm do vậy chúng ta không áp dụng hình phạt này một phần cũng thể hiện sự kính lão, tôn trọng quy mến người già phần nào dưới góc độ sinh học thì những người đến độ tuổi này não bộ đã lão hóa nhiều không còn minh mẫn nhưng lúc trẻ do đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó trường hợp bổ sung trong Bộ luật lần này là cần thiết và hợp lý.

    Những trường hợp không thi hành án tử hình

    Bản chất của những trường hợp này là đã có bản án và bản án đã tuyên án tử hình nhưng do thuộc một số trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định sau đây mà không thi hành án tử đó mà sẽ chuyển sang tù chung thân:

    Thứ nhất: Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi

    Thứ hai: Người đủ 75 tuổi trở lên;

    Thứ ba: Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

    Tác giả sẽ không phân tích 2 trường hợp đầu vì nó giống hoàn toàn với trường hợp không tuyên án tử (phát sinh sau khi bản án tử đã có hiệu lực). Tác giả xin làm rõ hơn về trường hợp thứ ba, trường hợp hoàn toàn mới mẻ và lạ lẫm, đã gây ra không ít những luồng ý kiến trái chiều từ lúc lấy ý kiến dự thảo, thảo luận cho đến lúc nó đã chính thức trở thành quy định trong Bộ Luật hình sự.

    Điều 41.Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

    Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

    Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

    Bình luận

    Đây là hình phạt bổ sung và so với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ thì hoàn toàn không có gì khác biệt. Đây là hình phạt được áp dụng nhằm mục đích phòng ngừa khả năng tiếp tục gây nguy hại cho xã hội của người bị kết án.

    Hình phạt bổ sung này là thực sự cần thiết đặc biệt là đối với những người bị kết án nắm giữ những vị trí quan trọng mà việc tiếp tục cho họ giữ nguyên vị trí sẽ dễ dẫn đến nguy cơ gây ra những thiệt hại lớn hơn những thiệt hại đã từng gây ra.

    Có 3 dạng cấm:

    (1) Cấm đảm nhiệm chức vụ

    (2) Cấm hành nghề

    (3) Cấm làm công việc nhất định

    Thời hạn cấm tối thiếu là 01 năm và tối đa là 05 năm. Thời điểm tính thời hạn bắt đầu

    (1) Kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù

    Hoặc

    (2) Từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc người bị kết án được hưởng án treo.

    Điều 42. Cấm cư trú

    Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú hoặc thường trú ở một số địa phương nhất định.

    Thời hạn cấm cư trú là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    Bình luận

    Đây là hình phạt bổ sung trực tiếp tác động đến quyền tự do cư trú của công dân. Cụ thể trong trường hợp này người bị kết án sẽ không được phép cư trú (bao gồm tạm trú và thường trú) ở một số địa phương nhất định với thời hạn tối thiểu là 01 năm và tối đa lên đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    Địa phương ở đây có thể hiểu rộng nhất ở phạm vi tỉnh/thành phố và nhỏ nhất là xã/phường/thị trấn. Biện pháp này thường áp dụng đối với những người đã gây ra những vụ án mà sự ảnh hưởng lan rộng, đặc biệt là những hành vi gây ra sự hoang mang cho dư luận ở nơi họ thực hiện vụ án. Việc xuất hiện của những người này tại địa phương đó sẽ gây ra những nỗi ám ảnh về vụ án cho những người thân và những người xung quanh. Quy định này nhằm bảo vệ những người là nạn nhân của vụ án hình sự và cũng chính là nhằm để bảo vệ lợi ích của chính người bị kết án khỏi sự xa lánh cũng như nguy cơ phải nhận sự trả thù của gia đình nạn nhân.

     Điều 43. Quản chế

    Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

    Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định.

    Thời hạn quản chế là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    Bình luận

    Cũng giống như hình phạt cấm cư trú, hình phạt quản chế cũng tước đi quyền tự do đi lại, tự do cư trú của người bị kết án. Tuy nhiên về bản chất thì hình phạt này hoàn toàn ngược lại, nếu như hình phạt cấm cư trú cấm người bị kết án cư trú ở một hoặc một số địa phương nhất định thì hình phạt quản chế lại chỉ cho phép người bị kết án phải cư trú, làm ăn sinh sống ở một địa phương nhất định. Việc di chuyển ra vào ngoài phạm vị địa phương được cư trú phải có sự đồng ý và giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền và nhân dân.

    Mục đích của hình phạt này như đúng tên gọi của nó là nhằm quản chế, giám sát người bị kết án sau khi họ đã chấp hành xong hình phạt tù và thông thường là áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tái phạm nguy hiểm. Việc tự do đi lại của họ sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao khi khả năng họ tái phạm, khả năng kết nối với những thành phần tội phạm khác v.v…

    Điều 44. Tước một số quyền công dân

    1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:

    a) Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước;

    b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

    2. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

    Bình luận

    Đây là hình phạt bổ sung mà chủ thể áp dụng và những quyền bị tước bị giới hạn

    Đối tượng: Công dân Việt Nam. Người phạm tội theo quy định trong Bộ Luật hình sự bao gồm cả người và pháp nhân thương mại, trong đó người bao gồm cả người Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch. Tuy nhiên phạm vi áp dụng hình phạt bổ sung này chỉ là công dân Việt Nam vì những quyền bị tước theo quy định thì những đối tượng còn lại đã đương nhiên không có.

    Nội dung quyền bị tước: Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước; làm việc trong cơ quan Nhà nước; phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân. Có thể thấy những nội dung bị tước này chỉ có thể ảnh hưởng đến những người bị kết án có mong muốn vào làm, phục vụ cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang. Quy định này hoàn toàn không ảnh hưởng đến những người bị kết án không có nguyện vọng làm trong cơ quan nhà nước.

    Thời hạn: 01 – 05 năm

    Thời điểm bắt đầu tính: Kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù

    Hoặc

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

    Điều 45. Tịch thu tài sản

    Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước.

    Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

    Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

    Bình luận

    So với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ quy định này đã có một số nội dung mới hơn câu chữ cũng như cách diễn đạt của nhà làm luật.

    Thứ nhất: thay cụm từ sung quỹ nhà nước thành nộp tiền vào ngân sách nhà nước, việc thay thế này hoàn toàn phù hợp vì quỹ nhà nước là một nội dung rất chung chung và bao gồm rất nhiều các loại quỹ khác nhau. Dùng từ ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo tính thống nhất và dễ hiểu đồng thời phù hợp với các quy định của pháp luật khác có liên quan.

    Thứ hai: làm rõ thêm các trường hợp áp dụng hình phạt bổ sung này bằng phương pháp liệt kê nhưng không bao gồm: xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng. Quy định như vậy sẽ cho chúng ta dễ hình dung hơn những nhóm tội phạm có thể và thường áp dụng hình phạt bổ sung này tuy nhiên ngoài ra còn có 1 số loại tôi phạm khác mà trong Điều luật có quy định áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu tài sản.

    Một lưu ý mà cả quy định cũ và mới đều nhắc đến đó là khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống. Đây là một nội dung chỉ mang tính định hướng và theo quan điểm của tác giả thực sự nó sẽ gây khó khăn cho những người áp dụng. Bởi lẽ điều kiện sinh sống ở đây phải được hiểu như thế nào cho đúng, có phải là điều kiện sống tối thiểu theo chuẩn chung của xã hội? hay điều kiện sống của gia đình người bị kết án vì mỗi gia đình sẽ có điều kiện kinh tế và mức sống rất khác nhau. Sẽ có rất nhiều những câu hỏi cần lời gian trong việc này.

    Chương VII: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

    Điều 46. Các biện pháp tư pháp

    1. Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm:

    a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;

    b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

    c) Bắt buộc chữa bệnh.

    2. Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:

    a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;

    b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

    c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu;

    d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

    Bình Luận

    1. Để có thể hiểu rõ, nắm bắt các qui định của Luật hình sự về các Biện pháp tư pháp, trước tiên chúng ta cần đưa ra khái niệm biện pháp tư pháp là gì? Nó có đặc điểm như thể nào? Xét qui định của Luật hình sự từ Bộ luật năm 1985 cho đến nay, các nhà lập pháp không đưa ra khái niệm cụ thể mà chỉ đi thẳng vào vấn đề là qui định từng biện pháp tư pháp. Mặc dù không qui định nhưng thông qua từng biện pháp cụ thể, chúng ta có thể khái quát như sau: Biện pháp tư pháp là một chế tài được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, áp dụng đối với người phạm tội hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm ngăn chặn họ tiếp tục thực hiện hành vi. Thông qua khái niệm này, chúng ta đưa ra được đặc điểm của biện pháp tư pháp như sau:

    - Chủ thể thực hiện: vì đây là các biện pháp mang tính cưỡng chế nên chỉ có các Cơ quan tiến hành tố tụng mới có thẩm quyền áp dụng mà không có bất kỳ cơ quan, cá nhân nào được tùy nghi áp dụng.

    - Đối tượng bị áp dụng: là người phạm tội hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

    - Mục đích: ngăn chặn việc tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc hành vi nguy hiểm cho xã hội. Có quan điểm cho rằng việc áp dụng biện pháp tư pháp còn có mục đích giáo dục người bị áp dụng trở thành công dân có ích cho xã hội hay nói cách khác giúp họ nhận thức được sai lầm của mình. Xuyên suốt Bộ luật hình sự qua các thời kỳ thì chức năng của nó vẫn không thay đổi đó là trừng phạt và giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên theo nhận định của tác giả, việc áp dụng các biện pháp tư pháp chưa thực sự làm nổi bật được chức năng giáo dục như một số quan điểm đã nêu vì các biện pháp này chủ yếu tác động đến vật, tiền hoặc các lợi ích có được từ việc phạm tội nên ý nghĩa giáo dục của nó cũng bị lu mờ.

    Đối chiếu với qui định Bộ luật hình sự 1985 lẫn Bộ luật hình sự 1999 thì tại Chương qui định Biện pháp tư pháp các nhà làm luật chưa có một điều luật để thể hiện rõ các biện pháp tư pháp được áp dụng ở đây bao gồm những biện pháp nào mà chỉ đi thẳng vào từng biện pháp tương ứng với từng điều luật. Cách thể hiện này rõ ràng chưa mang tính khoa học, làm cho đối tượng nghiên cứu lẫn áp dụng khó tiếp cận cũng như nắm bắt vấn đề. Bộ luật hình sự hiện hành đã có sự điều chỉnh mà tác giả nhận định việc điều chỉnh này là cần thiết, phải đi từ cái chung đến cái riêng, từ bao quát đến chi tiết, cụ thể.

    Về đối tượng bị áp dụng: qua thực tế cũng như sự vận động của các quan hệ trong xã hội, sự thay đổi quan điểm lập pháp đối với các quan hệ pháp luật hình sự mà Bộ luật hình sự hiện hành, bên cạnh chủ thể của tội phạm là các cá nhân thì đến nay đối tượng là pháp nhân thương mại cũng bị hình sự hóa đối với các tội danh được qui định. Do vậy, các biện pháp tư pháp ngoài việc áp dụng cho các cá nhân người phạm tội còn áp dụng cho cả pháp nhân thương mại. Vì đây là hai chủ thể hoàn toàn khác nhau, trách nhiệm hình sự, các hình phạt áp dụng khác nhau nên các biện pháp tư pháp cũng có sự khác biệt nhất định.

    Biện pháp tư pháp áp dụng cho người phạm tội:

    - Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;

    - Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

    - Bắt buộc chữa bệnh.

    Biện pháp tư pháp áp dụng cho pháp nhân thương mại:

    - Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;

    - Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

    - Khôi phục lại tình trạng ban đầu;

    - Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

    Các biện pháp tư pháp như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh sẽ được tìm hiểu, phân tích rõ tại các Điều luật kế tiếp (Điều 47, Điều 48, Điều 49), riêng đối với một số biện pháp áp dụng cho cho pháp nhân thương mại sẽ được tác giả bình luận tại Chương XI - Những Qui Định Đối Với Pháp Nhân Thương Mại Phạm Tội.

    Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

    1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

    a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

    b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

    c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

    2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

    3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.

    Bình Luận

    Đây là Biện pháp tư pháp thứ nhất được qui định tại Điều 46, Biện pháp này được áp dụng cho người phạm tội lẫn pháp nhân thương mại.

    Ngay tại khoản 1 Điều này, thì Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm được thực hiện bằng phương pháp sung vào ngân sách Nhà nước hoặc tiêu hủy. Tùy thuộc vào vật đó là gì mà áp dụng biện pháp phù hợp.

    - Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: trước hết cần nhận định các công cụ, phương tiện này phải thuộc sở hữu của người thực hiện hành vi phạm tội, đối với các loại vật, tiền mà người phạm tội có được không thông qua việc xác lập quyền sở hữu hợp pháp sẽ được điều chỉnh tại khoản 2 Điều này. Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là các loại vật được người phạm tội chuẩn bị trong quá trình thực hiện tội phạm. Bàn đến đây, có thể nhiều người hiểu một cách máy móc và cho rằng các vật này phải được chuẩn bị trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội tức là giai đoạn mà việc phạm tội được cụ thể hóa bằng một hành vi nhất định, không còn là biểu hiện trong suy nghĩ. Cách hiểu này hoàn toàn không sai nhưng chưa thật sự phù hợp, sở dĩ tác giả nhận định không sai vì giai đoạn chuẩn bị phạm tội là giai đoạn mà người phạm tội hầu như đã chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các loại vật mà họ cho là cần thiết để thực hiện hành vi và đạt được mục đích phạm tội ban đầu của mình. Tuy nhiên các công cụ, phương tiên phạm tội có thể được bổ sung, thay thế, hủy bỏ trong suốt quá trình thực hiện tội phạm.

    Công cụ, phương tiện phạm tội: dao, dây thừng, bao tải, xe máy, ô tô…

    - Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có: Khác với công cụ, phương tiện phạm tội thì đây là biện pháp tư pháp nhằm vào những thứ mà người phạm tội có được trong và sau quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Qui định tại phần này thể hiện vật hoặc tiền được hình thành từ hai nguồn khác nhau. Thứ nhất là vật hoặc tiền do phạm tội mà có: Đây là những thứ mà người phạm tội chiếm đoạt được như trộm xe đạp, xe máy, laptop, tiền có được từ cướp giật, tiền có được từ việc lừa đảo, … rõ ràng người thực hiện hành vi phạm tội là đối tượng trực tiếp nắm giữ, quản lý các loại vật, tiền này mà nó không bị biến đổi, hoán đổi thành những lợi ích khác hay nói cách khác đây là các lợi ích, hiện vật bậc I. Thứ hai là vật hoặc tiền do mua bán đổi chác từ các loại vật, tiền mà người phạm tội có được khi thực hiện hành vi phạm tội: Nếu qui ước gọi các vật hoặc tiền do phạm tội mà có là các lợi ích, hiện vật bậc I thì đến đây các loại vật, tiền có được từ việc mua bán, đổi chác là các lợi ích, hiện vật bậc II. Các vật, tiền này được bị biến đổi thông qua phương thức mua bán, đổi chác, ví dụ: A trộm được xe máy và đem xe máy bán lấy tiền hay A trộm được khoản tiền lớn và sử dụng nó để mua nhà, như vậy tiền từ việc bán xe máy hay nhà có được từ việc sử dụng tiền trộm cắp là các lợi ích, hiện vật bậc II.

    - Khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội: với việc qui định áp dụng biện pháp tư pháp đối với các khoản thu lợi bất chính có được từ việc phạm tội là một điểm mới hoàn toàn của Bộ luật hình sự hiện hành so với các qui định trước đây. Thu lợi bất chính là yếu tố định khung hình phạt trong một số loại tội phạm như Điều 217a - Tội vi phạm qui định về kinh doanh theo phương thức đa cấp (thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên), Điều 217 - Tội vi phạm qui định về cạnh tranh (thu lợi bất chính 3.000.000.000 đồng trở lên), Điều 212 - Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên), Điều 201 - Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Điều 198 - Tội lừa dối khách hàng, …Như vậy có thể hiểu như thế nào về hoạt động thu lợi bất chính của người phạm tội, đây là các khoản lợi mà người phạm tội có được thông qua việc thực hiện hành vi phạm tội. Vì có được bằng hành vi bất hợp pháp nên các khoản lợi này cần phải bị áp dụng biện pháp tư pháp để xử lý.

    - Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành: Trường hợp này chỉ áp dụng đối với vật và vật này phải thuộc danh mục bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ để xác định một vật có thuộc trường hợp qui định này hay không thì dựa trên qui định của pháp luật đối với vật đó, nghĩa là nó có nằm trong danh sách cấm của Nhà nước hay không. Một khi bị cấm thì không phân biệt vật thuộc quyền sở hữu của ai, của người phạm tội hay người bị hại hay một bên thứ ba nào khác đều bị áp dụng biện pháp tư pháp, không có ngoại lệ được đặt ra.

    Không phải bất kỳ vật, tiền nào có được trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của tội phạm đều bị tịch thu, sung quỹ mà cần phải được xem xét nguồn gốc vật, tiền này là của ai, có phải của người phạm tội hay không, nó được hình thành như thế nào… chính vì vậy mà pháp luật hình sự đã qui định đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

    Trường hợp vật, tiền thuộc sở hữu của người khác nhưng người này lại có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng trong quá trình thực hiện tội phạm thì vật, tiền này có thể bị Cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng biện pháp tư pháp. Đây không phải là trường hợp đương nhiên bị áp dụng biện pháp tư pháp như đối với các mục được nhà làm luật liệt kê tại khoản 1 Điều này. Việc có tịch thu hay không cần phải được xem xét, đối chiếu dựa trên nhiều yếu tố khác nhau để từ đó mới ra quyết định cuối cùng về việc tịch thu hay không tịch thu.

    Yếu tố cơ bản, đầu tiên mang tính quyết định đó chính là yếu tố lỗi. Khi xem xét các thành tố cấu thành tội phạm tại Điều 8 Bộ luật này thì lỗi là một trong các thành tố xác định hành vi của một người/pháp nhân thương mại có phải là tội phạm hay không. Lỗi được biểu hiện ở dạng cố ý và vô ý. Trong trường hợp này, nếu một người với lỗi cố ý để người phạm tội sử dụng vật, tiền của mình thì được hiểu họ đã biết được hành vi nguy hiểm cho xã hội, biết được hậu quả sẽ xảy ra như thế nào khi người phạm tội sử dụng vật, tiền của mình thì tất nhiên toàn bộ vật, tiền đó phải bị tịch thu. Ngoài ra người này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự là một đồng phạm với vai trò giúp sức. Còn trường hợp ngược lại với lỗi vô ý thì việc tịch thu hay không cũng được đưa ra xem xét chứ không mặc nhiên hoàn trả cho người sở hữu hoặc quản lý hợp pháp.

    Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

    1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

    2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

    Bình Luận

    Một người hoặc pháp nhân thương mại khi thực hiện hành vi phạm tội, bên cạnh phải chịu hình phạt được qui định tại Chương VI Bộ luật này thì họ còn phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm về dân sự đối với bị hại. Trong một vụ án hình sự bất kỳ, luôn luôn có sự song hành giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự trừ trường hợp trách nhiệm dân sự được tách ra thành một vụ việc riêng. Đây chính là cơ chế, qui định thể hiện sự cam kết và bảo vệ đến cùng của Nhà nước khi có một hành vi xâm phạm các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ. Một hành vi phạm tội không chỉ tác động đến một quan hệ xã hội mà nó có thể tác động đến nhiều quan hệ cùng lúc do vậy đã đặt ra nhiều trách nhiệm liên quan mà người phạm tội phải gánh chịu. Vì vậy ngoài việc bị áp dụng hình phạt, người phạm tội còn phải:

    • Hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt: Chiếm đoạt ở đây được hiểu là người phạm tội có được tài sản này một cách bất hợp pháp, ngoài ý chí của bị hại. Do vậy các tài sản này phải được hoàn trả khi xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Trong trường hợp, bằng các biện pháo khác nhau mà không thể xác định được người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tài sản này sẽ được tịch thu, sung quỹ Nhà nước theo đúng qui định của pháp luật dân sự.
    • Sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất: Việc hoàn trả tài sản nêu trên chỉ được xem xét khi tài sản đó còn nguyên vẹn, không bị hư hỏng. Trường hợp không đáp ứng được yêu cầu này, bắt buộc người phạm tội phải thực hiện việc sửa chữa để khắc phục, khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản, tất nhiên tình trạng ban đầu này cũng phải đảm bảo tính giá trị của tài sản. Nếu tài sản đó không thể sửa chữa, không đảm bảo được giá trị ban đầu hoặc không còn thì người phạm tội phải bồi thường thiệt hại vật chất cho bị hại. Việc bồi thường có thể được qui đổi bằng tiền hoặc khi có sự chấp thuận của người phạm tội và bị hại thì việc bồi thường cũng có thể được thực hiện bằng một tài sản khác có giá trị tương đương.
    • Bên cạnh việc phải hoàn trả tài sản, sửa chữa, bồi thường thiệt hại vật chất thì pháp luật hình sự còn buộc người phạm tội có trách nhiệm nếu gây ra thiệt hại về tinh thần. Nếu như trước đây Bộ luật hình sự 1985 chỉ đặt ra vấn đề tổn thất về tinh thần đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng thì đến Bộ luật hình sự 1999, 2015 qui định này đã bị loại bỏ. Đồng thời Bộ luật hình sự 1985 cũng chỉ nêu trách nhiệm xin lỗi công khai mà không có bất kỳ việc bồi thường thiệt hại vật chất nào. Xét thấy, qui định này là hoàn toàn không phù hợp bởi lẽ các thiệt hại về tinh thần của bị hại đâu chỉ xảy ra đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng mà nó có thể xảy ra ở mọi loại tội phạm mà mức độ thiệt hại còn có thể gia tăng theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Điều này đồng nghĩa với việc hành vi càng nguy hiểm, hậu quả xảy ra càng lớn thì mức độ tác động đến tinh thần của bị hại cũng gia tăng theo. Do vậy với việc điều chỉnh qui định của pháp luật hình sự, theo đó bất kỳ hành vi phạm tội mà gây thiệt hại về tinh thần thì người phạm tội phải có trách nhiệm bồi thường bằng một khoản vật chất, đồng thời trong từng trường hợp, loại tội danh mà còn xem xét áp dụng chế tài buộc xin lỗi công khai.

    Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh

    1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

    2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

    3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.

    Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

    Bình Luận

    Đây là qui định mà pháp luật dự liệu các trường hợp người phạm tội bị bắt buộc chữa bệnh, đồng thời nó còn thể hiện tính chất nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội. Cho dù người phạm tội có thực hiện hành vi nguy hiểm như thế nào đối với xã hội, gây ra hậu quả ra sao, xâm phạm bao nhiêu quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ thì khi có cơ sở xác định người phạm tội mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì yêu cầu tiên quyết được đặt ra là áp dụng biện pháp tư pháp “bắt buộc chữa bênh” đối với người phạm tội. Trường hợp người phạm tội bị bắt buộc chữa bệnh có thể xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình điều tra, truy tố xét xử.

    Trường hợp 1: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh được qui định tại Điều 21 Bộ luật này. Cụ thể là “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Đây là trường hợp mà một người trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì bản thân họ đã bị các bệnh nêu trên, nếu không bị bệnh thì chắc chắn hành vi này đã không xảy ra trên thực tế vì khi đó họ có đầy đủ nhận thức để điều khiển hành vi của mình như thế nào cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội và qui định của pháp luật.

    Tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật này đã qui định rất rõ các yếu tố cấu thành tội phạm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện…”. Vì mắc các bệnh được qui định tại Điều 21 Bộ luật này mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi hay nói cách khác họ hoàn toàn không có năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy mà các đối tượng này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi mà họ thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Và trong trường hợp này, Viện Kiểm Sát hoặc Tòa án căn cứ trên kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần mà ra quyết định đưa những người này điều trị bắt buộc tại một cơ sở điều trị chuyên khoa.

    Trường hợp 2: Khác với trường hợp 1, đây là trường hợp mà người phạm tội mắc bệnh khi đang trong giai đoạn “sau khi thực hiện hành vi phạm tội đến trước khi bị kết án”. Mặc dù cũng mắc bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi nhưng những người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội danh do mình thực hiện. Vì đang trong tình trạng không còn khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi nên không thể tiếp tục buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự mà trách nhiệm này sẽ bị gián đoạn cho đến khi người phạm tội khỏi bệnh.

    Tương tự trường hợp 1, Tòa án sẽ căn cứ theo kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần mà ra quyết định buộc người phạm tội phải chữa trị tại một cơ sở điều trị chuyên khoa.

    Trường hợp 3: Đang chấp hành hình phạt tù

    Đây là trường hợp mà người phạm tội bị mắc bệnh trong khi đang chấp hành hình phạt tù, việc mắc bệnh này dẫn đến làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội. Vì vậy khi có quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì thời hạn chấp hành hình phạt tù tạm thời ngưng cho đến khi người phạm tội được điều trị khỏi bệnh. Trừ trường hợp có lý do được miễn chấp hành hình phạt, nếu không người phạm tội vẫn phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù trong thời hạn còn lại.

    Đối với trường hợp này, pháp luật qui định thời hạn bắt buộc áp dụng biện pháp chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt.Điều này có nghĩa thời hạn chữa bệnh bao lâu thì được trừ vào thời hạn hình phạt tù còn lại, nếu khi khỏi bệnh mà thời gian điều trị bằng hoặc dài hơn phần thời hạn còn lại thì người phạm tội không phải tiếp tục chấp hành hình phạt nữa.

    Cả ba trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nêu trên đều phải đảm bảo vấn đề người phạm tội chỉ khi nào điều trị khỏi bệnh thì mới tiếp tục bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt tù còn lại.Việc bệnh của người phạm tội chỉ mới dừng ở mức thuyên giảm, chưa khỏi thì không đủ cơ sở để tiếp tục truy cứu hoặc áp dụng hình phạt. 

     

    Cập nhật bởi chiakinguyen ngày 17/05/2018 09:47:17 SA
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn chiakinguyen vì bài viết hữu ích
    chuc21ppt (18/05/2018)
  • #491974   17/05/2018

    chiakinguyen
    chiakinguyen
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/06/2016
    Tổng số bài viết (182)
    Số điểm: 3874
    Cảm ơn: 76
    Được cảm ơn 203 lần


    Chương VIII  QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

    Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

    Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

    1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

    Bình luận:

    Trên đây là những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội, những căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều luật này hoàn toàn giống với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ. Trong đó căn cứ đầu tiên và có thể xem là căn cứ quan trọng nhất, bao quát nhất được nêu ra đó là: căn cứ vào quy định của Bộ Luật này (tức toàn bộ những quy định nằm trong BLHS). Có thể thấy trong quá trình xét xử vụ án hình sự sẽ luôn luôn có 2 Bộ Luật được áp dụng đó là Bộ Luật hình sự (luật nội dung) và Bộ Luật tố tụng hình sự (luật hình thức). Tuy nhiên khi quyết định hình phạt (định tội, định khung) thì sẽ chỉ căn cứ duy nhất vào Bộ Luật hình sự (luật nội dung). Căn cứ này bao hàm hết tất cả những căn cứ còn lại, bởi lẽ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ v.v…đều là những căn cứ đã được quy định tại Bộ Luật này. Việc liệt kê ra những nguyên tắc đó đảm bảo cho sự căn cứ được rõ ràng và dễ nắm bắt hơn. Bản chất của tội phạm là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và giờ Tòa án sẽ quyết định một hình phạt thích đáng với hành vi nguy hiểm cho xã hội đó. Nhưng do tính cá biệt nên không thể nào mọi hành vi nguy hiểm đều có mức độ nguy hiểm như nhau cũng như người thực hiện hành vi phạm tội cũng rất khác nhau về độ tuổi, sức khỏe, khả năng nhận thức, lý lịch tư pháp v.v…nên yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ luôn là một trong những căn cứ quan trọng mà Tòa cần phải dựa vào để quyết định hình phạt một cách đúng người đúng tội, công bằng và minh bạch.

    Thực tiễn xét xử và bào chữa của các Luật sư cho các bị cáo và phần tự bào chữa của các bị cáo thường thì sẽ tập trung phần lớn vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì đây là phần dễ mang lại lợi ích nhất. Những căn cứ còn lại như nhân thân hay mức độ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì đã quá rõ ràng vì tất cả nó đã được thể hiện trong hồ sơ của vụ án và bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Rất khó để các Luật sư có thể làm được điều thần kỳ là chứng minh từ có tội theo lời buộc tội của Viện Kiểm sát thành vô tội mà tuyệt đại đa số là sẽ tập trung vào việc giảm mức án được đề nghị xuống (tử hình xuống chung thân, chung thân xuống tù có thời hạn và rút ngắn thời hạn tù có thời hạn, từ tù giam xuống tù treo v.v…đại loại là như vậy). Đó cũng là một trong những hạn chế khá lớn đối với thủ tục tố tụng hình sự của chúng ta. Luật sư không có quyền tham gia hoặc tự thu thập chứng cứ ngay từ giai đoạn đầu tiên của vụ án mà chỉ có cơ quan điều tra mới có quyền thực hiện điều này. Chứng cứ trong một vụ án hình sự rất quan trọng do đó việc không thu thập một cách đầy đủ, chính xác hay thậm chí có việc giả mạo, ém lại một số chứng cứ quan trọng có thể làm vụ án xoay chiều từ vô tội thành có tội và ngược lại. Do đó một luật sư giỏi hoặc rất giỏi tại Việt Nam cũng chỉ là một luật sư giỏi bào chữa dựa trên những gì sẵn có và đa số sẽ là theo hướng giảm nhẹ hình phạt. Vậy nên tiếng nói và vị trí của Luật sư trong mảng tố tụng hình sự vẫn còn hạn chế nhiều, chưa phát huy được hết những sở trường cũng như khả năng suy luận, óc phán đoán. Tại một số hệ thống pháp luật đặc biệt là hệ thống thông luật (Common Law), Luật sư cũng được quyền tự mình thu thập và đánh giá chứng cứ tại hiện trường như một điều tra viên chuyên nghiệp và do đó hồ sơ của vụ án không chỉ có những chứng cứ được cung cấp của bên công tố (buộc tội) mà còn có cả những chứng cứ của bên bào chữa (gỡ tội). Vậy nên chứng cứ đảm bảo đầy đủ, toàn diện hơn và vì thế cho nên Luật sư có nhiều đất diễn hơn, không hiếm những trường hợp nhờ những chứng cứ quan trọng mà nhiều bị cáo gần như chắc chắc bị kết tội nhưng rồi những Luật sư đã làm mọi thứ thay đổi, bị cáo được tuyên vô tội. Do vậy vị trí và danh tiếng của nghề Luật sư ở những nơi đó rất được xã hội kính trọng, thu nhập đáng mơ ước và thực sự nghề luật sư là một nghề cao quý.

    Căn cứ quy định tại Khoản 2 là một căn cứ hoàn toàn mới so với những quy định trước đây, cụ thể: Khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành án của người phạm tội. Theo đánh giá của tác giả đây là căn cứ được bổ sung hết sức kip thời và cần thiết trong bối cảnh Bộ luật hình sự mới đã có thêm chủ thể là pháp nhân và đa số các chế tài áp dụng không trực tiếp thì cũng gián tiếp liên quan đến tài sản của pháp nhân đó. Do đó phải căn cứ vào tình hình tài sản và khả năng thi hành án là một điều tất yếu. Nhà làm luật chú trọng và đưa nguyên tắc này vào trong làm căn cứ quyết định hình phạt một phần không nhỏ là xuất phát từ thực tiễn xét xử và thi hành án của cơ quan tư pháp (bao gồm cả án hình sự, dân sự, hành chính). Thời gian qua đã có rất nhiều những bản án đã tuyên nhưng không thể áp dụng vào thực tiễn được, người bị hại vẫn không được đền bù, bồi thường vì đơn giản mức án đã tuyên không hề dựa trên tình hình tài sản, khả năng thi hành án của người phạm tội do đó mức án được tuyên quá cao, vượt quá khả năng đáp ứng của người thi hành mặc dù trên lý thuyết mức án đó là hoàn toàn đúng nhưng nó không thể thực hiện được do có độ chênh so với thực tế. Căn cứ mới được quy định này sẽ góp phần kết nối giữa Tòa án và cơ quan thi hành án, góp phần hạn chế án bị tồn do không thi hành được trên thực tế khi người có nghĩa vụ thi hành án không có đủ khả năng tài chính để đáp ứng trong hiện tại và tương lai.

     

     Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

    1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

    b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

    c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

    d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

    đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

    e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

    g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

    h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

    i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

    k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

    l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

    m) Phạm tội do lạc hậu;

    n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

    o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

    p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

    q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

    r) Người phạm tội tự thú;

    s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

    t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

    u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

    v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

    x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

    2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

    3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

    Bình luận:

    Điều luật này có 03 Khoản, trong đó Khoản 1 liệt kê ra các tình tiết giảm nhẹ (luật định), Khoản 2 mở rộng thêm tình tiết đầu thú và tình tiết khác (phụ thuộc vào ý chí của Tòa án và phải ghi rõ trong bản án), Khoản 3 là trường hợp không được coi hay nói đúng hơn là không áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu dần theo thứ tự ngược lại từ Khoản 3 đến Khoản 1.

    Khoản 3: Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

    Có thể hiểu một cách nôm na vắn tắt, tình tiết định tội là tình tiết mà trong cấu thành tội phạm đó bắt buộc phải có, nếu không có tình tiết đó thì sẽ không phạm tội đó. Ví dụ: Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 51 c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Đây chính là tình tiết định tội của tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 126 Bộ Luật này. Nếu không có tình tiết vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không phạm tội này mà là phạm vào một tội khác (như Tội giết người chẳng hạn).

    Khi đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành một tội phạm (phạm tội gì) thì việc tiếp theo là xác định mức phạt cụ thể đối với tội đó là bao nhiêu, khi này khái niệm khung hình phạt bắt đầu được xem xét đến. Thông thường một Điều luật sẽ có 1 hoặc nhiều khung hình phạt và sắp xếp theo hướng khung hình phạt sau cao hơn khung hình phạt trước (thường Khoản 2, 3, 4…trở đi mức phạt sẽ cao hơn Khoản 1) cá biệt có một số Điều luật được thiết kế theo hướng ngược lại (ví dụ như Điều 123 Tội giết người Khoản 1 khung hình phạt là cao nhất – tử hình, nhưng Khoản 2 mức tối đa chỉ 15 năm).

    Tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội sẽ thuộc vào một khung nhất định. Khi đã thuộc vào một khung nào đó thì sẽ xem xét đến ý nghĩa của những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Nếu một tội phạm được thực hiện mà không có bất kỳ tình tiết tăng nặng hay giảm nhe nào thì mức án được tuyên sẽ là khoảng giữa của khung. Ví dụ: Khung hình phạt áp dụng là từ 03 năm đến 07 năm tù giam thì mức án sẽ là 05 năm tù giam ((03 + 07)/2 = 05). Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể xuống dưới mức 05 năm nhưng không được thấp hơn 03 năm. Trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng thì mức phạt được tuyên có thể nhiều hơn 05 năm nhưng tối đa không quá 07 năm.

    Như vậy có thể thấy tình tiết giảm nhẹ chỉ có giá trị sau khi đã xác định người phạm tội phạm tội nào và khung hình phạt là bao nhiêu để tuyên mức phạt dưới mức trung bình của khung. Do đó khi tình tiết giảm nhẹ nào đó đã được dùng để định tội (khá phổ biến) và dùng để định khung (rất hiếm gặp – nhưng nhà làm luật vẫn quy định phòng hờ) thì sẽ không áp dụng để xem xét định lượng hình phạt nữa vì như vậy 1 tình tiết giảm nhẹ lại áp dụng đến 02 lần. Trở lại với ví dụ phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì đó đã là tình tiết định tội tại Điều 126 rồi, không thể khi quyết định hình phạt lại nêu thêm 1 tình tiết giảm nhẹ là do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 1 lần nữa.

    Khoản 2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

    So với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ thì nhà làm luật đã có thêm một gợi ý cho Tòa khi quyết định các tình tiết giảm nhẹ khác với quy định tại Khoản 1 đó là đầu thú. Như tác giả đã có dịp đề cập đến trong phần bình luận ở các chương trước, đầu thú có thể hiểu là người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nhận hành vi phạm tội của mình sau khi hành vi đó đã bị phát hiện nhưng người phạm tội đó vẫn chưa bị bắt giữ. Đầu thú hoàn toàn không giống với tự thú và do đó nó chỉ có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ chứ không thể là tình tiết được miễn trách nhiệm hình sự. Và đây là một gợi ý không hề tồi để Tòa án căn cứ quyết định hình phạt và xem đó là một tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên tình tiết này bắt buộc phải được ghi rõ lý do trong bản án chứ không đương nhiên là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1.

    Ngoài đầu thú, Tòa án cũng được quyền xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ (không bị giới hạn) nhưng với điều kiện phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong Bán án. Tuy nhiên những tình tiết khác ở đây là những tình tiết nào, có bẳt buộc phải đảm bảo các tiêu chí nhất định hay không thì trong phạm vi Bộ Luật Hình sự không hề có quy định. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:

    - Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

    - Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

    - Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;

    - Người bị hại cũng có lỗi;

    - Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

    - Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

    - Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

    - Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

    Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

     Như vậy có thể thấy đây là một quy định mở và trao quyền cho Tòa án rất lớn, chính vì vậy phần nào cũng sẽ dẫn đến những ý chí chủ quan khi xét xử ở các Tòa, các cấp khác nhau.

    Khoản 1, tác giả sẽ chỉ tập trung phân tích một số tình tiết giảm nhẹ tương đối phổ biến và cần có sự bình luận thêm để hiểu rõ hơn về những tình tiết đó:

    1. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

    Đây là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng khá phổ biến trong các vụ án hình sự và cũng được các Luật sư bào chữa cho các bị cáo áp dụng một cách triệt để nhất. Khi một hành vi phạm tội được thực hiện và đã gây ra thiệt hại (sức khỏe, vật chất) và người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì tình tiết khắc phục, bồi thường đó được xem là một tình tiết giảm nhẹ. Một vấn đề quan trọng cần lưu tâm ở đây là tự nguyện, nghĩa là chưa có một sự ép buộc nào từ phía cơ quan có thẩm quyền (bằng một bản án hoặc quyết định) yêu cầu phải thực hiện nhưng người phạm tội đã thực hiện một cách chủ động. Ví dụ: Sau khi thực hiện hành vi đâm người bị trọng thương A đã chủ động đưa đi cấp cứu và thanh toán tiền viện phí cũng như bồi thường một khoản tiền để chăm sóc cho nạn nhân. Tuy vậy người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả không đồng nghĩa phải chính người đó thực hiện việc bồi thường mà có thể người đó chủ động thông qua người nhà hoặc một ai đó thực hiện, khi đó vẫn được xem là tự nguyện, ví dụ trong trường hợp trên A không phải là người đưa nạn nhân đi cấp cứu nhưng A yêu cấu người nhà của mình chở nạn nhân đến bệnh viện và chi trả các khoản chi phí phát sinh thì vẫn được xem là tình tiết giảm nhẹ.

    2. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

    Tình tiết này giảm nhẹ này có 2 vấn đề cần chú ý, thứ nhất nguyên nhân dẫn đến thực hiện tội phạm là do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó không phải do mình tạo ra. Hiểu một cách nôm na người phạm tội xuất phát phần lớn do từ sức ép của hoàn cảnh chứ ý chí chủ quan không hoàn toàn mong muốn việc thực hiện tội phạm. Nói một cách dân dã thì phạm tội vì bất đắc dĩ phải thực hiện, nếu hoàn cảnh không đặc biệt khó khăn thì đã không thực hiện tội phạm. Nguyên nhân phát sinh tội phạm có nhiều và hoàn cảnh là một trong nhiều những yếu tố phổ biến nhất dẫn đến tội phạm – bần cùng sinh đạo tặc, nhưng không phải tất cả người rơi vào hoàn cảnh khó khăn mà thực hiện phạm tội đều xem xét là tình tiết giảm nhẹ mà có khó khăn này phải là đặc biệt – đã là đặc biệt thì rất hiếm. Ví dụ: do một cơn bão lớn đã làm đắm tàu, hết sạch thực phẩm, một số thủy thủ sống sót trong tình trạng trạng đói khát sau khi thoát nạn và tới được đất liền đã thực hiện hành vi trộm một số lượng lương thực với tổng giá trị đủ cấu thành tội trộm cắp tài sản.

    3. Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

    Đây là trường hợp phạm tội mà trước khi thực hiện tội phạm, ý chí của người phạm tội đã bị tác động bởi một bên thứ ba, tất nhiên vẫn thỏa yếu tố về mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm nhưng trước khi có hành vi thực hiện tội phạm, người phạm tội đã bị đe dọa, cưỡng bức. Thông thường các trường hợp này người thực hiện tội phạm có một sự phụ thuộc nhất định vào người thứ 3 (quan hệ gia đình, quan hệ cấp trên cấp dưới v.v…) hoặc người thứ 3 lợi dụng việc rơi vào tính trạng quẩn bách, cùng túng của đối tượng mà ép họ thực hiện hành vi phạm tội.

    Ví dụ: B bị A đe dọa bắt buộc phải thực hiện hành vi bắt cóc tống tiền C nếu không A sẽ giết cả nhà B (A là xã hội đen có máu mặt và B cũng đã từng là đàn em của A nhưng sau đó giải nghệ).

    4. Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

    Một ví dụ dễ thấy nhất để có thể hiểu được tình tiết giảm nhẹ này là các trường hợp phạm tội sau khi đã sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác như các loại ma túy v.v…dẫn đến hạn chế hoặc mất luôn khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Tuy nhiên những trường hợp hợp này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ khi không có lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: A bị ép buộc phải sử dụng ma túy đá (nếu không sử dụng sẽ bị đánh chẳng hạn) thì sau khi sử dụng và rơi vào tình trạng ngáo đá thì khi thực hiện tội phạm tình tiết này có thể xem là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên việc A chủ động sử dụng hoặc bạn bè gợi ý sử dụng hoặc sự ép buộc mang tính chất khơi gợi (A có quyền từ chối) và cũng rơi vào tình trạng ngáo thì khi thực hiện tội phạm, tình tiết này không được xem là tình tiết giảm nhẹ vì A đã có lỗi, đã tự đưa mình vào trạng thái hạn chế (mất) khả năng nhận thức.

    5. Phạm tội do lạc hậu;

    Tình tiết giảm nhẹ này thông thường áp dụng đối với người phạm tội là đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi mà tập tục còn lạc hậu. Tình tiết giảm nhẹ này cũng khá hợp lý, không phải mặt bằng trình độ nhận thức của mọi người trong xã hội này là như nhau, đặc biệt là một số vùng xa xôi hẻo lánh, không có điều kiện tiếp xúc với nền giáo dục nhiều, trình độ dân trí còn hạn chế nên đa số họ thực hiện các hành vi theo những tập tục của họ mà những tập tục đó đến nay đã không còn phù hợp thậm chí là còn vi phạm pháp luật. Một trong các biểu hiện thường thấy nhất của tình tiết này là việc các đồng bào dân tộc miến núi chữa bệnh bằng các phương pháp cổ xưa như trói lại và đánh để con ma trong người xuất ra khỏi người bệnh hoặc dìm xuống nước cho con ma bị ngạt thở mà xuất đi v.v…những cách làm này nhiều khi dẫn đến tình trạng chết người do người bệnh không chịu nổi đòn roi hay bị ngạt thở. Những trường hợp như vậy vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do sự lạc hậu mà ra (một phần do hiệu quả tuyên truyền nâng cao nhận thức còn hạn chế) nên việc xem xét giảm nhẹ là hợp lý.

    6. Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

    Tình tiết này thể hiện rõ sự khoan hồng của Nhà nước đối với những thành phần yếu thế của xã hội. Thực tế rất hiếm những trường hợp người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thực hiện hành vi phạm tội do sự tương quan về sức khỏe, thể lực. Do đó những hành vi phạm tội (nếu có) được thực hiện bởi những chủ thể này thường là những hành vi không sử dụng nhiều đến thể lực như tội cố ý gây thương tích, cướp v.v…Thông thường đó là những tội liên quan đến trộm cắp, cũng có thể là giết người nhưng thường là sử dụng thủ đoạn như đầu độc và nạn nhân thường là những người thân trong gia đình. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là những người khuyết tật thường bị xúc phạm về mặt tư tưởng hay bị xem là gánh nặng dẫn đến họ nảy sinh tư tưởng phạm tội để trả thù. Đã từng có vụ án con bị tàn tật ôm uất hận trong lòng đã đầu độc để giết cha mình vì thường xuyên bị cha mình xem là gánh nặng, chửi bới.

    7. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

    Đây là tình tiết giảm nhẹ có thể nói là được áp dụng nhiều nhất trong các bản án hình sự được tuyên. Luật sư bào chữa và bị cáo luôn tận dụng một cách triệt để tình tiết này để có thể được giảm án. Tuy nhiên thực tế đây cũng là tình tiết mà dễ bị cơ quan điều tra sử dụng làm mồi để thực hiện việc mớm cung, gây oan sai. Bị can, bị cáo thường được gợi ý khai báo sai sự thật, thừa nhận một số hành vi mà mình không thực hiện để được hứa hẹn đánh giá thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó cũng là mặt trái trong quá trình tố tụng, đặc biệt là đối với những người phạm tội không có hiểu biết nhiều về pháp luật, không sử dụng quyền im lặng đến khi có Luật sư nên dễ vào tròng của một bộ phận thực thi pháp luật không liêm chính.

    Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

    1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    a) Phạm tội có tổ chức;

    b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

    đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

    e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

    g) Phạm tội 02 lần trở lên;

    h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

    i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc17 người đủ 70 tuổi trở lên;

    k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

    l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

    m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc18 tàn ác để phạm tội;

    n) Dùng thủ đoạn hoặc19 phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

    o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

    p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

    2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

    Bình luận:

    Thoáng qua chúng ta có thể thấy cấu trúc của Điều luật này khá giống với cấu trúc của Điều luật về các tình tiết giảm nhẹ khi Khoản 1 liệt kê các tình tiết và Khoản 2 quy định nguyên tắc áp dụng. Tuy nhiên nếu xem xét kỹ chúng ta có thể thấy nếu các tình tiết giảm nhẹ được quy định theo cấu trúc mở (các tình tiết giảm nhẹ khác) thì cấu trúc quy định các tình tiết tăng nặng được quy định (chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự) đóng hoàn toàn. Như vậy, nếu như các tình tiết giảm nhẹ Tòa án được quyền ghi nhận thêm ngoài những quy định tại Khoản 1 và ghi rõ trong bản án thì đối với những tình tiết tăng nặng Tòa án hoàn toàn không được quyền thêm vào, cho dù có ghi lý do trong bản án đi chăng nữa.

    Tương quan về số lượng thì các tình tiết giảm nhẹ cũng nhiều hơn các tình tiết tăng nặng (chưa kể quy định mở). Kiểu quy định như vậy thể hiện rất rõ quan điểm của nhà làm luật, chính sách của nhà nước một cách nhất quán - hạn chế tối đa khả năng lạm quyền của cơ quan tố tụng cũng như tận dụng tối đa những yếu tố có lợi cho người phạm tội.

    Sau đây tác giả sẽ phân tích một vài tình tiết tăng nặng:

    1. Phạm tội có tổ chức;

    Đây là tình tiết tăng nặng đầu tiên mà cũng là tình tiết tăng nặng được áp dụng khá phổ biến. Tính tổ chức ở đây làm cho tội phạm trở nên nguy hiểm hơn nhiều khi thực hiện cũng như khả năng phát hiện, xử lý sẽ khó khăn hơn do đó phạm tội có tổ chức xứng đáng là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.  Có tổ chức, tức phải có ít nhất từ 2 người trở lên và những người này phải có sự câu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Mức độ câu kết càng chặt chẽ, sự phân công nhiệm vụ càng rõ ràng chi tiết thì mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội càng cao. Ơ cấp độ thấp có thể là một nhóm người cùng tổ chức thực hiện việc trộm cắp, cướp, cướp giật sau khi thực hiện xong 1 vụ thì chúng giải tán, cao hơn thì tổ chức này thực hiện nhiều vụ chứ không giải tán theo từng vụ, cao hơn nữa là những tổ chức phạm tội chuyên nghiệp, có khi thành cả tập đoàn tham gia và dính líu rất nhiều đến việc bảo kê các loại hình dịch vụ kinh doanh có điều kiện nhạy cảm như karaoke, massage, các quán bar, vũ trường v.v…có khi là liên quan đến cả cơ quan công quyền như đã từng có vụ án Năm Cam một thời.

    2. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

    Chuyên nghiệp nghĩa là người phạm tội xem việc phạm tội là một nghề để kiếm sống, tạo ra thu nhập, tất nhiên là không phụ thuộc vào việc thu nhập đó cao hay thấp, có đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hay không, miễn nó được xem là một nghề. Ví dụ: A là người vô công rỗi nghề và lấy việc trộm cắp, cướp giật làm nghề mưu sinh, ngày nào A cũng lượn lờ khu vực đông người như chợ, trường học, khu công nghiệp để thực hiện việc cướp giật, tối thì lẻn vào các khu nhà trọ để trộm cắp, có khi ngày được vài triệu có khi tay không nhưng đó đã được xem là phạm tội chuyên nghiệp.

    Phàm những gì ở đời mà đã nâng đến tầm chuyên nghiệp thì không phải là đơn giản, phạm tội mà chuyên nghiệp nữa thì hậu quả còn nguy hại hơn. Những người phạm tội chuyên nghiệp họ thường có những tài năng do bẩm sinh hoặc khổ luyện đáng đến mức nể phục. Có những tên trộm mà không một loại ổ khóa nào mà không thể mở, kể cả khóa còng số 8, có những vụ án về ma túy mà một người chỉ học hết cấp 2 đã tự mua thuốc Tây ở tiệm thuốc về điều chế ra ma túy với những công cụ hết sức thô sơ nhưng sản phẩm lại hết sức chất lượng, có thể gọi là một chuyên gia.

    3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    Đây là tình tiết tăng nặng chỉ áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn chứ không phải với bất kỳ người phạm tội nào. Tuy nhiên chỉ khi nào người đó sử dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội thì mới áp dụng tình tiết tăng nặng đó. Ví dụ: A là Kế toán trưởng của 1 doanh nghiệp Nhà nước lợi dụng chức vụ của mình, phối hợp với các đồng phạm khác thực hiện kê khai khống nhiều hóa đơn để thu lợi bất chính thì sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng này. Tuy nhiên cũng là A nhưng do mâu thuẩn cá nhân với B nên đã thực hiện việc đánh B gây thương tích 25%, trong trường hợp phạm tội này, chức vụ kế toán trưởng của A không phải là 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Chính việc có chức vụ, quyền hạn sẽ làm cho việc thực hiện tội phạm trở nên dễ dàng hơn và có chức vụ, quyền hạn nên việc phát hiện cũng sẽ khó hơn và thiệt hại gây ra thương cũng lớn hơn. Thông thường tình tiết tăng nặng thường áp dụng đối với các tội phạm kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước liên quan đến tham ô, tham nhũng, hối lộ. Rất nhiều các vụ án tham nhũng lớn (đại án) đều có hình ảnh của việc lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, đặc biệt là các tội phạm xuất phát từ lợi ích nhóm, cố ý làm trái các quy định nhà nước gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như gần đây nhất có vụ án của Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng…

    4. Phạm tội có tính chất côn đồ;

    Tình tiết này áp dụng đối với những người phạm tội manh động và lý do thực hiện tội phạm rất vô lý thể hiện rõ tính chất côn đồ. Thường đây là tình tiết áp dụng nhiều trong các vụ án xâm phạm đến tính sức khỏe, tính mạng của nạn nhân. Phổ biến nhất trong xã hội hiện tại là các vụ gây gổ đánh đập, chém giết lẫn nhau vì bị cho là nhìn đều hoặc va quẹt giao thông nhẹ nhưng lại xô xát cãi nhau và gây án. Đây là những trường hợp thấy rõ nét nhất tính chất côn đồ của tội phạm. Cũng cần lưu ý rằng thông thường tình tiết này hay áp dụng cho các dân anh, chị (xã hội đen) nhưng không đồng nghĩa chỉ có những người có lý lịch bất hảo này mới bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Chỉ cần thỏa điều kiện có tính chất côn đồ thì sẽ áp dụng, có nhiều người tuy lần đầu tiên thực hiện tội phạm nhưng cũng lộ rõ tính chất côn đồ, có nhiều dân anh chị nhưng khi thực hiện tội phạm lại không áp dụng tình tiết này.

    5. Phạm tội vì động cơ đê hèn;

    Có những tội phạm được thực hiện do có động cơ thúc đẩy, có những tội phạm thì không và việc thực hiện tội phạm có động cơ hay không có động cơ không ảnh hưởng đến quyết định hình phạt nó chỉ có ý nghĩa trong việc xác định có phạm tội hay không (có đảm bảo các yếu tố cấu thành tội phạm). Tuy nhiên động cơ đê hèn là 1 tình tiết tăng nặng và vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định hình phạt. Như vậy như thế nào là động cơ đê hèn? Động cơ là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm, đê hèn là thấp kém, hèn hạ đáng khinh bỉ, không thể chấp nhận được. Đây là tình tiết tăng nặng mà ít nhiều sẽ phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của hội đồng xét xử cũng như nhận định của Viện Kiểm sát. Thực tế có nhiều tình tiết có thể xếp vào động cơ đê hèn như giết vợ (chồng) để được lấy bồ nhí, giết người yêu để để trốn tránh trách nhiệm làm cha đối với thai nhi, giết chủ nợ để trốn nợ v.v…

    6. Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

    Cố tình (cố ý) thực hiện tội phạm đến cùng nghĩa là trong quá trình thực hiện tội phạm, người phạm tội đã vấp phải sự phản kháng, có thể là sự chống trả từ chính nạn nhân hoặc cũng có thể là sự can thiệp từ những người xung quanh nhưng vẫn không có ý định dừng việc phạm tội mà quyết tâm vượt qua trở ngại để tiếp tục thực hiện đến cùng tội phạm mà mình mong muốn. Rõ ràng đây là một tình tiết tăng nặng thể hiện sự không dừng lại, quyết tâm cao độ của người thực hiện tội phạm. Ví dụ: A dùng dao tấn công để giết B nhưng bị B chống trả quyết liệt nên cũng bị thương tích. Tuy vậy A đã không chịu dừng lại và cố kiếm cách để giết B, sau một hồi giằng co, cuối cùng A cũng giết được B.

    7. Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

    Người thực hiện tội phạm không nhất thiết phải hướng tới việc gây hại cho nhiều người nhưng do thủ đoạn và phương tiện thực hiện lại có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Ở đây là có khả năng chứ không bắt buộc hậu quả gây hại cho nhiều người đã xảy ra. Ví dụ: A muốn giết B nên đã dùng thủ đoạn đầu độc vào nguồn nước uống của gia đình B, hay A dùng xe tải (nguồn nguy hiểm cao độ) để tông (đâm) B khi B đã lưu thông trên đoạn đường có đông người qua lại.

    Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

    1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

    a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

    b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

    Bình luận:

    Hiểu nôm na tái phạm là việc lặp lại hành vi phạm tội, nghĩa là trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới đều được xem là tái phạm quy định tại Điều luật này. Cụ thể để đảm bảo tái phạm phải đảm bảo 2 điều kiện:

    (1) Đã bị kết án và chưa xóa án tích

    (2) Phạm tội do cố ý hoặc phạm tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    Như vậy có những trường hợp loại trừ sau đối với tái phạm:

    - Thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích;

    - Phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vô ý.

    Tuy nhiên, đã bị kết án phải hiểu như thế nào cho đúng và thống nhất thì hiện nay chưa có. Có quan điểm cho rằng đã bị kết án thì bản án đó phải là bản án đã có hiệu lực pháp luật, có quan điểm cho rằng chỉ cần có bản án thì đã được xem là bị kết án mà không cần phải đợi đến khi bản án đó có hiệu lực. Riêng tác giả đồng ý với quan điểm rằng đã bị kết án phải hiểu là bản án đã được tuyên và có hiệu lực pháp luật, trong trường hợp bản án chưa có hiệu lực nếu có hành vi phạm tội mới thì hoàn toàn có thể áp dụng tổng hợp nhiều bản án và như vậy không cần phải áp dụng tình tiết tái phạm nữa vì khi đó nó sẽ trở nên thừa.

    Tái phạm nguy hiểm bao gồm 2 trường hợp:

    Trường hợp 1:

    (1) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích

    (2) Phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

    Từ trường hợp này có thể thấy rằng rất dễ xảy ra sự nhầm lần giữa tái phạm và tái phạm nguy hiểm, bởi lẽ như đã phân tích điều kiện để thỏa mãn tái phạm bao gồm:

    (1) Đã bị kết án và chưa xóa án tích

    (2) Phạm tội do cố ý hoặc phạm tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    Như vậy tái phạm bao gồm trong đó có cả tái phạm nguy hiểm, nghĩa là nếu thỏa điều kiện tại phạm nguy hiểm (trường hợp 1) thì đương nhiên sẽ thỏa điều kiện tái phạm nhưng nếu thỏa điều kiện tái phạm thì chưa chắc đã là tái phạm nguy hiểm. Do đó hơi ngược một xíu nhưng đầu tiên chúng ta phải xem xét có tại phạm nguy hiểm hay không, nếu không thì mới xét đến có thỏa điều kiện tái phạm hay không chứ không phải làm ngược lại.

    Trường hợp 2:

    (1) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích

    (2) Phạm tội do cố ý

    Đây là trường hợp dễ nhận biết và không thể bị nhầm lẫn với trường hợp tái phạm do điều kiện cần đầu tiên là phải tái phạm rồi, tức hành vi phạm tội gần nhất tối thiểu phải là hành vi phạm tội thứ 3. Trường hợp này có 1 khả năng không bị xem là tái phạm nguy hiểm khi hành vi phạm tội thứ 3 đó là hành vi phạm tội do vô ý (không cần xét đến tính loại tội phạm đã thực hiện là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng)

    Mục 2. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

    Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

    1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

    2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

    3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

    Bình luận:

    Nếu so sánh quy định này với quy định cũ tại Điều 47 BLHS 1999 thì Bộ Luật mới đã thêm trường hợp quy định tại khoản 2 và mở rộng hơn việc áp dụng (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề) đối với người phạm tội lần đầu với vai trò là người giúp sức và việc đóng góp không đáng kể. Bên cạnh đó quy định mới cũng tách ra làm 3 Khoản rất rõ rệt, dễ đọc dễ nắm bắt hơn so với quy định cũ khi tất cả nội dung dồn vào một đoạn mà không có sự chia tách để đảm bảo tính truyền đạt nội dung quy phạm.

    Trước tiên chúng ta cần phân tích để hiểu hơn về Điều luật trên. Quá trình để tuyên một Bán án hình sự rất dài dòng, phức tạp tuy nhiên để dễ hiểu, tác giả sẽ nêu một cách vắn tắt nhất.

    Bước 1: Định tội (xem bị cáo phạm tội gì)

    Bước 2: Định khung hình phạt (xem bị cáo sẽ thuộc khung hình phạt nào của tội đó)

    Bước 3: Định lượng hình phạt (xem bị cáo bị phạt ở mức cụ thể là bao nhiêu (tiền, năm tù, v.v…)

    Trong 3 bước này thì bước 2 là bước mà chúng ta sẽ quan tâm vì nó có liên quan trực tiếp đến quy định tại Điều luật này, cụ thể: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

    Như vậy việc đầu tiên cần làm là phải biết khung hình phạt là gì? Đã nói đến khung là chúng ta phải nói đến một khoảng, có điểm thấp nhất và cao nhất (giống như điểm sàn và điểm trần của khung giá) và về nguyên tắc khi đã xác định được khung hình phạt thì Tòa án chỉ được tuyên hình phạt nằm trong giới hạn của khung đó, nếu không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức án được tuyên sẽ là trung bình cộng điểm thấp nhất và cao nhất, ví dụ: khung từ 3 – 7 năm thì mức tuyên trong trường hợp này là 5 năm. Nếu càng nhiều tình tiết tăng nặng thì mức án được tuyên sẽ càng tiệm cận đến trần. Trường hợp ngược lại, có càng nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức án sẽ càng tiệm cận đến mức sàng (tối thiểu). Tuy nhiên dù lên trần hay xuống sàn thì mức án được tuyên bắt buộc phải nằm trong giới hạn, đó là nguyên tắc. Tuy nhiên, Điều 54 là ngoại lệ khi pháp luật cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung (lọt sàn). Pháp luật cũng giới hạn chỉ có 2 trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng:

    Trường hợp 1: Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

    Trường hợp ngoại lệ này có 2 lưu ý, lưu ý đầu tiên là số lượng tình tiết giảm nhẹ ít nhất phải từ 2 trở lên và tình tiết đó phải là những tình tiết đã được nhà làm luật chỉ định rõ tại Khoản 1 Điều 51. Trở lại với các tình tiết giảm nhẹ chúng ta có thể thấy tại Khoản 2 Điều 51 cho phép Tòa án mở rộng thêm các tình tiết giảm nhẹ kèm theo điều kiện ghi rõ lý do trong Bản án, nhưng những tình tiết giảm nhẹ đó sẽ không có giá trị (không được tính số lượng) để quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung. Quy định này được kế thừa từ những quy định cũ, không có gì mới lạ cho thấy quan điểm của nhà làm luật không đổi, cho phép Tòa án mở rộng tình tiết giảm nhẹ nhưng cũng kiềm chế việc lạm dụng nhằm chạy án.

    Lưu ý thứ hai chính là giới hạn của việc lọt sàn, chính xác là bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Thực ra nếu không có 2 từ nhẹ hơn thì chúng ta cũng bắt buộc phải hiểu là nhẹ hơn vì không có chuyện lọt sàn mà lại nặng hơn, tuy vậy để đảm bảo tính chính xác tường minh thì việc quy định thêm hai chữ nhẹ hơn cũng không có gì là thừa. Thêm vào đó phải là liền kề, vì có thể trong một Điều luật (về một tội phạm) có rất nhiều khung khác nhau do vậy từ liền kề giới hạn rõ độ rơi của quyết định hình phạt, không cho phép lọt qua khung liền kề đến khung kế tiếp.

    Ví dụ: Điều 173. Tội trộm cắp tài sản có các khung

    i) [phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm]

    ii) [Phạt tù 02 – 07 năm]

    iii) [Phạt tù 07 – 15 năm]

    iv) [Phạt tù 12 – 20 năm]

    Giả định Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung iii) nhưng do có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 nên Tòa án có sử dụng quy định tại Điều Luật này để tuyên mức án nằm trong khung ii) nhưng không được xuống tới khung i)

    Trường hợp 2: Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn).

    Như đã đề cập đây là trường hợp hoàn toàn mới so với quy định cũ, mới cả về trường hợp được áp dụng và mới cả về giới hạn lọt sàn. Cụ thể, nếu trường hợp 1, việc lọt sàn bắt buộc phải rơi váo khung hình phạt liền kề thì trong trường hợp này việc lọt sàn không bắt buộc phải như vậy, trở lại ví dụ phía trên nếu Tòa xác định khung hình phạt áp dụng vẫn là iii) thì khi vận dụng quy định này Tòa có thể ra quyết định phạt trong khung i) mà không bắt buộc là khung ii), lưu ý là không bắt buộc chứ không phải là không, nghĩa là Tòa vẫn có quyền tuyên quyết định phạt ở khung ii) nếu xét thấy phù hợp.

    Đối tượng mà nhà làm luật hướng đến ở đây là những người đồng phạm với vai trò là người giúp sức (bản thân vai trò này đã cho thấy mức độ gây thiệt hại cho xã hội đã ít hơn nhiều so với vai trò chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, thực hành), thêm vào đó sự giúp sức này đóng góp không đáng kể, tức mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đã ít lại càng ít thì sẽ thuộc điều chỉnh của quy định này. Đó cũng là nguyên nhân mà việc lọt sàn không bị giới hạn ở khung liền kề và xét thấy quy định như vậy đã là khá hợp lý.

    Có một vấn đề là không phải Điều luật nào cũng có nhiều khung hình phạt hoặc khung hình phạt Tòa án đang định áp dụng đã là khung hình phạt thấp nhất (không có khung liền kề nhẹ hơn) thì không thể áp dụng 2 quy định tại Khoản 1 và Khoản 2. Do đó nhà làm luật đã dự liệu luôn trường hợp này tại Khoản 3, cụ thể như sau:

    Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

    Giả định trường hợp trên xảy ra thì Tòa án có 2 sự lựa chọn: Một là tuyên hình phạt dưới mức thấp nhất của khung ví dụ khung hình phạt là [03 – 07 năm tù] và đã là khung thấp nhất thì Tòa có thể tuyên dưới 03 năm hoặc chuyển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền v.v…tùy từng trường hợp cụ thể.

    Điều 55. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

    Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

    1. Đối với hình phạt chính:

    a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

    b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

    c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

    d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

    đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

    e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.

    2. Đối với hình phạt bổ sung:

    a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

    b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

    Bình luận:

    Đây là Điều luật quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp người phạm tội phạm nhiều từ và xét xử cùng 01 lần, nghĩa là chỉ có 1 Bản án và 1 mức hình phạt chung duy nhất trong trường hợp này. Điều đó khác với việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 56 mà tác giả sẽ phân tích sau.  

    Điều luật này được thiết kế rất rõ ràng, dễ hiểu đó là lý do vì sao nó kế thừa hoàn toàn quy định cũ tại Điều 50 BLHS 1999 mà không có bất kỳ sửa đổi, bổ sung nào. Chiếu theo quy định chúng ta thấy việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội không hề khác với việc quyết định hình phạt khi phạm một tội, nghĩa là Tòa án sẽ căn cứ vào cáo trạng của Viện Kiểm sát, lời bào chữa của bị cáo, luật sư, các chứng cứ cũng như nhân thân người phạm tội v.v…để quyết định hình phạt. Điểm khác biệt duy nhất là chỗ tổng hợp hình phạt sau cùng để ra một mức án chung. Như vậy trong trường hợp xét xử người phạm tội phạm nhiều tội sẽ có 2 bước rất rõ ràng (và cũng được nêu rõ trong Bản án).

    Bước 1: Xét xử từng tội phạm cụ thể và quyết định hình phạt cho từng tội

    Bước 2: Tổng hợp các hình phạt của từng tội để cho ra một hình phạt chung sau cùng.

    Bước 1 như tác giả đã nói nó hoàn toàn giống với quyết định hình phạt đối với một tội nên không có gì để bàn thêm. Riêng bước 2 sẽ có một vài lưu ý nhỏ:

    Lưu ý 1: Tổng hợp hình phạt chia theo hình phạt chính và hình phạt bổ sung (sẽ có cách cách tổng hợp khác nhau)

    Lưu ý 2: Đối với hình phạt chính có 2 kiểu tổng hợp:

    Kiểu 1: Tổng hợp theo phương pháp cộng dồn nhưng không được quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn. Ví dụ: A phạm tội trộm cắp bị tuyên phạt 05 năm tù, phạm tội cướp phạt 20 năm tù; phạm tội cướp giật 10 năm tù thì tổng hợp hình phạt của A = 05 + 20 + 10 = 35 năm nhưng đã vượt quá giới hạn 30 năm nên sẽ lấy mức 30 năm tù.

    Kiểu 2: Tổng hợp theo phương pháp thu hút (hình phạt cao nhất sẽ thu hút các hình phạt còn lại), kiểu này chỉ áp dụng nếu trong những tội phạm phải có ít nhất 1 tội bị tuyên án chung thân, tử hình. Nếu mức án nặng nhất là chung thân thì sẽ quyết định hình phạt cuối cùng sẽ là chung thân và tương tự đối với mức án tử hình. Ví dụ: A Bị tuyên 10 năm về tội cướp giật, 20 năm về tội cướp và tử hình về tội giết người thì tổng hợp hình phạt sau cùng là sẽ là tử hình.

    Riêng hình phạt tiền và trục xuất là 02 hình phạt khá đặc biệt, nó có thể được áp dụng là hình phạt chính và cũng có thể áp dụng là hình phạt bổ sung và sẽ không được tổng hợp với các hình phạt khác, riêng hình thức phạt tiền các khoản tiền phạt sẽ được cộng lại thành mức phạt chung (theo phương pháp cộng dồn mà không giới hạn mức tối đa).

    Lưu ý 3: Tổng hợp đối với hình phạt bổ sung có 3 kiểu:

    Kiểu 1: Cộng dồn nhưng có giới hạn mức tối đa đối với các hình phạt bổ sung cùng loại và mức giới hạn sẽ theo quy định đối với từng loại đó. Ví dụ: A phạm tội 1 bị áp dụng hình phạt bổ sung là Quản chế với thời hạn 03 năm; tội 2 bị áp dụng hình phạt Quản chế với thời hạn 04 năm. Tổng hợp hình phạt = 03 + 04 = 07 năm nhưng mức hình phạt bổ sung tối đa đối với Quản chế là 05 năm (Điều 43) nên mức phạt cuối cùng sẽ là 05 năm.

    Kiểu 2: Cộng dồn nhưng không giới hạn mức tối đa. Kiểu tổng hợp này chỉ áp dụng duy nhất đối với hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Ví dụ: Với tội 1 A bị phạt tiền 500 triệu đồng, tội 2 là 300 triệu đồng, tội 3 là 200 triệu đồng, tổng hợp hình phạt sau cùng sẽ là 1 tỷ đồng.

    Kiểu 3: Hỗn hợp tất cả các hình phạt. Kiểu này áp dụng khi các hình phạt bổ sung đã tuyên là khác loại. Khi đó người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã được tuyên đó. Ví dụ: A phạm tội 1 bị áp dụng biện pháp cấm cư trú, phạm tội 2 bị áp dụng hình phạt tước một số quyền công dân, phạm tội 3 bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản. Tổng hợp sau cùng A phải thực hiện cả 3 hình phạt bổ sung trên.

    Điều 56. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

    1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

    Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

    2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

    3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

    Bình luận:

    Đây là trường hợp tổng hợp trong khi người phạm tội đang phải chấp hành một bản án mà sẽ tiếp tục xét xử để ra thêm một bản án khác do một tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án đang chấp hành hoặc trong khi đang chấp hành bản án đó.

    Đối với 2 trường hợp này (phạm tội trước và sau thời điểm có bản án đầu tiên) sẽ có 2 cách tổng hợp khác nhau và đương nhiên hậu quả pháp lý cũng hoàn toàn khác nhau. Chúng ta sẽ cùng phân tích 2 trường hợp này qua một ví dụ sau để thấy sự khác biệt:

    Ví dụ 1: A bị tuyên án 20 năm tù và đã chấp hành hình phạt được 10 năm. Sau đó A bị phát hiện đã thực hiện một tội phạm khác trước thời điểm có bản án đầu tiên và Tòa tuyên mức án với Tội đó là 15 năm. Tổng hợp hình phạt sẽ là 30 năm (mức tối đa đối với hình phạt tù). Do A đã chấp hành được 10 năm nên thời hạn chấp hành còn lại sẽ là 20 năm.

    Ví dụ 2: A bị tuyên án 20 năm tù và đã chấp hành hình phạt được 10 năm. Sau đó A thực hiện hành vi phạm tội mới và Tòa tuyên mức án với Tội đó là 15 năm. Do A đã chấp hành hình phạt đầu tiên được 10 năm nên thời gian còn lại là 10 năm, cộng với hình phạt mới là 15 năm. Tổng hợp hình phạt, A phải chấp hành hình phạt là 25 năm.

    Như vậy điểm khác biệt lớn nhất của 2 trường hợp này chính là thời điểm thực hiện tội phạm, nếu trước khi có bản án đang chấp hành thì sẽ tổng hợp trước rồi sẽ trừ thời gian chấp hành sau (theo hướng lỗi thuộc về cơ quan công quyền do không phát hiện tội phạm). Nếu tội phạm mới được thực hiện sau khi đã có bản án thì sẽ trừ thời gian chấp hành trước khi thực hiện việc tổng hợp bản án (theo hướng lỗi thuộc về người phạm tội đã không thực hiện cải tạo tốt). Do đó hậu quả pháp lý theo cách này sẽ nặng nề và bất lợi hơn so với cách tổng hợp đầu tiên. Theo như ví dụ sự chênh lệch đó là 05 năm tù.

     

    Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

    1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

    2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

    3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Bình luận:

    Như chúng ta đã biết không phải đến khi tội phạm hoàn thành mới phát sinh trách nhiệm hình sự mà đối với một số loại tội phạm ngay khi giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng đã phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội dự kiến thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa đạt.

    Điều luật này so với quy định cũ tại Điều 52 BLHS 1999 ngoại trừ Khoản 1 liên quan đến căn cứ quyết định mức phạt là giống nhau, còn lại Khoản 2 và Khoản 3 có rất nhiều sự khác biệt.

    Trước tiên chúng ta sẽ cùng xem xét phân tích quy định cũ tại BLHS 1999

    Điều 52. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

     

    2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

    3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư  mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Quy định trên cho thấy rất rõ mức hình phạt áp dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo hướng chuẩn bị phạm tội sẽ được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn. Cụ thể, nếu mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình thì mức cao nhất không quá 20 năm tù, nếu tù có thời hạn thì không quá ½ mức phạt tù mà điều luật quy định. Trong khi đó đối với trường hợp phạm tội chưa đạt , nếu mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình thì vẫn có thể áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nếu tù có thời hạn thì không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Tuy nhiên, khi vấn đề trên được quy định tại BLHS mới thì đã có nhiều sự khác biệt, cụ thể:

    Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

    2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

    3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Như vậy có thể thấy cách xác định mức phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội quy định tại Khoản 2 đã hoàn toàn khác so với quy định cũ. Sẽ không còn nguyên tắc xác định mức tối đa dựa theo mức hình phạt mà điều luật đó quy định mà sẽ căn cứ vào khung hình phạt được quy định trong các Điều luật cụ thể. Sự khác biệt này xuất phát từ sự khác biệt về kỹ thuật lập pháp giữa 2 Bộ luật. BLHS cũ không hề quy định khung hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội mà chỉ quy định trong trường hợp thông thường và Tòa án phải dựa vào nguyên tắc được quy định tại Khoản 2 Điều 52 để xác định mức hình phạt. Tuy nhiên đến BLHS mới, việc xác định này đã được các nhà làm luật thực hiện luôn bằng việc đưa ra khung hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và Tòa chỉ cần dựa vào khung đó để quyết định mức hình phạt.

    Ví dụ:

    Điều 108. Tội phản bội Tổ quốc

    3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    Điều 123. Tội giết người

    3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    Cách làm trên đã góp phần giảm tải việc quyết định mức hình phạt của Tòa cũng như góp phần đảm bảo tính thống nhất hơn giữa các Tòa khi quyết định hình phạt, hạn chế sự tự do quyết định khi đã ban hành khung hình phạt cố định cũng như nhìn vào một điều luật có thể xác định được ngay người phạm tội đó trong giai đoạn chuẩn bị có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Ví dụ:  Điều 140. Tội hành hạ người khác; Điều 141. Tội hiếp dâm, nhà làm luật không hề có quy định khung hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội. Điều đó đồng nghĩa với việc người chuẩn bị phạm 2 tội này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, đối chiếu với Khoản 2 Điều 14 Bộ luật này chúng ta có thể thấy ngay kết luận trên là chính xác.

    Một khác biệt nữa cũng rất quan trọng đó là khác biệt về xác định mức phạt cao nhất trong trường hợp phạm tội chưa đạt mà điều luật quy định mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình. Nếu như quy định tại Bộ luật cũ vẫn cho phép áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì Bộ luật mới giới hạn tối đa sẽ là mức phạt tù 20 năm (bằng với mức cao nhất của trường hợp chuẩn bị phạm tội tại Bộ Luật cũ). Đây là quy định rất có lợi cho người phạm tội, thể hiện tính nhân đạo ngày càng cao của quan điểm lập pháp trong mảng hình sự của nhà nước ta.

    Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

    Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

    Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

    Bình luận:

    Đây là Điều luật có thể hiểu là nguyên tắc để quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. Theo đó việc quyết định hình phạt phải chú ý đến tính cá thể hóa từng cá nhân đồng phạm, cụ thể là xét đến vai trò của từng đồng phạm, mức độ công sức đóng góp trong việc thực hiện tội phạm. Điều này hoàn toàn hợp lý vì không phải cá nhân nào trong vụ án có đồng phạm đều gây ra những hậu quả giống nhau chưa kể từng cá nhân sẽ có các yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau do đó khi quyết định hình phạt Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào các yếu tố này. Điều luật này cũng giống hoàn toàn với Điều luật cũ và đã khá rõ ràng nên cũng không có nhiều vấn đề để cần phải làm rõ thêm, mọi thứ được trình bày rất rõ ràng và dễ hiểu.

    Điều 59. Miễn hình phạt

    Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

    Bình luận:

    Khoản 1, Khoản 2 Điều 54 là trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đó là áp dụng trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc phạm tội lần đầu trong vụ án có đồng phạm với vai trò giúp sức và sự đóng góp không đáng kể. Như vậy việc áp dụng quy định tại Điều 54 đã là một việc có lợi đáng kể đối với người phạm tội. Tuy vậy đến điều luật này sự có lợi ấy lại được nâng lên một cấp độ cao hơn đó là miễn hình phạt. Lưu ý là miễn hình phạt chứ không phải là miễn trách nhiệm hình sự, nghĩa là người phạm tội vẫn bị điều tra, truy tố và xét xử bình thường nhưng đáng được khoan hồng đặc biệt nên miễn hình phạt phải chấp hành.

    CHƯƠNG IX: THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN, MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
    Điều 60. Thời hiệu thi hành bản án
    1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.
    2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:
    a) 05 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống;
    b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm;
    c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm;
    d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình.
    3. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm.
    4. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
    5. Trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

    Bình Luận
    Tại Điều 27, đã bàn luận đến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì đến đây chúng ta lại tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về thời hiệu thi hành bản án hình sự. Đây rõ ràng khác biệt với hai giai đoạn hoàn toàn khác nhau. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra nhằm mục đích điều tra, truy tố và đưa tội phạm ra xét xử, đồng thời nó cũng đặt ra một giới hạn nhất định cho hoạt động truy cứu của các Cơ quan tố tụng và tất nhiên giai đoạn truy cứu sẽ kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật khi có đủ căn cứ kết luận tội phạm hoặc bằng một quyết định đình chỉ vụ án khi không có căn cứ để kết luận tội phạm. Nhằm đảm bảo các nguyên tắc tố tụng cũng như nhanh chóng đưa bản án có hiệu lực pháp luật đi vào thi hành hay nói cách khác là đối tượng bị kết án phải chấp hành các hình phạt được thể hiện trong bản án đó thì cần phải qui định một thời hạn tương ứng. Trước khi đi sâu vào tìm hiểu các qui định của Điều luật về thời hiệu thi hành bản án hình sự, chúng ta cần nhận thức và nắm bắt về mặt khái niệm của qui định.
    1.Khái niệm: thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này qui định mà khi kết thúc thời hạn đó thì người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải thi hành bản án đã tuyên. 
    Đặc điểm thời hiệu:
    - Là thời hạn do Bộ luật hình sự qui định, nghĩa là việc thi hành bản án phải được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, có điểm bắt đầu và có điểm kết thúc. Nó bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và kết thúc khi hết một khoảng thời hạn luật định.
    - Hậu quả pháp lý của việc không thi hành bản án trong thời hạn do luật định: Khi kết thúc thời hạn mà bản án đã tuyên, có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không được thi hành thì đương nhiên những đối tượng bị kết án sẽ không phải thi hành bản án đó nữa. 
    2.Thời hạn: Một số qui định của pháp luật hình sự khi đáng giá tội phạm thường dựa trên mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hay nói cách khác là dựa vào loại tội phạm, loại tội phạm đó được thể hiện ở các mức độ mà chúng ta đã tìm hiểu như: tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng. Tương ứng với từng loại tội phạm mà pháp luật phân hóa loại hình phạt cũng như thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự khác nhau, đối với hành vi phạm tội càng nguy hiểm thì hình phạt, thời hiệu truy cứu theo đó cũng càng cao, nó tương thích, tỷ lệ thuận, phản ánh được ý chí, tính nghiêm khắc trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của giai cấp thống trị. Không ngoại lệ, việc qui định thời hạn thi hành bản án tuy không chỉ đích danh căn cứ vào loại tội phạm như một số qui định khác nhưng xét cho cùng việc các nhà làm luật dựa vào hình phạt cụ thể cũng là gián tiếp căn cứ trên loại tội phạm mà cụ thể hóa thời hiệu thi hành bản án cho tương xứng. Bởi lẽ, thời hiệu thi hành bản án gia tăng theo mức độ của hình phạt mà trong khi đó mức độ hình phạt lại gia tăng/tỷ lệ thuận theo loại tội phạm. Theo đó:
    - 05 năm đối với: phạt tiền; cải tạo không giam giữ; phạt tù có thời hạn dưới 03 năm.
    - 10 năm đối với: phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm.
    - 15 năm đối với: phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm.
    - 20 năm đối với: tù chung thân, tử hình.
    Đối chiếu với các qui định trước đây thì cách qui định thời hiệu tại Điều này có điểm mới hoàn toàn khác biệt. Cụ thể Bộ luật hình sự 1999 qui định: “Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm”. Với cách qui định này đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, rất khó áp dụng trên thực tế như sau:
    - Không đưa ra được thời hiệu cụ thể mà phụ thuộc vào ý chí của các Cơ quan có thẩm quyền mà cụ thể ở đây là quyền quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Việc quyết định một vấn đề không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người phạm tội mà còn ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội lại do một cá nhân thực hiện thì không thể đảm bảo được yếu tố khách quan.
    - Việc thi hành một bản án có hiệu lực pháp luật thuộc về trách nhiệm, nghĩa vụ của những Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhất định. Do vậy cần qui định thời hiệu để đưa ra một giới hạn nhất định cho các Cơ quan chức năng phối hợp thực hiện nghĩa vụ của mình và khi hết thời hiệu đó mà bản án không được thi hành thì các bên liên quan phải chịu trách nhiệm. Đồng thời việc qui định thời hiệu còn nhằm đảm bảo những quyền cơ bản, nhất định của con người, mặc dù hành vi phạm tội của họ đã gây ra hậu quả nghiệm trọng, tác động đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và cần đặt ra các chế tài nghiêm khắc nhưng việc không thi hành các chế tài không phải xuất phát từ yếu tố lỗi của người bị kết án mà nó lại xuất phát từ phía các Cơ quan Nhà nước khi không tổ chức thi hành bản án. Do vậy, khi không có lỗi thì người phạm tội đương nhiên được hưởng quyền không chấp hành hình phạt tương ứng khi đã quá thời hiệu thi hành mà bản án không được thực hiện. 
    - Điều luật này tại Bộ luật hình sự 1999 đã đưa ra được một mốc thời hạn là “sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm”, vậy với cách qui định này chúng ta có được quyền hiểu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tù chung thân và tử hình có phải là mười lăm năm hay không hay một khoảng thời gian khác dài hơn? Nếu cho rằng thời hiệu là mười lăm năm thì hoàn toàn không phù hợp vì đối với hình phạt tù có thời hạn trên mười lăm năm đến ba mươi năm đã qui định thời hiệu mười lăm năm thì không có lý do gì mà chúng ta lại áp dụng thời hiệu này trong khi đối với hình phạt tù chung thân hay tử hình thì đương nhiên ai trong chúng ta đều hiểu hành vi phạm tội là cực kỳ nguy hiểm cho xã hội, nó nguy hiểm đến mức mà người thực hiện hành vi bị xem xét là cần thiết phải loại trừ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội. Như vậy cách hiểu này hoàn toàn không phù hợp. Tuy nhiên nếu xét thêm một yếu tố nữa thì có lẽ chúng ta cần phải nhìn nhận lại. Nội dung Điều luật thể hiện khi đã qua mười lăm năm, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc có áp dụng thời hiệu hay không theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Như vậy với ý kiến cho rằng thời hiệu thi hành bản án đối với tù chung thân và tử hình là mười lăm năm không phải là hoàn toàn sai, mà nó đúng ở khía cạnh đây là thời hạn tối thiểu để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc có áp dụng thời hiệu hay không. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định áp dụng thời hiệu thì người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình đương nhiên không phải chấp hành bản án này nữa và trường hợp này thì thời hiệu áp dụng là mười lăm năm. Còn trường hợp không áp dụng thời hiệu, khung hình phạt giảm xuống khung liền kề, tử hình xuống chung thân, chung thân xuống tù có thời hạn ba mươi năm. 
    Từ những phân tích nêu trên, rõ ràng qui định tại Bộ luật hình sự trước đây là hoàn toàn không phù hợp, bất cập. Do vậy với qui định thời hiệu thi hành bản án: “20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình” tại Bộ luật hình sự hiện hành đã khắc phục được những điểm còn bất cập của luật cũ.
    3.Thời hiệu thi hành bản án đối với pháp nhân thương mại: Đây là chủ thể mới của Luật hình sự, nếu như trước đây chủ thể này không bị xem xét hình sự hóa hành vi thì đến nay nhiều hành vi đã bị định danh tội phạm với các chế tài tương ứng. Pháp luật qui định thời hiệu thi hành bản án áp dụng đối với chủ thể là pháp nhân thương mại chỉ ở một mức nhất định mà không có sự phân hóa như chủ thể là cá nhân người phạm tội và chính vì vậy mà thời hiệu cũng không bị phụ thuộc vào loại hình phạt áp dụng được nêu trong bán ản. Theo đó thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 5 năm. 
    4.Thời điểm tính thời hiệu: khi xác định thời điểm tính thời hiệu thi hành bản án đối với một đối tượng (đối tượng này có thể là cá nhân người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại) thì cần phải căn cứ vào các yếu tố sau:
    - Từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật: như vậy bản án sẽ có hiệu lực từ khi nào? Căn cứ vào đâu để xác định một bản án đã có hiệu lực pháp luật hay chưa? Về vấn đề này, chúng ta cần phải xem xét các qui định tương ứng tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Theo đó, việc xác định hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm căn cứ Điều 343 Bộ luật này, cụ thể: “Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị”. Đối với Bản án phúc thẩm, khoản 2 Điều 355 qui định: “Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án”. 
    - Không thực hiện hành vi phạm tội mới: Như vậy để thời hiệu được liên tục, không rơi vào trường hợp bị tính lại thì trong thời hạn áp dụng thời hiệu, người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Nếu trong khoảng thời hạn này, mà đối tượng bị kết án lại thực hiện một hành vi mới và hành vi này theo bản án kết luận của Tòa án có thẩm quyền là phạm tội thì thời hiệu đối với tội đang bị áp dụng sẽ được tính lại từ ngày thực hiện hành vi phạm tội đó. Đến đây có một vấn đề được đặt ra: Trước đây, về vấn đề này pháp luật hình sự qui định: “Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người bị kết án lại phạm tội mới, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày phạm tội mới”. Có thể thấy, theo qui định này thì thời điểm bắt đầu tính lại từ ngày phạm tội mới, cách qui định này có thể hiểu như qui định hiện nay là tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội hay không? Nếu không thì cần phải xác định như thế nào?
    5.Về nguyên tắc thì thời hiệu thi hành bản án được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tẩu thoát, tìm mọi cách cố tính trốn tránh việc áp dụng các chế tài được nêu trong bản án thì thời hiệu được bắt đầu tính hoặc tính lại khi người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ. 
    Điều kiện áp dụng: Khi và chi khi đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau thì thời hiệu mới được tính lại, cụ thể:
    - Người bị kết án cố tình trốn tránh: Việc cố tính trốn tránh này có nghĩa là người bị kết án tìm mọi cách để né tránh việc áp dụng các chế tài được nêu trong bản án, thể hiện ở một số hành vi như: phẩu thuật thẩm mỹ để thay đổi hình dạng bên ngoài, thay đổi nơi ở, thay đổi họ tên, bỏ trốn ra nước ngoài …
    - Đã có quyết định truy nã: đây rõ ràng là yếu tố quyết định việc có cơ sở để tính lại thời hiệu hay không vì nếu người bị kết án trên thực tế có thực hiện hành vi cố tình trốn tránh đi nữa mà Cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa ra quyết định truy nã có hiệu lực thì dù thời hiệu đã trôi qua bao nhiêu cũng hoàn toàn không có căn cứ để tính lại thời hiệu. 

    Điều 61. Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án
    Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, khoản 3 và khoản 4 Điều 353, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

    Bình luận
    Không phải mọi loại tội phạm đều áp dụng thời hiệu theo qui định tại Điều 60 Bộ luật hình sự hiện hành mà đối với một số tội danh nhất định pháp luật hình sự không đặt ra vấn đề thời hiệu mà theo đó thời hiệu sẽ không được áp dụng, nghĩa là thời hiệu chỉ có thời điểm bắt đầu mà không có thời điểm kết thúc. Người bị kết án buộc phải chấp hành bản án. Các tội danh không áp dụng thời hiệu được qui định như sau:
    - Các tội được qui định tại Chương XIII: Đây là phần qui định các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia như: Điều 108 - Tội phản bội tổ quốc; Điều 109 - Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; Điều 110 - Tội gián điệp; Điều 111 - Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; Điều 112 - Tội bạo loạn; Điều 113 - Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; Điều 114 - Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Điều 115 - Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; Điều 116 - Tội phá hoại chính sách đoàn kết; Điều 117 - Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Điều 118 - Tội phá rối an ninh; Điều 119 - Tội chống phá cơ sở giam giữ; Điều 120 - Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; Điều 121 - Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. 
    - Các tội được qui định tại Chương XXVI: Đây là các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh như: Điều 421 - Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Điều 422 - Tội chống loài người; Điều 423 - Tội phạm chiến tranh; Điều 424 - Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê; Điều 425 - Tội làm lính đánh thuê. 
    - Khoản 3, khoản 4 Điều 353 - Tội tham ô tài sản.
    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
    d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.
    - Khoản 3, khoản 4 Điều 354 - Tội nhận hối lộ.
    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.
    Đây là các tội phạm mà tính chất nguy hiểm của nó không chỉ tác động đến phạm vi một quốc gia mà mang tầm ảnh hưởng quốc tế. Do vậy việc không qui định thời hiệu thi hành bản án là hoàn toàn phù hợp nhằm đảm bảo tội phạm phải được xử lý, buộc người bị kết án phải chấp hành các chế tài được nêu trong bản án tại mọi thời điểm, trường hợp mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Nếu đối chiếu với qui định tại Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 thì các trường hợp không áp dụng thời hiệu thi hành bản án có sự mở rộng đáng kể, cụ thể: 
    - Điều 47 Bộ luật hình sự 1985 qui định: “Không áp dụng thời hiệu qui định ở Điều 45 và Điều 46 đối với các tội phạm qui định tại Chương XII phần các tội phạm bộ luật này”. Chương XII ở đây là nói đến các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
    - Điều 56 Bộ luật hình sự 1999 qui định: “Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội qui định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này. Chương XI qui định các tội về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Chương XXIV qui định các tội về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.  
    - Đến nay, Bộ luật hình sự hiện hành đã bổ sung thêm hai trường hợp không được áp dụng thời hiệu thi hành bản án, đó là trường hợp qui định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 - Tội tham ô tài sản, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 - Tội nhận hối lộ.

    Điều 62. Miễn chấp hành hình phạt
    1. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
    2. Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Sau khi bị kết án đã lập công;
    b) Mắc bệnh hiểm nghèo;
    c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
    3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nêu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
    4. Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nêu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    5. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
    6. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    7. Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

    Bình luận
    Đây là các trường hợp mà pháp luật dự liệu đối tượng bị kết án được miễn chấp hành hình phạt. Theo đó đối tượng bị kết án ở đây chỉ đề cập đến chủ thể là cá nhân người phạm tội mà không bao gồm chủ thể là pháp nhân thương mại và đồng thời việc miễn chấp hành hình phạt cũng bị giới hạn lại ở những loại hình phạt nhất định như: phạt tù, cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cấm cư trú, quản chế. Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết từng trường hợp cụ thể như sau:
    1. Khi được đặc xá hoặc đại xá 
    Đây là trường hợp đầu tiên nhưng cũng là trường hợp đặc biệt nhất trong số các trường hợp được liệt kê tại điều luật này. Điểm đặc biệt được biểu hiện dưới các khía cạnh sau đây:
    - Người bị kết án đương nhiên được miễn chấp hành hình phạt: Nếu như các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt còn lại phụ thuộc vào quyết định của Tòa án có thẩm quyền về việc có cho phép người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt hay không sau khi xem xét nhiều yếu tố tương ứng thì đối với trường hợp này khi có quyết định đặc xá hay đại xá thì ngay lập tức người bị kết án được hưởng quyền miễn chấp hành hình phạt liền mà không phụ thuộc thêm vào bất kỳ điều kiện hay sự xem xét của Cơ quan nào khác. 
    - Cơ quan quyết định: Chủ tịch nước (đặc xá), Quốc hội (đại xá). 
    - Hình phạt được áp dụng: Nếu như các trường hợp khác việc áp dụng qui định miễn chấp hành hình phạt đa số chỉ được áp dụng cho những loại hình phạt mà hành vi của nó không gây nguy hiểm cao cho xã hôi hay nói cách khác phạm tội ít nghiêm trọng như: cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến 3 năm, bị phạt tiền, quản chế, cấm cư trú thì trường hợp này người bị kết án có thể phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và thậm chí đặc biệt nghiêm trọng.
    2. Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Sau khi bị kết án đã lập công;
    b) Mắc bệnh hiểm nghèo;
    c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
    - Về đối tượng được áp dụng: Chỉ áp dụng đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt.
    - Cơ quan quyết định: Tòa án quyết định trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng viện kiểm sát.
    - Điều kiện để xem xét áp dụng:
    + Sau khi bị kết án đã lập công: như vậy hiểu như thế nào là trường hợp người bị kết án đã lập công mà căn cứ vào đó các Cơ quan có liên quan theo qui định tại Điều này sẽ thực hiện việc miễn chấp hành hình phạt cho người bị kết án. Để có một cơ sở chung thống nhất khi áp dụng thì hiện nay pháp luật chưa có qui định mà chỉ có thể căn cứ vào tình hình thực tế, hành vi cụ thể mà các Cơ quan có thẩm quyền xem xét, một số trường hợp như: người bị kết án hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan trong việc điều tra; cứu giúp người khác trong lúc hoạn nạn, khó khăn; có những phát minh mang lại hiệu quả cao khi áp dụng vào đời sống xã hội…việc lập công có thể được thể hiện ở rất nhiều hành động, trong mọi lĩnh vực nhưng tựu trung để được xem xét áp dụng qui định này thì hành động/việc làm đó phải được xã hội ghi nhận.
    + Người bị kết án mắc bệnh hiểm nghèo: yếu tố này xuất phát từ bản thân người phạm tội, họ mắc những loại bệnh mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng như ung thư, bệnh tim, bại liệt, HIV giai đoạn cuối ….
    + Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội.
    Nếu người bị kết án đáp ứng được một trong các điều kiện nêu trên thì được Tòa án xem xét áp dụng cho miễn chấp hành hình phạt. Và cũng khẳng định vì đây không phải là trường hợp đương nhiên được miễn nên việc có được miễn hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể là Tòa án.
    3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nêu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
    Tương tự như trường hợp được nêu trên thì việc xem xét cũng được dựa trên các yếu tố như người bị kết án lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo, không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên đối tượng áp dụng chỉ thực hiện đối với người bị kết án có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt. Đồng thời nếu theo qui định tại khoản 2 Điều này, việc miễn chấp hành hình phạt có thể được xem xét áp dụng khi người bị kết án đạt được một trong các điều kiện được nêu nhưng đến đây việc xem xét không đơn thuần dừng lại ở từng điều kiện riêng lẻ mà phải đảm bảo được điều kiện cần và điều kiện đủ. Điều kiện cần là người bị kết án phải đảm bảo được một trong hai điều kiện: Thứ nhất - lập công lớn, thứ hai - mắc bệnh hiểm nghèo, điều kiện đủ là người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Việc xem xét một người mắc bệnh hiểm nghèo có còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không có thể được xác định một cách nhanh chóng, ví dụ: một người bị kết án 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy mắc bệnh bại liệt nằm một chỗ, không thể di chuyển, mọi hoạt động thường nhật phụ thuộc vào người thân thì không có lý do gì để cho rằng người này còn nguy hiểm cho xã hội hoặc người này bị bệnh ung thư giai đoạn cuối sức khỏe yếu cũng là cơ sở xác định tính nguy hiểm cho xã hội của họ không còn nữa. Xét đến vấn đề đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội còn hay không khi người bị kết án lập công lớn là một việc khó xác định và không mang tính tuyệt đối mà chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố niềm tin cộng chính sách nhân đạo để hướng người phạm tội đến một cuộc sống có ích cho xã hội, một công dân gương mẫu.
    4.Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nêu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    - Đối tượng được áp dụng: Người bị kết án phạt tù đến 03 năm và hình phạt đã bị tạm đình chỉ. Các trường hợp nêu tại khoản 2, khoản 3 Điều luật này đều qui định đối tượng bị kết án phải chưa chấp hành hình phạt, trường hợp đang chấp hành hình phạt thì không thuộc đối tượng được áp dụng mà chỉ được xem xét khi thuộc trường hợp được đặc xá hoặc đại xá theo quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong khi đó, trường hợp này người bị kết án phạt tù đã bị đình chỉ chấp hành hình phạt, điều này đồng nghĩa với việc người bị kết án đang thực hiện nghĩa vụ chấp hành hình phạt nhưng vì một lý do nào đó mà hình phạt đang chấp hành bị tạm đình chỉ trong một khoảng thời hạn nhất định. Chắc chắn việc tạm đình chỉ ở đây không xuất phát từ các yếu tố như lập công lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy trong khoảng thời hạn này mà người bị kết án đáp ứng được các điều kiện như: lập công lớn, có hoàn cảnh gia đình khó khăn và xét thấy người này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người bị kết án sẽ được xem xét cho miễn chấp hành phần hình phạt còn lại mà theo đó nếu không có các yếu tố nêu trên thì khi hết thời hạn tạm đình chỉ người bị kết án phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
    5.Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
    Đây là trường hợp được miễn chấp hành hình phạt hoàn toàn mới so với các qui định trước đây. Căn cứ theo qui định tại Điều 32 Bộ luật này về các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội thì phạt tiền vừa có thể được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Như vậy, một vấn đề được đặt ra là việc miễn chấp hành hình phạt được áp dụng khi hình phạt tiền là hình phạt chính hay bổ sung hoặc cả hai trường hợp đều có thể được áp dụng nếu như người bị kết án đáp ứng được các điều kiện luật định? Về vấn đề này sẽ được tác giả bình luận chi tiết trong phần kế tiếp và bây giờ chúng ta hãy cũng tìm hiểu các điều kiện nào để người bị kết án có thể được xem xét áp dụng qui định miễn chấp hành hình phạt.
    - Thứ nhất: lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn kéo dài và tình trạng này xuất phát do tác động của thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau dẫn đến họ mất khả năng tài chính để có thể tiếp tục chấp hành phần hình phạt còn lại. Ví dụ A bị áp dụng hình phạt tiền với mức phạt là 200,000,000 VNĐ, sau khi chấp hành được 1/2 hình phạt, A bị tai nạn nên không thể tiếp tục lao động, mọi tài sản hiện có đều được sử dụng cho việc chữa trị, thuốc men, tuy nhiên A không thể hồi phục hoàn toàn và không thể tự lao động, mọi chi phí, sinh hoạt đều phụ thuộc vào người thân. Đây có thể được xem xét là trường hợp lâm vào hoàn cảnh khó khăn và đồng thời mất khả năng chấp hành phần hình phạt tiền còn lại. Tuy nhiên nếu đặt vào trường hợp, mặc dù hết tài sản nhưng A bình phục hoàn toàn thì khả năng chấp hành hình phạt của A vẫn còn, A vẫn có thể tiếp tục lao động để chấp hành phần hình phạt còn lại. 
    - Thứ hai: lập công lớn, trường hợp này không xem xét để đánh giá khả năng tài chính của người phạm tội mà dựa trên những thành tích, thành quả …mà họ mang lại cho xã hội. Như thế nào được xem là lập công lớn thì tác giả đã phân tích, dẫn chứng đối với các trường hợp miễn chấp hành hình phạt nêu trên. 
    - Thứ ba: đây chính là yếu tố mang tính quyết định để xem xét người bị kết án có được miễn chấp hành hình phạt hay không là ý thức chấp hành hình phạt của người phạm tội. Việc chấp hành nghiêm túc bản án thể hiện được thái độ ăn năn, nhận thức được lỗi của người phạm tội, do vậy việc Bộ luật hình sự hiện hành lấy thước đo về ý thức để đánh giá việc có nên miễn chấp hành hình phạt cho người phạm tội hay không là hoàn toàn chính xác, thể hiện đầy đủ chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Tạo mọi điều kiện để hỗ trợ, giúp đỡ người phạm tội khi họ lâm vào tình cảnh khó khăn hoặc khi họ có những đóng góp nhất định. Chính vì vậy, nếu người bị kết án không tích cực chấp hành một phần hình phạt thì cho dù họ có rơi vào các điều kiện được nêu trên đi nữa thì hoàn toàn vẫn không có cơ sở nào để xem xét miễn chấp hành hình phạt cho họ. 
    6.Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    Đây là trường hợp miễn chấp hành hình phạt đối với các hình phạt bổ sung, mà cụ thể là hình phạt cấm cư trú và quản chế. Thời hạn hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế được nêu tại bản án mà người bị kết án chỉ khi nào chấp hành được một phần hai thời hạn đó, đồng thời cải tạo tốt thì mới được xem xét miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Đây là hai điều kiện bổ trợ cho nhau, mà chỉ khi nào đạt được đồng thời hai điều kiện này thì người bị kết án mới được Tòa án có thẩm quyền xem xét sau khi có đề nghị của Cơ quan thi hành án hình sự.
    7. Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.
    Từ trường hợp 1 đến trường hợp 6 là các trường hợp mà người bị kết án được miễn hoặc xem xét miễn chấp hành hình phạt. Tuy nhiên việc miễn chấp hành hình phạt không đồng nghĩa với việc miễn cả trách nhiệm dân sự nếu có được nêu trong bản án này hoặc bằng một bản án khác nếu vụ việc dân sự được tách thành một vụ án riêng biệt. Việc chấp hành các hình phạt được nêu tại Bộ luật hình sự là thể hiện chế tài của Nhà nước đối với người phạm tội nên Nhà nước có toàn quyền trong việc ban hành các chính sách, qui định nhằm hướng đến việc miễn, giảm trách nhiệm hình sự, trách nhiệm chấp hành hình phạt của người phạm tội hay nói cách khác là thực hiện các chính sách nhân đạo đối với tội phạm. Đó là xét đến trách nhiệm hình sự - một trách nhiệm mà người phạm tôi chỉ thực hiện với Nhà nước, còn trách nhiệm dân sự - một trách nhiệm chỉ được thực hiện bởi và giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với nhau nên một bên có nghĩa vụ chỉ được giảm, miễn khi và chỉ khi có sự chấp thuận của bên có quyền và Nhà nước không can thiệp vào các mối quan hệ này. Chính vì vậy khi một bản án đặt ra trách nhiệm hình sự lẫn dân sự cho người bị kết án thì đương nhiên khi người bị kết án được hưởng quyền miễn chấp hành hình phạt theo qui định tại Bộ luật hình sự không đương nhiên làm mất đi trách nhiệm dân sự của người đó. 

    Điều 63. Giảm mức hình phạt đã tuyên
    1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
    Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.
    2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.
    Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.
    3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.
    4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
    5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
    6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

    Bình Luận
    Cùng với qui định về miễn chấp hành hình phạt tại Điều 62 thì qui định về giảm mức hình phạt đã tuyên là một trong những chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với tội phạm. Ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự đã thể hiện nhất quán nhiệm vụ của Bộ luật này trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, theo đó qui định vấn đề trừng phạt các hành vi xâm phạm đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật. Và khi một hình phạt áp dụng cho một hoặc một số hành vi phạm tội thì vấn đề này không đồng nghĩa với việc hình phạt phải được thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ trên thực tế. Hình phạt đã tuyên có thể được miễn hoặc giảm một phần dựa trên hoàn cảnh, thái độ, ý thức chấp hành của chính người phạm tội. Điều này không chỉ giúp người phạm tội ăn năn, hối cải, nhận thức được sai lầm của mình mà còn tạo động lực cho họ trong việc phấn đấu cải tạo tốt nhằm hưởng các chính sách khoan hồng của Nhà nước, sớm quay về với đời sống xã hội thường nhật, trở thành công dân tốt cho xã hội. Điều 62 đã qui định rõ những trường hợp nào người bị kết án được xem xét áp dụng qui định về miễn chấp hành hình phạt, vậy chế định giảm hình phạt đã tuyên được thực hiện như thế nào? Đối tượng áp dụng ra sao cũng như các hậu quả pháp lý phát sinh?
    1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
    Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.
    - Đối tượng áp dụng: xuất phát từ tính chất của mỗi qui định cũng như tính nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm mà đối tượng áp dụng của hai chế định miễn và giảm hình phạt có những nét khác biệt cơ bản. Nếu qui định về miễn chấp hình chấp hành hình phạt chỉ được thực hiện với tội phạm ít nghiêm trọng là chủ yếu thì qui định về giảm hình phạt còn được áp dụng đối với loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và thậm chí là đặc biệt nghiêm trọng. Xét về bản chất cũng như hậu quả pháp lý của từng chế định thì việc phân loại này là hoàn toàn hợp lý, miễn chấp hành hình phạt ngay lập tức giải phóng người phạm tội khỏi chế tài tương ứng. Tuy nhiên chế định giảm hình phạt chỉ giúp người phạm tội giảm trách nhiệm phải gánh chịu chế tài bị áp dụng, với các loại tội như vậy nên không thể vào một thời điểm mà giải phóng họ khỏi trách nhiệm đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Xuất phát từ đặc điểm này mà đối tượng áp dụng đối với chế định giảm hình phạt đã tuyên được mở rộng hơn nhiều, cụ thể như: người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
    + Cải tạo không giam giữ: Đây là chủ thể của chế định miễn chấp hành hình phạt và chế định giảm hình phạt đã tuyên. Tuy nhiên việc áp dụng được thực hiện trong các trường hợp với những điều kiện hoàn toàn khác nhau. Nếu theo qui định tại khoản 2 Điều 62 thì hình phạt này phải chưa được chấp hành, đồng thời người bị kết án phải hội tụ một trong ba trường hợp như lập công, mắc bệnh hiểm nghèo, chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, còn qui định về giảm hình phạt thì đối tượng này phải chấp hành được một khoảng thời hạn nhất định và khoảng thời hạn này được xác định là một phần ba đối với lần xét giảm đầu tiên. Ngoài điều kiện về thời hạn tối thiểu thì người phạm tội còn phải có những dấu hiệu tích cực về ý thức cải tạo, chấp hành bản án mà theo qui định của Điều luật được cho là người phạm tội có tiến bộ. Để đánh giá người bị kết án có tiến bộ hay không còn phải dựa trên nhiều yếu tố khác nhau. Đồng thời đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự. 
    + Tù có thời hạn, tù chung thân: Thời hạn để được xem xét miễn một phần hình phạt lần đầu đối với tù có thời hạn là người phạm tội đã chấp hành được một phần ba thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân. Bên cạnh qui định về thời hạn thì các yếu tố khác để đánh giá sự tiến bộ của người phạm tội cũng là nhân tố mang tính quyết định việc người phạm tội có được miễn một phần hành phạt hay không. 
    2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.
    Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.
    Pháp luật hiện hành không giới hạn số lần miễn hình phạt cho người phạm tội. Tuy nhiên bên cạnh việc thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với những ai thật sự biết ăn năn, hối cải, mong muốn có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời thì việc đảm bảo tính nghiêm minh, đặt ra những giới hạn nhất định cũng là vấn đề rất đáng được lưu tâm. Một người đang chấp hành hình phạt, để có sơ sở xem xét giảm thì bắt buộc họ phải chấp hành được một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, mười hai năm đối với tù chung thân. Và một người không bị giới hạn số lần được miễn hình phạt nhưng phải đảm bảo được thời hạn chấp hành hình phạt, cụ thể được một phần hai mức hình phạt đã tuyên, đối với tù chung thân thì thời hạn thực tế chấp hành là hai mươi năm. Việc đưa ra các mức giới hạn nêu trên nhằm đảm bảo người phạm tội không thể lợi dụng, cấu kết với các bên liên quan nhằm né tránh các chế tài luật định. 
    3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.
    Đây là trường hợp giảm chấp hành hình phạt đối với tù chung thân, tuy nhiên qui định này có điểm khác biệt nhất định. Theo đó, khi một người bị kết về nhiều tội mà trong số tội bị kết án có áp dụng hình phạt tù chung thân, nghĩa là hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn để xem xét giảm hoặc thời hạn chấp hành thực tế có điểm khác biệt so với trường hợp một người bị kết án một tội mà tội đó áp dụng hình phạt tù chung thân. Cụ thể: thời hạn để xem xét giảm lần đầu là mười lăm năm, thời hạn chấp hành thực tế phải đạt hai mươi lăm năm. 
    4.Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
    5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
    Trước tiên cần nắm bắt hình phạt chung được xác định như thế nào, theo qui định tại Điều 56 Bộ luật hình sự thì khi xét xử một người đang chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới thì sau khi có quyết định hình phạt, Tòa án sẽ tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của hình phạt trước rồi quyết định hình phạt chung. Như vậy đối với các qui định tại khoản này thì hình phạt chung được tính dựa trên thời hạn còn lại của hình phạt trước đó kể cả việc trừ thời hạn được miễn chấp hành hình phạt và tổng hợp với hình phạt của hành vi phạm tội mới. Việc một người phạm tội đã được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước khi xem xét miễn chấp hành một phần hình phạt nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội mới thì cần đánh giá lại ý thức chấp hành, nhưng không vì thế mà người phạm tội lại không nhận được sự khoan hồng từ các chính sách, qui định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với các trường hợp này, người phạm tội chỉ được miễn chấp hành một phần hình phạt sau khi đáp ứng điều kiện về thời hạn có tính nghiêm nghặt hơn. Cụ thể:
    - Phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý: chỉ được xem xét giảm hình phạt lần đầu khi chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt chung.
    - Phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng: xem xét giảm hình phạt lần đầu khi chấp hành được hai phần ba hình phạt chung. Trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì sau khi chấp hành được mười lăm năm tù thì mới có cơ sở để giảm hình phạt.
    6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
    Đối với các trường hợp người bị kết án từ hình được ân giảm hoặc người bị kết án từ hình thuộc trường hợp qui định tại điểm b (Người đủ 75 tuổi trở lên) hoặc điểm c (Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn) khoản 3 Điều 40 Bộ luật này thì có sự chuyển hóa hình phạt từ tử hình xuống tù chung thân. Và việc giảm hình phạt tù chung thân lần đầu chỉ được thực hiện khi người bị kết án đã chấp hành được ít nhất hai mươi lăm năm tù. Số lần giảm hình phạt không bị giới hạn nhưng cho dù người bị kết án có được giảm bao nhiêu lần thì phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là ba mươi năm. 

    Điều 64. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt
    Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 của Bộ luật này.

    Bình luận
    Điều 63 là qui định các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt chung được áp dụng cho nhiều đối tượng. Tuy nhiên, bên cạnh đó pháp luật cũng dự liệu thêm một số trường hợp đặc biệt để xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho người phạm tội như lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Khái niệm, khía cạnh nào để đánh giá vấn đề lập công của người phạm tội thì chúng ta đã đề cập tại các điều luật nêu trên. Về trường hợp người bị kết án đã quá già yếu thì cần xem xét, đánh giá như thế nào vì hiện nay không có một văn bản hướng dẫn thống nhất cách hiểu người quá già yếu, trong khi đó đây lại là trường hợp để xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho người phạm tội. Liệu khái niệm người quá già yếu có tương đồng với khái niệm người cao tuổi hay không? Theo qui định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 thì người cao tuổi được hiểu là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Tuy nhiên trong nội hàm khái niệm “người quá già yếu” có hai yếu tố cần phải được xem xét là “già” và “yếu”. Do vậy việc đánh đồng khái niệm người cao tuổi với người quá già yếu là hoàn toàn không phù hợp, bởi lẽ theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì khái niệm người già được xác định là người từ 70 tuổi trở lên. Trong khi khái niệm người cao tuổi chỉ áp dụng chung cho tất cả những ai đã qua khỏi độ tuổi lao động và đây là giai đoạn họ bắt đầu được hưởng các chính sách an sinh xã hội. Chính vì vậy, nếu đem áp khái niệm người già để trở thành đối tượng được giảm thời hạn chấp hành hình phạt cũng không thỏa đáng các yêu cầu luật định, đối tượng không chỉ đáp ứng về độ tuổi để được xem là “già” thì bên cạnh đó còn phải đáp ứng yêu cầu về sức khỏe để được xem là “yếu”. 
    Về mắc bệnh hiểm nghèo: đã được lập luận tại các Điều luật nêu trên, tựu chung lại việc mắc bện hiểm nghèo hay sức khỏe yếu được biểu hiện ở một hành vi mà các nhà làm luật hướng đến là khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng này không còn nữa. 
    Việc xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt không chỉ đặc biệt ở chủ thể được áp dụng hay nói cách khác là điều kiện mà chủ thể phải đáp ứng thì điều kiện về thời hạn cũng có những ưu đãi hơn so với trường hợp thông thường tại Điều 63. Họ có thể không phải đáp ứng về thời hạn chấp hành hình phạt tối thiểu để được xem xét giảm giảm hình phạt, cũng không phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành khi xem xét giảm nhiều lần. Tuy nhiên việc giảm sớm hơn bao nhiêu, mức cao hơn bao nhiêu thì pháp luật không nêu cụ thể, vấn đề này sẽ do Cơ quan có thẩm quyền căn cứ trên tình hình thực tế, tổng hợp của nhiều yếu tố mà quyết định cho hợp tình hợp lý.


    Điều 65. Án treo
    1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
    2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
    3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
    4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
    5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

    Bình Luận
    Hiện nay, đối tượng chịu trách nhiệm hình sự không chỉ dừng lại ở cá nhân người phạm tội mà pháp luật còn mở rộng đối với đối tượng là pháp nhân thương mại. Tuy nhiên theo qui định tại Điều này thì Án treo chỉ áp dụng đối với người phạm tội, do vậy có thể gọi đây là một qui định có tính đặc biệt. Để hiểu hết được các qui định liên quan, thì trước tiên chúng ta cần có cách nhìn nhận đúng về án treo, vậy án treo là gì? có quan điểm cho rằng án treo là một loại hình phạt được pháp luật hình sự qui định. Nhưng xem xét qui định tại Điều 32 về các hình phạt đối với người phạm tội thì chúng ta có thể nhận thấy, án treo không phải là một trong những hình phạt được qui định tại Điều này kể cả là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung. Vì vậy, hoàn toàn không có cơ sở để nói án treo là một loại hình phạt. Xét về đặc điểm thì án treo được hình thành, áp dụng trên cơ sở hình phạt tù có thời hạn mà cụ thể là hình phạt tù có thời hạn không quá 03 năm. Pháp luật cũng đã thể hiện rõ khi người phạm tội bị kết án tù có thời hạn không quá 03 năm và đáp ứng thêm một số điều kiện luật định thì không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Như vậy, án treo được hiểu là người bị kết án không phải ngồi tù, được ra ngoài xã hội và từ treo ở đây có thể được hiểu là “treo” hình phạt tù đã tuyên, khi người bị kết án không đáp ứng được các điều kiện luật hình thì họ bắt buộc phải chấp hành hình phạt tù đã treo trước đó. Có thể hiểu, việc hưởng án treo của một người hoàn toàn không giải phóng họ khỏi trách nhiệm đối với bản án đã tuyên. Đồng thời án treo còn được cắt nghĩa là qui định cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. 
    Về điều kiện để người bị kết án được xem xét hưởng án treo khi thỏa mãn đồng thời các yếu tố sau:
    - Tội bị kết án có hình phạt tù không quá 03 năm: Đây là loại tội phạm ít nghiêm trọng.
    - Nhân thân người phạm tội: Đặc điểm nhân thân của một người có thể phản ánh được tính cách, đạo đức của người đó. Các yếu tố về nhân thân được nêu ở đây phải là các đặc điểm tốt như: chưa từng phạm tội, một người sống hòa thuận, biết giúp đỡ mọi người xung quanh, con một trong gia đình, lao động chính, có thành tích trong học tập, lao động tốt …, tất cả các đặc điểm được nêu ở đây thể hiện bản chất đạo đức người bị kết án là tốt, hoàn toàn có khả năng cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, gia đình.
    - Tình tiết giảm nhẹ: Những tình tiết nào để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho một người được qui đinh cụ thể tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
    - Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, nếu xét thấy người phạm tội không nhất định phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội để chấp hành hình phạt đã tuyên thì Tòa án quyết định cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với thời hạn từ 01 đến 05 năm. Ngoài ra người hưởng án treo còn phải chấp hành các nghĩa vụ khác được qui định tại Luật thi hành án hình sự.
    1.Tuy không phải chấp hành hình phạt tù nhưng người hưởng án treo vẫn phải chấp hành các nghĩa vụ khác được qui định. Việc thực hiện các nghĩa vụ này được giám sát bởi chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc bởi cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Bên cạnh trách nhiệm của các cơ quan ban ngành thì gia đình cũng có vai trò cũng như nghĩa vụ quan trọng trong việc phối hợp giám sát, giáo dục người phạm tội. 
    2.Việc được chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang hưởng án treo đã thể hiện một cách đầy đủ nhất chính sách nhân đạo đối với người phạm tội, tuy nhiên người hưởng án treo khi cải tạo tốt và chấp hành được một phần hai thời gian thử thách thì vẫn có thể được xem xét rút ngắn thời gian này sau khi có đề nghị của cơ quan, tổ chức ban ngành có trách nhiệm giám sát, giao dục, Tòa án xem xét rút ngắn thời gian thử thách này. Tuy nhiên nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội cố ý vi phạm một trong các nghĩa vụ được nêu tại Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án hoàn toàn có quyền xem xét buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên trước đó. Nếu có hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo qui định của Bộ luật hình sự thì người bị kết án phải chấp hành cả hai bản án, một bản án cho hưởng án treo trước đó và một bản án đã tuyên theo hành vi phạm tội mới. Việc chấp hành hình phạt được dựa trên hình phạt chung đã tổng hợp. 

    Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện
    1. Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
    a) Phạm tội lần đầu;
    b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
    c) Có nơi cư trú rõ ràng;
    d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;
    đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.
    Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;
    e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.
    2.Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;
    b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.
    3. Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.
    4. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.
    Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
    5.Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

    Bình Luận
    Tha tù trước thời hạn có điều kiện là qui định hoàn toàn mới tại Bộ luật hình sự 2015, theo đó người phạm tội khi đáp ứng các điều kiện luật định sẽ được tha tù trước thời hạn. Cụ thể người phạm tội phải hội tụ đầy đủ các yếu tố sau đây mới được xem xét tha tù trước thời hạn:
    1.Phạm tội lần đầu
    2.Có nhiều tiến bộ, ý thức cải tạo tốt: Một số yếu tố có thể căn cứ để đánh giá ý thức cải tạo của người phạm tội như chấp hành đầy đủ các nội quy, qui định tại nơi cải tạo, hăng say lao động sản xuất, giúp đỡ người khác, tích cực trong các phong trào, hoạt động, luôn luôn làm gương cho người khác… 
    3.Có nơi cư trú rõ ràng: nơi cư trú ở đây có thể là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, được xác định bằng một địa chỉ cụ thể.
    4.Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí: Không phải mọi trường hợp phạm tội bị kết án đều bị áp dụng hình phạt bổ sung và/hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Điều luật chỉ đặt ra cho những trường hợp mà bản án có qui định.
    5.Đối với hình phạt tù có thời hạn thì người phạm tội phải chấp hành ít nhất một phần hai thời hạn đó. Đối với tù chung thân sau khi được giảm xuống tù có thời hạn là ba mươi năm thì phải đảm bảo đã chấp nhất ít nhất mười lăm năm. Tuy nhiên đối với một số đối tượng ngoại lệ như: người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi còn dưới 36 tháng tuổi thì đối tượng này pháp luật qui định một khoảng thời hạn khác ngắn hơn. Theo đó đối với hình phạt tù có thời hạn thì chấp hành ít nhất một phần ba thời hạn đó, đối với hình phạt tù chung thân sau khi giảm xuống thời hạn ba mươi năm phải đảm bảo đã chấp hành ít nhất mười hai năm. Việc pháp luật rút ngắn thời hạn đối với những đối tượng này cũng là một sự hợp lý nhất định, bởi lẽ có một số đối tượng mà trên thực tế họ hoàn toàn không có khả năng gây ra các hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc có đối tượng mà sự khoan hồng này nhằm một phần ghi nhận những gì họ đã làm cho xã hội. 
    6.Không thuộc trường hợp không được phạm tội được qui định tại khoản 2 Điều 66.
    Người được xem xét tha tù trước thời hạn ngoài việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên mà họ còn phải thuộc đối tượng đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc thuộc đối tượng đang chấp hành án phạt tù thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Với qui định này nhằm đảm bảo việc tha tù trước thời hạn không được thực hiện một cách bừa bãi, không đúng đối tượng và rất có thể trên thực tế một bộ phận lợi qui định này để né tránh việc chấp hành án phạt tù, gây nguy cơ tiềm ẩn các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Một người khi đã được hưởng qui định giảm thời hạn chấp hành án phạt thì đồng nghĩa với việc họ đã có được những ghi nhận nhất định hay nói cách khác là đã tạo ra được tiền đề tốt, xứng đáng để được tiếp tục xem xét khi đáp ứng thêm những điều kiện luật định.
    Tuy nhiên không phải mọi trường hợp chấp hành hình phạt tù khi đáp ứng các điều kiện nêu trên đều được xem xét áp dụng qui định tha tù trước thời hạn. Theo đó tại khoản 2 Điều này đã nêu ra một số trường hợp ngoại lệ mà người bị kết án sẽ không được xem xét áp dụng chế định này: 
    - Người bị kết án tại Chương XIII - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia.
    - Người bị kết án tại Chương XXVI - Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. 
    - Người bị kết án tại Điều 299 - Tội khủng bố. 
    - Người bị kết án tại Chương XIV mà hình phạt tù áp dụng từ 10 năm trở lên, thực hiện hành vi với lỗi cố ý - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. 
    - Người bị kết án các tội nêu tại Điều 168 - Tội cướp tài sản, Điều 169 - Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 248 - Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Điều 251 - Tội mua bán trái phép chất ma túy, Điều 252 - Tội chiếm đoạt chất ma túy mà hình phạt tù áp dụng từ 07 năm trở lên.
    - Người bị kết án tử hình nhưng được ân giảm xuống tù chung thân.
    - Người bị kết án tử hình nhưng giảm xuống tù chung thân do thuộc trường hợp phụ nữ có thai; phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tuổi trở lên; người bị kết án từ hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản thâm ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. 
    Xét về điều kiện phải thực hiện sau khi được tha tù trước thời hạn là người phạm tội phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời hạn thử thách. Thời gian này được ấn định đúng bằng khoảng thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại, nếu trong khoảng thời giàn này, người phạm tội thực hiện tốt các nghĩa vụ được đặt ra, đạt nhiều tiến bộ thì được Tòa án xem xét rút ngắn thời gian thử thách trên cơ sở đề nghị, đánh giá của Cơ quan thì hành án hình sự có thẩm quyền. Tuy nhiên, đặt trong trường hợp ngược lại, người phạm tội cố ý vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên hoặc bị xử phạt hành chính hai lần trở lên thì Tòa án hoàn toàn có quyền xem xét hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn cho người phạm tội, hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu đó là họ phải chấp hành hình phạt tù đối với khoảng thời hạn còn lại trước khi được áp dụng quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nếu người phạm tội thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xá hội và hành vi này đủ yếu tố cấu thành một trong các tội danh được nêu tại Bộ luật này thì Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt chung giữa hình phạt của tội mới và phần hình phạt tù còn lại. 

    Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù
    1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
    a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
    b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
    c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
    d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.
    2.Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

    Bình luận
    1. Các căn cứ để hoãn chấp hành hình phạt tù được thực hiện theo qui định tại Điều luật này mà theo đó không một cơ quan, cá nhân nào có thể tùy ý áp dụng việc hoãn chấp hành cho người phạm tội khi không đáp ứng được các điều kiện được nêu. Cụ thể để xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù cần phải căn cứ vào một trong số các điều kiện sau đây:
    - Người phạm tội bị bệnh nặng: Như thế nào để đánh giá được tình trạng sức khỏe của người phạm tội có nặng hay không nhằm làm căn cứ xét hoãn chấp hành hình phạt tù. Bệnh nặng ở đây cần được hiểu là tình trạng xấu đi nghiêm trọng về sức khỏe, đến nỗi người phạm tội không thể tiếp tục chấp hành hoặc không thể bắt đầu chấp hành hình phạt tù đã nêu. Nếu chấp hành hình phạt tù có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng người phạm tội. Dựa trên thực tế cũng như thực tiễn áp dụng, một số căn bệnh hiện nay được đánh giá là nghiêm trọng mà người mắc bệnh có thể được xem xét áp dụng qui định tại Điều luật này như: Bệnh ung thư, bị liệt …Trên thực tế, để ra quyết định hõan chấp hành hình phạt tù, Cơ quan có thẩm quyền dựa trên hồ sơ bệnh án của người phạm tội cũng như kết luận giám định của Hội đồng giám định y khoa. Vì trên thực tế việc giả mạo hồ sơ bệnh án có thể được thực hiện một cách dễ dàng. 
    Thời điểm hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội bị bệnh nặng được thực hiện cho đến khi sức khỏe của người đó được hồi phục. 
    - Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi: Việc xác định một người đang có thai hay không hoặc có đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hay không thường được xác định một cách dễ dàng. Cụ thể Cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào hồ sơ, giấy xác nhận của trung tâm y tế có thẩm quyền về việc người này đang có thai hoặc giấy khai sinh khi nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Điều kiện này chỉ được áp dụng cho đối tượng phạm tội, bị kết án là nữ. Vậy liệu đối với đối tượng là nam khi nuôi con dưới 36 tháng tuổi có được xem xét hoãn chấp hành hình phạt hay không? Nếu chúng ta căn cứ vào từng câu, chữ của Điều luật thì dễ dàng nhận thấy qui định này hoàn toàn không áp dụng cho đối tượng là nam. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn có trường hợp người phạm tội bị kết án là nam và đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Xét về tính chất, người mẹ có tầm quan trọng trong việc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, vì đây là giai đoạn trẻ còn quá nhỏ, cần nguồn sữa của chính người mẹ hay sự chăm sóc chu đáo nhằm đảm bảo khả năng phát triển bình thường của trẻ nhưng không phải mọi trường hợp khi người bố bị kết án thì đứa trẻ vẫn còn người mẹ để chăm sóc mà đâu đó chúng ta vẫn thấy, đứa trẻ chỉ còn duy nhất người bố thì thiết nghĩ có nên hoãn cho một số trường hợp đặc biệt này hay không? 
    - Người phạm tội bị kết án là đối tượng lao động duy nhất trong gia đình: Điều này đồng nghĩa với việc người phạm tội là người tạo ra thu nhập, một nguồn sống chính của cả gia đình. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp người bị kết án là lao động duy nhất thì đều được hưởng qui định hoãn chấp hành hình phạt mà theo đó người này phải thõa mãn được hai điều kiện được luật định như sau:
    + Gia đình gặp khó khăn đặc biệt nếu người phạm tội chấp hành hình phạt: Khó khăn ở đây được biểu hiện ở dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau như các thành viên còn lại trong gia đình không có người nuôi dưỡng, không có nguồn kinh tế để sinh sống… 
    + Không phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Cho dù gia đình người phạm tội có khó khăn đến mức độ nào thì khi người phạm tội bị kết án ở các tội danh nêu trên thì họ vẫn không được xem xét để hoãn chấp hành hình phạt.
    - Bị kết án về tội ít nghiêm trọng nhưng do nhu cầu công vụ: Tội ít nghiêm trọng ở đây là các tội mà có khung hình phạt tù đến 03 năm. Xét về hành vi thì rõ ràng hành vi mà người phạm tội thực hiện có mức độ nguy hiểm cũng như hậu quả xảy ra không lớn. Kết hợp với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cùng với nhu cầu về công vụ (nhu cầu công vụ ở đây được hiểu những công việc phục vụ cho xã hội và nhân dân, thực hiện vì cái chung cho xã hội mà không phải nhằm đáp ứng cho nhu cầu cá nhân của người phạm tội) thì được xem xét cho hoàn chấp hành hình phạt tù.
    2. Nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được hoãn chấp hành hình phạt tù nhưng trong thời hạn được hoãn mà người phạm tội lại phạm tội mới thì đây là căn cứ để chấm dứt thời hạn hoãn, thời hạn/phần thời hạn hình phạt tù còn lại sẽ được tổng hợp với hành phạt mới.

    Điều 68. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
    1. Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 của Bộ luật này, thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
    2. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

    Bình Luận
    Xét về căn cứ để quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 67, điều đó đồng nghĩa giữa hai chế định tạm đình chỉ và hoãn chấp hành hình phạt tù có điểm chung về điều kiện áp dụng. Vậy đâu là điểm khác biệt để làm cơ sở xác định khi nào, thời điểm nào áp dụng chế định này hoặc chế định kia. Về chế định tạm đình chỉ, pháp luật qui định chỉ áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù, nghĩa là người phạm tội đang trong quá trình chấp hành hình phạt tù được tuyên tại bản án và trong quá trình này có một trong số các điều kiện được nêu thì có cơ sở tạm đình chỉ. Còn bản chất của việc hoãn nghĩa là người phạm tội đã bị kết án, bản án đã tuyên hình phạt tù nhưng người phạm tội rơi vào các trường hợp được nêu nên theo qui định người này được hoãn việc chấp hành, hay đơn giản nó được hiểu là dời lại thời điểm chấp hành hình phạt. 
    Xét về bản chất, hai chế định này có căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý như nhau, chỉ khác nhau về thời điểm, vậy có nên gộp hai chế định này làm một?

    Chương X: XÓA ÁN TÍCH

    Điều 69. Xóa án tích

    1. Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của Bộ luật này.

    Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án.

    2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.

    Bình luận:

    Xóa án tích là một chế định thể hiện rõ tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của nhà nước, nhằm giúp người đã từng phạm tội tái hòa nhập cộng đồng một cách thuận lợi hơn. Thời gian qua đã chứng minh, đó là một chính sách đúng đắn trong việc giúp người phạm tội có cơ hội sửa sai lỗi lầm và hạn chế việc phân biệt đối xử đối với những đối tượng đã từng là một người phạm tội. Do đó, trong BLHS này có rất nhiều những điểm mới theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội trong việc xóa án tích so với quy định tại BLHS 1999. Tác giả sẽ phân tích những điểm mới đó tương ứng với từng Điều luật cụ thể khi chúng được nhắc đến. Trong Điều 69 này cũng có 1 điểm mới rất quan trọng, đó chính là quy định tại Khoản 2  Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.

    Trong nội dung Khoản này thì quy định trường hợp  người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích không có sự khác biệt với Khoản 1 Điều 64 BLHS 1999. Nhưng quy định Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng… không bị coi là có án tích là một quy định hoàn toàn mới. Nói cách khác, Bộ Luật mới đã mở rộng thêm trường hợp được coi là không có án tích và sự mở rộng này là hoàn toàn hợp lý. Đối với những tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý và tội phạm đã thực hiện là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì việc có án tích là 1 điều gì đó khá nặng nề đối với họ. Bởi lẽ, vốn dĩ  họ đã không có mong muốn khi thực hiện tội phạm và hậu quả gây ra cũng không nhiều nhưng nếu mang cho họ 1 án tích thì ảnh hưởng rất lớn cuộc sống của họ sau khi chấp hành xong hình phạt.

    Hiện nay có rất nhiều các thủ tục yêu cầu phải có phiếu lý lịch tư pháp (trong đó thể hiện có án tích hay không, đã xóa án tích hay chưa) như đăng ký hành nghề, xin nuôi con nuôi, xuất cảnh, du học v.v…như vậy nếu một lý lịch có án tích thì gây không ít khó khăn cho người mang nó, mà như tác giả đã nói, với nhóm tội phạm trên nếu vẫn có án tích thì chế tài này đã quá nghiêm khắc. Do vậy, việc thêm nhóm tội phạm trên bên cạnh người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích – lý lịch tư pháp “sạch”- là một bước tiến trong việc đẩy mạnh tính giáo dục, hỗ trợ những người đã từng lầm lỡ hòa nhập xã hội một cách tích cực, hiệu quả.

    Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

    1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

    2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

    a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

    b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

    c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

    d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

    Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

    3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

    4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

    Bình luận:

    Đầu tiên dễ nhận thấy rằng, Điều luật này đồ sộ hơn so với Điều 64 BLHS 1999 khi quy định về cùng một nội dung. Điều luật này quy định nhiều vấn đề hơn và cũng chứa nhiều nội dung mới hơn. Cụ thể:

    1. Thời điểm bắt đầu tính thời hạn sớm hơn

    Nếu như quy định tại Bộ Luật cũ thời điểm tính thời hạn bắt đầu từ khi người phạm tội chấp hành xong bản án thì Bộ luật mới bắt đầu tính kể từ khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo. Quy định mới này sẽ phát huy tác dụng trong trường hợp người phạm tội phải chấp hành hình phạt chính, hình phạt bổ sung và một số trách nhiệm pháp lý khác. Bởi lẽ chấp hành xong bản án là phải chấp hành hết tất cả những quyết định có trong Bản án đó bao gồm cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các trách nhiệm pháp lý khác. Nếu chiếu theo quy định mới chỉ cẩn người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính (không phụ thuộc vào việc đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, trách nhiệm khác hay chưa) là đã bắt đầu tính thời hạn xóa án tích.

    Do thời điểm bắt đầu tính thời hạn sớm hơn nên rất có thể sẽ phát sinh trường hợp thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c Khoản 2. Do vậy nhà làm luật cũng đã dự liệu trong trường hợp này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

    2. Thời hạn xóa án tích ngắn hơn

    Việc rút ngắn này rất dễ dàng nhận thấy. Ví dụ: Bộ luật cũ quy định thời hạn là 05 năm trong trường hợp hình phạt tù đến 15 năm nhưng Bộ Luật mới rút ngắn lại còn 03 năm; thời hạn là 07 năm trong trường hợp phạt tù trên 15 năm nhưng Bộ Luật mới rút ngắn lại còn 05 năm.

    Bên cạnh việc rút ngắn thời hạn, một điểm mới cũng đáng lưu ý là quy định tại Điểm d Khoản 2. Cụ thể quy định cũ hoàn toàn không đề cập đến thời hạn xóa án tích đối với trường hợp người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình. Điều này dễ hiểu vì hình phạt tù chung thân không xác định được thời điểm chấp hành xong hình phạt còn hình phạt tử hình thì người bị kết án sẽ không còn sau khi chấp hành xong bản án. Tuy vậy, trong trường hợp người bị kết án chung thân, tử hình nhưng được giảm án (sang hình phạt tù có thời hạn) thì việc thiếu quy định về thời hạn xóa án tích trong trường hợp này sẽ tạo ra một lỗ hổng pháp lý, chúng ta có thể hình dung được lỗ hổng này sẽ gây ra khó khăn như thế nào trong việc áp dụng chế định xóa án tích dành cho những đối tượng rơi vào trường hợp đặc biệt trên. Rất may đến BLHS mới thì lỗ hổng trên đã được nhà làm luật bổ sung một cách kịp thời.

    3. Quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

    Bộ Luật mới đã bỏ quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án tại Điều 63. Thay vào đó giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích nếu có thỏa điều kiện.

    Quy đinh này góp phần giảm tải việc quyết định xóa án tích của Tòa án cũng như giúp cho việc xóa án tích được thực hiện một cách nhanh chóng và trôi chảy hơn do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có một hệ thống dữ liệu thông tin thống nhất trên cơ sở nền tảng dữ liệu điện tử nên việc thực hiện cũng sẽ trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, để đảm bảo mọi thứ được vận hành một cách suôn sẻ thì giữa Tòa án, cơ quan thi hành án và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu tư pháp phải có cơ chế vận hành, trao đổi thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Hiện nay vấn đề phối hợp này vẫn tắt nghẽn một số chỗ, đặc biệt là việc thẩm quyền thu thập thông tin cũng như lỗ hổng thông tin trong một số trường hợp đặc biệt. Vấn đề này tác giả sẽ có dịp phân tích chuyên sâu hơn ở một đề tài riêng.

    Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

    1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

    a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

    b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

    c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

    d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

    Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

    3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.

    Bình luận:

    Đây là trường hợp xóa án tích mà việc xóa án tích bắt buộc phải do Tòa án thực hiện theo quy trình. Điều đó cho thấy sự thận trọng trong việc xóa án tích đối với các loại tội phạm có mức độ nguy hiểm cao. Cụ thể đó là các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia thuộc chương XIII và các tội phạm phá hại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh tại chương XXVI. Như vậy, đối với các tội phạm thuộc 2 chương này, thì sau thời hạn được quy định người phạm tội sẽ không được đương nhiên xóa án tích như các tội phạm khác mà người đã chấp hành xong hình phạt phải có yêu cầu để Tòa án xem xét và quyết định.

    Xét về thời điểm bắt đầu tính thời hạn xóa án tích cũng như dự liệu trường hợp thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung dài hơn thời hạn xóa án tích, quy định trong trường hợp Tòa án quyết định xóa án tích và đương nhiên xóa án tích không hề khác nhau. Tuy nhiên, nếu xét đến thời hạn xóa án tích cụ thể thì những trường hợp xóa án tích do Tòa án quyết định đa số sẽ dài hơn. Cụ thể:

    - 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm (trường hợp đương nhiên xóa án tích thì thời hạn là 02 năm);

    - 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm (trường hợp đương nhiên xóa án tích thì thời hạn là 03 năm);

    - 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án (trường hợp đương nhiên xóa án tích thì thời hạn là 05 năm);

     Chỉ riêng đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo thì thời hạn xóa án tích như nhau và đều là 01 năm.

    Như vậy, có thể thấy một cách tổng quan, các tội phạm quy định tại chương XIII và chương XXVI sẽ bị điều chỉnh bởi những quy định khắt khe hơn nhiều so với những tội phạm khác.

    Thứ nhất, chỉ có Tòa án mới là cơ quan có thẩm quyền quyết định xóa án tích

    Thứ hai, người muốn được xóa án tích phải nộp đơn yêu cầu xóa án tích sau khi đã đảm bảo thời hạn xóa án tích theo quy định.

    Thứ ba, Tòa án có quyền bác đơn yêu cầu xóa án tích. Nếu trường hợp này xả ra, lần đầu bị bác đơn thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích. Quy định này cho thấy hai điều: Điều đầu tiên, thời hạn xóa án tích chỉ là điều kiện cần mà chưa phải là điều kiện đủ để quyết định việc có được xóa án tích hay không; điều tiếp theo, việc gửi đơn xin được xóa án tích không phải là việc cứ hết thời hạn thì làm mà trước khi thực hiện việc nộp đơn người chấp hành xong hình phạt phải rất thận trọng, xem xét tất cả các yếu tố có liên quan trước khi quyết định nộp đơn cho Tòa. Việc làm này là rất cần thiết vì cái giá phải trả cho việc cẩu thả, không tìm hiểu trước thủ tục sẽ là 01 năm chứ không phải là con số nhỏ, nếu lần 02 trở đi thì con số đó lên 02 năm.

    Điều 72. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt

    Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

    Bình luận:

    Điều luật trên sẽ được tác giả tách ra phân tích như sau:

    (1) Điều kiện: Có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công + đã đảm bảo được ít nhất 1/3 thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 70 và Khoản 2 Điều 71.

    Chiếu theo điều kiện này thì trước tiên người bị kết án phải có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công. Còn như thế nào là tiến bộ rõ rệt như thế nào gọi là lập công thì trong phạm vi BLHS không có quy định cụ thể. Hiện cũng không có bất kỳ hướng dẫn nào cho trường hợp này, tham khảo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP về trường hợp “lập công chuộc tội”  trong xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ta có:

    "Đã lập công chuộc tội" là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến trước khi bị xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác... được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận.

    Từ hướng dẫn này có thể rút tỉa là một số yếu tố để xác định việc “lập công” như có hành động thể hiện sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác... được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận. Tuy vây, để đảm bảo tính đúng và chính xác xét thấy cần có sự hướng dẫn cho trường hợp “lập công” để không phải dựa vào “lập công chuộc tội” mà suy luận (có thể sai do thiếu ý hoặc lệch ý).

    Nếu so sánh với quy định tại BLHS cũ thì điều kiện này không hề khác về mặt tinh thần của điều luật, tuy nhiên nó có một điểm làm rõ hơn đó là gián tiếp khẳng định quy định này được áp dụng cho mọi loại tội phạm (đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa) – vấn đề này quy định tại BLHS không đề cập (nêu rõ). 

    (2) Quyền đề nghị: Cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú.

    Như vậy xóa án tích trong trường hợp đặc biệt có 2 nhóm cơ quan có quyền đề nghị, đó là nơi mà người đó công tác và chính quyền địa phương nơi người đó cư trú. Cơ bản là những đối tượng được quyền đề nghị này không khác so với quy định cũ trừ nhóm đối tượng thứ 2. BLHS 1999 quy định là nơi người đó thường trú, quy định tại Bộ Luật này là nơi người đó cư trú. Nơi cư trú là một khái niệm rộng hơn nơi thường trú. Cụ thể theo Điều 12 Luật cư trú 2006 như sau:

    Điều 12. Nơi cư trú của công dân

    1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

    Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

    Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

    Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

    2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

    Rất dễ dàng để nhận thấy  rằng những cơ quan có quyền đề nghị xóa án tích trong trường hợp này rộng hơn so với quy định tại Bộ Luật cũ. Không chỉ là chính quyền nơi người đó thường trú mà còn bao gồm cả nơi người đó tạm trú, trong trường hợp không xác định được nơi thường trú, tạm trú thì là nơi người đó đang sinh sống.

    Theo đánh giá của cá nhân tác giả thì việc chỉ thay cụm từ nơi thường trú thành nơi cư trú đã đảm bảo được tính toàn diện về mặt pháp lý, tạo được sự thuận lợi và công bằng cho những người bị kết án mà không có nơi thường trú. Đây chỉ là một thay đổi rất nhỏ nhưng lại mang đến những giá trị lớn, một trong nhiều sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp trong Bộ Luật hình sự mới.

    (3) Quyền quyết định: Tòa án

    Chủ thể duy nhất có thẩm quyền quyết định xóa án tích trong trường hợp đặc biệt này là Tòa án. Như đã đề cập ở phần trên, trong trường hợp đương nhiên xóa án tích thì thẩm quyền thuộc về cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chứ không phải Tòa án, đây là quy định mới so với quy định cũ tại BLHS 1999. Tuy nhiên, nếu thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích và lại rơi vào trường hợp xóa án tích đặc biệt thì thẩm quyền không còn thuộc về cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp nữa mà thẩm quyền vẫn thuộc về Tòa án. Một lần nữa quy định này cho thấy nhà làm luật một phần muốn giảm tải khối lượng công việc liên quan đến việc xóa án tích cho Tòa án nhưng vẫn giữ lại thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp cần thiết nhất để đảm bảo được tính chính xác nhất trong các quyết định.

    Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích

    1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

    2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

    3. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.

    4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

    Bình luận:

    Qua phần bình luận phân tích các Điều luật trước đó chúng ta đã biết thời điểm khi nào bắt đầu tính thời hạn xóa án tích, thời hạn xóa án tích trong trường hợp đương nhiên là bao nhiêu, trong trường hợp đặc biệt là bao nhiêu, chủ thể nào có quyền quyết định việc xóa án tích cũng như có sự so sánh với các quy định tương tự tại Bộ luật cũ để thấy những điểm khác biệt. Bây giờ chúng ta sẽ phân tích đến vấn đề cuối cùng trong chế định về xóa án tích này, đó là cách tính thời hạn.

    Tác giả tạm chia cách xác định này thành 2 phần, phần 1 là nguyên tắc xác định, phần 2 là các trường hợp đặc biệt.

    1. Nguyên tắc xác định

    Thời hạn để xóa án tích phải căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Như chúng ta đã biết trong một Bản án có thể chỉ có duy nhất 1 hình phạt chính nhưng cũng có thể vừa có hình phạt chính vừa có hình phạt bổ sung. Như vậy dựa theo nguyên tắc trên chúng ta chỉ được phép dựa vào hình phạt chính đã tuyên để xác định thời hạn xóa án tích. Ví dụ: A bị tuyên hình phạt tù 10 năm đồng thời bị áp dụng hình phạt bổ sung quản chế 04 năm, thì chúng ta phải dựa vào hình phạt tù 10 năm để xác định thời hạn xóa án tích của A là 03 năm (trong trường hợp đương nhiên xóa án tích) hoặc 05 năm (trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án) chứ không được dựa vào thời hạn 04 năm quản chế để xác định thời hạn xóa án tích.

    2. Các trường hợp đặc biệt

    a) Tính lại thời hạn

    Việc tính lại thời hạn sẽ áp dụng khi người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

    Phân tích quy định này chúng ta có thể thấy:

    Điều kiện cần: Người bị kết án chưa được xóa án tích

    Ở đây nhà làm luật dùng từ “chưa được xóa án tích” chứ không phải “trong thời hạn xóa án tích”. Theo quan điểm của tác giả quy định như vậy là chưa ổn, nó chỉ đảm bảo được tính đúng trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Trong trường hợp đó hết thời hạn xóa án tích chỉ là điều kiện cần còn việc có được xóa án tích hay không là phụ thuộc vào quyết định của Tòa án. Tuy nhiên đối với trường hợp xóa án tích đương nhiên thì điều kiện cần và đủ duy nhất là người bị kết án đã đảm bảo đủ thời hạn xóa án tích. Việc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có cập nhật thông tin về tình hình án tích, cấp phiếu lý lịch tư pháp ghi nhận không có án tích kịp thời hay không không hề ảnh hưởng đến việc người đó vốn dĩ đã không còn án tích (nhưng nếu chậm trễ vẫn xem là chưa xóa án tích). Như vậy, giả định rằng người bị kết án đã đảm bảo thời hạn xóa án tích và yêu cầu cơ quan trên cấp phiếu lý lịch tư pháp trong đó xác nhận không có án tích, tuy nhiên xuất phát từ lỗi của cơ quan này nên người bị kết án vẫn chưa được xóa án tích. Nếu họ thực hiện một tội phạm mới thì thời hạn xóa án tích của tội phạm cũ có tính lại hay không? Nếu tính lại thì rõ ràng thiệt hại thuộc về người bị kết án trong khi lỗi không thuộc về họ.

    Vì thế cho nên theo quan điểm cá nhân của tác giả cho rằng, điều kiện cần này nên chia ra 2 trường hợp rõ ràng. Đối với xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì theo quy định hiện hành đã đảm bảo. Đối với trường hợp đương nhiên xóa án tích thì nên sửa lại thành “Người bị kết án đang trong thời hạn xóa án tích…”

    Điều kiện đủ: Phạm tội mới và đã bị kết án bằng Bản án đã có hiệu lực pháp luật

    Điều kiện này khá rõ ràng, người chưa được xóa án tích phải phạm tội mới và hành vi phạm tội này đã bị kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy nếu như phạm tội mới nhưng đang trong quá trình điều tra truy tố xét xử và bản án vẫn chưa có hiệu lực pháp luật (án sơ thẩm trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị chẳng hạn) thì vẫn chưa làm phát sinh việc tính lại thời hạn.

    Hệ quả: Thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

    Hệ quả này chính là việc thời hạn xóa án tích được tính lại và căn cứ vào tội phạm mới được thực hiện, nói cách khác thời hạn xóa án tích đã trải qua sẽ không còn giá trị nữa.

    b) Phạm nhiều tội thuộc cả 2 trường hợp đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án

    Đây là quy định hoàn toàn mới, góp phần khắc phục lỗ hổng quy định tại Bộ Luật cũ (Bộ Luật cũ đã không dự liệu trường hợp này). Cụ thể, người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.

    Như vậy ở đây có 2 nội dung lớn là thời hạn xóa án tích và thẩm quyền quyết định đều căn cứ vào Điều 71 để quyết định. Nghĩa là Tòa án là chủ thể có thẩm quyền quyết định việc xóa án tích và thời hạn xóa án tích sẽ dài hơn so với trường hợp đương nhiên xóa án tích như tác giả đã bình luận ở Điều 71. Về thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án thì có gì để bàn cãi vì nó hợp lý. Tuy nhiên thời hạn cũng căn cứ vào Điều 71 trong khi người phạm tội có tội thuộc Điều 70 có tội thuộc Điều 71 là không ổn bởi lẽ nó gây bất lợi cho người phạm tội (thời hạn xóa án tích dài hơn). Trong trường hợp này, theo quan điểm riêng của tác giả thời hạn xóa án tích nên căn cứ vào Điều 70 thay vì 71 để đảm bảo nguyên tắc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội.

    c) Miễn chấp hành hình phạt

    Trường hợp này khá đơn giản và dễ hiểu vì vậy cũng không có nhiều thứ để bàn. Ví dụ A bị tuyên phạt tù 05 nhưng sau khi chấp hành được 04 năm, đáp ứng đủ điều kiện để miễn hình phạt và đã được miễn 01 năm tù còn lại thì coi như A đã chấp hành xong hình phạt kể từ thời điểm chấp hành xong hình phạt năm thứ 04 và thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích cũng căn cứ vào đó.

    Chương XI: NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI

    Điều 74. Áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.

    Bình Luận

    Như đã nêu tại một số Chương trước, hiện nay đối tượng chịu trách nhiệm hình sự không chỉ dừng lại ở chủ thể là cá nhân người phạm tội mà nay còn được mở rộng sang đối tượng khác là pháp nhân thương mại và đây là một chủ thể đặc biệt, chính vì vậy mà pháp luật hình sự hiện hành đã dành ra một Chương cụ thể để thể chế hóa các qui định áp dụng. Vì là lần đầu tiên ban hành khuôn khổ hình sự hóa một số hành vi của pháp nhân thương mại nên việc thiếu xót hay chưa phù hợp của các qui định là điều không tránh khỏi, nên rất cần sự chung tay, chung sức của các học giả, nhà nghiên cứu cùng với thực tế áp dụng để chỉ ra các điểm bất cập và từ đó có sự hiệu chỉnh một cách đúng đắn và chính xác. Trong nhiệm vụ chung, cũng như nhằm cụ thể hóa, phân tích, bình luận các qui định liên quan đến pháp nhân thương mại, tác giả sẽ giúp quý bạn đọc có cái nhìn chi tiết hơn về đối tượng mới mẻ này của luật hình sự.

    Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm pháp nhân là gì? Và Pháp nhân thương mại được hiểu như thế nào. Theo qui định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật dân sự 2015 đã qui định điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi và chỉ khi hội tụ đầy đủ các yếu tố sau đây:

    Được thành lập theo qui định của Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.

    Có cơ cấu tổ chức theo Điều 83 Bộ luật dân sự.

    Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

    Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

    Bên cạnh đó, Pháp nhân được phân thành hai loại hình khác nhau là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Tuy nhiên chỉ có pháp nhân thương mại mới là chủ thể của pháp luật hình sự, đây là chủ thể với đặc điểm có mục tiêu chính là tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận đó sẽ được chia cho các thành viên trên cơ sở tỷ lệ góp vốn, cổ phần hoặc bên cạnh một tiêu chí khác nếu có. Việc chỉ qui định pháp nhân thương mại mới là chủ thể của luật hình sự xuất phát từ chính mục tiêu hoạt động của loại hình pháp nhân này. Pháp nhân này ra đời với mục đích cuối cùng là tạo ra lợi nhuận cho các thành viên - đối tượng đã tạo lập ra nó và trên thực tế, vì lợi nhuận mà không ít pháp nhân đã thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật để lại những hậu quả nghiêm trọng. Trên cơ sở thực tế và yêu cầu cấp bách cần có một cơ chế đặc biệt để xử lý một chủ thể mà trong suốt thời gian qua dường như pháp luật đã lãng quên vấn đề hình sự hóa hành vi của nó, trong lần sửa đổi, hiệu chỉnh Pháp luật hình sự lần này, các nhà lập pháp đã đưa pháp nhân thương mại thành chủ thể xem xét trách nhiệm hình sự nhằm tạo ra một cơ chế xử lý nghiêm khắc, có hiệu quả trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm.

    Việc hình sự hóa hành vi của pháp nhân thương mại chỉ dừng lại ở những hành vi được qui định tại Bộ luật này. Các hành vi vi phạm khác nếu có chỉ xử lý trách nhiệm hành chính hoặc dân sự.

    Điều 75. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

    1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

    b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

    c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

    d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

    Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

    Bình luận

    Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại hay nói cách khác là các yếu tố cấu thành tội phạm, tương tự đối tượng là cá nhân, hành vi của pháp nhân thương mại chỉ đủ yếu tố cấu thành tội phạm được nêu tại Bộ luật này khi và chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

    Thứ nhất: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

    Khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội, pháp nhân thương mại bình đẵng với chủ thể cá nhân. Tuy nhiên xét về đặc điểm cơ cấu, tổ chức thì hành vi của pháp nhân chỉ được thực hiện thông qua một hoặc nhiều cá nhân cụ thể và làm phát sinh các quyền và trách nhiệm tương ứng của pháp nhân. Cá nhân này là người đại diện theo pháp luật và/hoặc một cá nhân khác theo ủy quyền hoặc theo qui định trong cơ cấu, tổ chức của pháp nhân. Trong suốt quá trình hoạt động của mình, pháp nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ thông qua các đại diện có thẩm quyền, trường hợp này có thể nói cá nhân và pháp nhân tương hổ với nhau trong một chủ thể nhất định, hay nói cách khác là hình với bóng mà không thể tách rời, việc thiếu đi một chủ thể không tạo nên tư cách hoạt động và từ đó không làm phát sinh được trách nhiệm của pháp nhân.

    Xét các yếu tố cấu thành trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo qui định Bộ luật này thì cần mặc định yếu tố đầu tiên là hành vi đó phải được thực hiện nhân danh pháp nhân. Nghĩa là hành vi được người đại diện theo pháp luật hoặc một cá nhân khác có thẩm quyền thực hiện bằng tư cách của pháp nhân mà không phải bằng tư cách cá nhân của các chủ thể này. Ví dụ: A là Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X hoạt động trong lĩnh vực sản xuất cà phê, trong quá trình sản xuất, A cho sử dụng các phế phẩm từ cà phê, đậu nành, sử dụng dầu nhớt, Pin để cho ra thị trường hàng tấn cà phê giả, kém chất lượng dưới danh nghĩa cà phê do Công ty X sản xuất. Qua ví dụ trên, chúng ta có thể nhận thấy, các sản phẩm cà phê được đóng gói, bao bì mang thương hiệu Công ty X, đồng thời hành vi này được chính người đại diện theo pháp luật của Công ty X thực hiện. Vì vậy, hiển nhiên làm phát sinh việc xem xét trách nhiệm hình sự Công ty X trong trường hợp thỏa mãn đồng thời các yếu tố khác. Tại điểm này chúng ta cần phải làm rõ liệu cá nhân thực hiện hành vi có đủ thẩm quyền để nhân danh pháp nhân hay không. Không phải mọi cá nhân đang làm việc và hoạt động tại pháp nhân đều có quyền nhân danh pháp nhân mà chỉ có những cá nhân theo luật định và theo qui định trong cơ cấu, tổ chức của pháp nhân mới đủ thẩm quyền nhân danh và từ đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân. Cụ thể theo qui định tại Điều 85 Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện của pháp nhân được nêu như sau:

    “Điều 85: Đại diện của pháp nhân

    Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo qui định về đại diện tại Chương IX Phần này”.

    Xét về đại diện theo pháp luật của pháp nhân: Tùy theo từng loại hình pháp nhân mà có đại diện pháp luật tương ứng với những điều kiện cụ thể. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được thể hiện rõ nét nhất trong Điều lệ của pháp nhân đó và trên giấy chứng nhận đăng ký khi được Cơ quan có thẩm quyền cấp.

    Xét về đại diện theo ủy quyền: Là trường hợp mà người đại diện theo pháp luật hay nói cách khác là người đại diện đương nhiên vì một lý do nào đó mà không thể thực hiện các công việc, giao dịch nhân danh pháp nhân nên ủy quyền lại cho một hoặc một số người nhất định để thực hiện một hoặc một số công việc, giao dịch trong phạm vi ủy quyền. Và đương nhiên khi nhận được sử ủy quyền từ người đại diện theo pháp luật của pháp nhân mà người được ủy quyền thực hiện công việc, giao dịch trong phạm vi được ủy quyền đều làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân mà mình nhân danh.

    Chính vì vậy mà chỉ có những cá nhân có đủ thẩm quyền (đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền) mới được quyền nhân danh pháp nhân để thực hiện những hành vi nhất định

    Thứ hai: Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại.

    Tại yếu tố thứ nhất, chúng ta đã phân tích hành vi của pháp nhân thương mại được thực hiện thông qua hành vi của một hoặc một số cá nhân có thẩm quyền của pháp nhân đó. Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp việc nhân danh đều nhằm mục đích cuối cùng là vì lợi ích của pháp nhân mà mình nhân danh. Trong thực tế có rất nhiều trường hợp, đối tượng đã lợi dụng tên tuổi, uy tín, địa vị của một pháp nhân để thực hiện những hành vi phục vụ cho lợi ích của chính bản thân mình hoặc cho một, một số cá nhân, tổ chức khác. Xét hành vi này ở những khía cạnh như sau:

    - Đủ thẩm quyền nhân danh pháp nhân nhưng khi nhân danh pháp nhân để xác lập thực hiện các hành vi, giao dịch lại không vì lợi ích của pháp nhân mà chỉ nhằm trục lợi cho bản thân hoặc cho đối tượng khác --->không đủ yếu tố cấu thành tội phạm cho pháp nhân.

    - Không đủ thẩm quyền nhân danh pháp nhân nhưng vẫn nhân danh pháp nhân để thực hiện các hành vi, giao dịch nhằm phục vụ lợi ích của bản thân hoặc đối tượng khác ---> không đủ yếu tố cấu thành tội phạm cho pháp nhân.

    Như vậy, có thể thấy bên cạnh yếu tố đủ thẩm quyền nhân danh pháp nhân thì việc nhân danh này phải nhằm mục đích cuối cùng là vì lợi ích của pháp nhân đó. Hai chữ lợi ích ở đây không nhất định phải được cố định trong một ngữ nghĩa là trên thực tế phải đem về cho pháp nhân một lợi ích vật chất, phi vật chất cụ thể nào đó. Chúng ta phải hiểu rằng, pháp nhân thương mại ra đời và hoạt động với tôn chỉ duy nhất là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận đó sẽ được phân chia cho các thành viên đã sáng lập ra nó. Và tất nhiên trước khi đưa ra quyết định cho một vấn đề, sự việc cụ thể nào, người đại diện của pháp nhân luôn luôn mong muốn và hướng đến những giá trị lợi ích nhất định, lợi ích đó có thể được thể hiện dưới dạng vật chất như tiền, tài sản, bất động sản, cổ phiếu…hay dưới dạng lợi phi vật chất là các mối quan hệ làm ăn kinh doanh, uy tín, địa vị…, lợi ích đó có thể biểu hiện ở hiện tại hoặc tương lai…. Vì vậy khi xác định hành vi phạm tội của pháp nhân, chúng ta không cần quan tâm liệu tại thời điểm đó pháp nhân đã đạt được lợi ích nào từ việc thực hiện hành vi này hay không.

    Thứ ba: Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.

    Như đã phân tích tại yếu tố thứ nhất và thứ hai trong cấu thành trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại thì mọi hoạt động của pháp nhân thương mại được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện. Vậy trên cơ sở nào để xác định một hành vi, hoạt động được thực hiện đã có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Để xem xét vấn đề này cần căn cứ vào loại hình của pháp nhân cùng với bộ máy, cơ cấu, tổ chức. Bởi lẽ không phải mọi hành vi, giao dịch của pháp nhân đều do người đại diện quyết định mà tùy vào loại hình, có những vấn đề cần phải có sự xem xét, quyết định của một bộ phận (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị đối với loại hình doanh nghiệp cổ phần; Hội đồng thành viên đối với doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn…).

    Về hình thức biểu hiện: Thực tế trong hoạt động của pháp nhân thương mại việc chỉ đạo được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau như lời nói, văn bản (Biên bản họp, Nghị quyết, thư điện tử) hoặc có thể chỉ đạo ngầm qua hành vi, cử chỉ nhất định mà chỉ có những cá nhân thân cận mới có thể nắm bắt được.

    Khi xem xét có hay không sự chỉ đạo, chấp thuận, điều hành của pháp nhân đối với một hành vi vi phạm cần có cơ sở để đánh giá một cách khách quan rằng đã có sự chấp thuận trước đó. Tùy vào từng trường hợp, mà Cơ quan chức năng sẽ có sự xem xét cụ thể, không nhất thiết mọi sự chỉ đạo, điều hành phải được biểu hiện bằng hình thức văn bản mà có thể dưới bất kỳ hình thức nào mang tính chứng minh. Bởi lẽ, trong cơ cấu, tổ chức của pháp nhân luôn luôn hoạt động theo nguyên tắc chỉ đạo, mệnh lệnh, rất khó để cho rằng một bộ phận, phòng ban có thể tự ý thực hiện một hoặc một số hành vi, giao dịch khi chưa có sự chấp thuận của pháp nhân đó. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc mọi hành vi xảy ra đều là thực thi theo sự chỉ đạo của pháp nhân. Trong thực tế không ít cá nhân, bộ phận đã lợi dụng danh nghĩa pháp nhân để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật nhằm trục lợi hoặc thực hiện hành vi với mục đích nhằm mang lại lợi ích cho pháp nhân khi chưa nhận được sự chấp thuận của pháp nhân.

    Thứ tư: Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

    Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tương tự như với cá nhân, cụ thể:

    “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

    b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

    c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

    d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”.

    Một khi hội tụ đầy đủ các yếu tố nêu trên thì pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm. Khi xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại không loại trừ trách nhiệm hình sự của các cá nhân có liên quan. Một vấn đề được đặt ra khi cùng xem xét một hành vi vi phạm cho hai chủ thể liệu có phù hợp hay không? Dưới góc độ pháp lý, các cá nhân, pháp nhân khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội đều bình đẵng về quyền và nghĩa vụ, là hai thực thể hoàn toàn tách biệt nhau nên việc xem xét trách nhiệm hình sự của hai chủ thể này đối với cùng một hành vi là phù hợp.

    Đồng thời, qui định này rõ ràng giúp ngăn ngừa việc lợi dụng pháp nhân để thực hiện các hành vi phạm tội cũng như nâng cao trách nhiệm của các cá nhân đại diện khi quyết định một hành vi cụ thể.

    Điều 76. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

    Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.

    Bình Luận

    Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại chỉ bị xem xét ở một số hành vi nhất định, cụ thể:

    Chương XVIII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Điều 188 - Tội buôn lậu; Điều 189 - Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Điều 190 - Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; Điều 191 - Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Điều 192 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 193 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Điều 194 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 195 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; Điều 196 - Tội đầu cơ; Điều 200 - Tội trốn thuế; Điều 203 - Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ; Điều 209 - Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; Điều 210 - Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; Điều 211 - Tội thao túng thị trường chứng khoán; Điều 213 - Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; Điều 216 - Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; Điều 217 - Tội vi phạm quy định về cạnh tranh; Điều 225 - Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; Điều 226 - Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Điều 227 - Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Điều 232 - Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; Điều 234 - Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã.

    Chương XIX. Các tội phạm về môi trường: Điều 235 - Tội gây ô nhiễm môi trường; Điều 237 - Tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; Điều 238 - Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông; Điều 239 - Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Điều 242 - Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản; Điều 243 - Tội huỷ hoại rừng; Điều 244 - Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; Điều 245 - Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; Điều 246 - Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.

    Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng: Điều 300 - Tội tài trợ khủng bố; Điều 324 - Tội rửa tiền.

    ….…..

    Điều 77. Phạt tiền

    1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

    2. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

    Bình Luận

    Về các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại được qui định tại Điều 33 Bộ luật này, cụ thể:

    “1. Hình phạt chính bao gồm:

    a) Phạt tiền;

    b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

    c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

    2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

    a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

    b) Cấm huy động vốn;

    c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

    3. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung”.

    Tại Điều này, chúng ta tập trung làm sáng tỏ về cách thức, phương thức cũng như các điều kiện cần và đủ để áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại có hành phạm tội.

    Trước hết về mục đích khi áp dụng hình phạt là nhằm tác động đến khả năng tài chính của pháp nhân thương mại. Với biện pháp này, pháp nhân thương mại phải sử dụng một khoản tiền nhất định để bù đắp cho hành vi vi phạm của mình và khi áp dụng hình phạt tiền, cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau để đưa ra được một mức phạt hợp lý. Tính hợp lý ở đây được thể hiện trên hai phương diện.

    Phương diện thứ nhất: trừng phạt và giáo dục. Đây không chỉ là yêu cầu riêng đối với pháp nhân thương mại khi áp dụng hình phạt này mà nó chính là mục đích của việc áp dụng mọi hình phạt được qui định tại 31 Bộ luật này. Pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội thì tương ứng với hành vi đó họ phải nhận lại một thiệt hại nhất định về mặt tài chính khi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền truy tố và quyết định hình phạt. Điều này không chỉ trừng phạt hành vi phạm tội mà còn răn đe pháp nhân thương mại nếu tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

    Phương diện thứ hai: Tính thực tế khi áp dụng. Điều luật qui định rất rõ mức giới hạn tối thiểu đối với khung phạt là năm mươi triệu đồng nhưng lại bỏ ngõ mức tối đa. Việc bỏ ngõ này chính là tạo ra sự linh động trong việc áp dụng luật. Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như khả năng tài chính của pháp nhân mà Tòa án sẽ quyết định mức phạt. Mỗi pháp nhân khi thực hiện hành vi phạm tội đều khác nhau về nhiều khía cạnh, đó có thể là loại hành vi, mức độ tác động của hành vi lên đời sống xã hội, hậu quả mà nó để lại cho các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ ….và chính bản thân mỗi pháp nhân cũng hoàn toàn không giống nhau về khả năng tài chính. Do vậy, quyết định hình phạt như thế nào cần phải căn cứ vào khả năng thực tế chấp hành của pháp nhân thương mại bị áp dụng. Việc chấp hành ở đây cần được hiểu là khả năng tài chính của pháp nhân có đủ thực lực để thi hành mức án phạt hay không. Đây chính là tính thực tế khi áp dụng hình phạt tiền mà trong bản thân Điều luật cũng đã qui định rất rõ một trong các căn cứ để ra hình phạt là: “có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội”.

    Mức tối thiểu của khung hình phạt: Khoản 2 Điều luật đưa ra mức tối thiểu của khung hình phạt là 50.000.000 VNĐ, trong khi đó đối với người phạm tội thì mức này được qui định là 1.000.000 VNĐ. Sự khác biệt xuất phát vào khả năng tài chính, một pháp nhân thương mại được thành lập dựa trên nguồn tài chính của một nhóm cá nhân và/hoặc tổ chức nên trong mọi trường hợp, xét ở nhiều phương diện, khía cạnh thì khả năng tài chính của pháp nhân dường như luôn có ưu thế vượt trội một cá nhân đơn lẻ. Vì vậy với biện pháp hình phạt tiền, để có thể phát huy được hết mục đích áp dụng thì việc đặt giới hạn tối thiểu như nêu trên là hoàn toàn phù hợp, mặt khác hạn chế được tiêu cực khi áp dụng hình phạt của các cơ quan có thẩm quyền trong việc tùy tiện đưa ra mức hình phạt không thỏa đáng, không đủ sức răn đe.

    Điều 78. Đình chỉ hoạt động có thời hạn

    1. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

    2. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.

    Bình Luận

    Nếu như qui định tại Điều 78 về áp dụng hình phạt tiền là nhằm vào khả năng tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội thì chế tài về đình chỉ hoạt động có thời hạn lại nhằm vào các lĩnh vực hoạt động của pháp nhân.

    Một pháp nhân khi thành lập bắt buộc phải đăng ký một hoặc một số lĩnh vực hoạt động với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực đã đăng ký, pháp nhân còn phải đáp ứng các điều kiện khác theo qui định của pháp luật chuyên ngành. Vì vậy khi áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động là tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh hàng ngày, mà sâu xa hơn là tác động đến mặt tài chính, nguồn thu. Việc đình chỉ ở đây chỉ mới dừng ở mức tạm thời, có nghĩa là đình chỉ có thời hạn mà sau khi kết thúc khoảng thời hạn đó, pháp nhân thương mại được quyền tiếp tục hoạt động bình thường trở lại.

    Thời hạn đình chỉ: từ 06 tháng đến 03 năm. Thời hạn cụ thể sẽ do Cơ quan có thẩm quyền quyết định. Tuy Điều luật không nêu rõ các cơ sở, căn cứ để quyết định mức hình phạt nhưng dựa trên qui phạm của Điều luật chúng ta cũng có thể nắm bắt được việc quyết định hình phạt cần phải dựa trên mức độ thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra như thế nào đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Thiệt hại ở đây chính là sự biến động theo chiều hướng xấu, tiêu cực của các quan hệ xã hội mà hành vi phạm tội tác động đến.

    Điều kiện áp dụng hình phạt: Pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng hình phạt này khi và chỉ khi thỏa mãn các điều kiện sau:

    Thứ nhất: Hành vi phạm tội ở một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của pháp nhân mà đã gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tại điều kiện này chúng ta cần phải nhất quán một cách hiểu và vận dụng nội dung của Điều luật là hành vi phạm tội của pháp nhân đã gây ra thiệt hại trên thực tế. Trường hợp mặc dù pháp nhân đã có hành vi phạm tội nhưng xét về thiệt hại vẫn chưa xảy ra thì cũng không đủ yếu tố, điều kiện để có thể áp dụng hình phạt này đối với pháp nhân.

    Thứ hai: Thiệt hại xảy ra được đóng khung, giới hạn ở phạm vi tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Điều này đồng nghĩa, thiệt hại phải tác động đến các đối tượng được liệt kê nêu trên, trường hợp hành vi phạm tội có xảy ra, có gây thiệt hại trên thực tế nhưng những thiệt hại này lại nằm ngoài phạm vi của Điều luật thì pháp nhân có hành vi cũng không bị áp dụng chế tài này.

    Thứ ba: Thiệt hại phải có khả năng khắc phục trên thực tế. Điều luật không giới hạn qui mô, mức độ thiệt hại của hành vi phạm tội mà chỉ đề cập đến khả năng khắc phục của nó trên thực tế. Cơ sở để đánh giá một pháp nhân có bị tạm đình chỉ lĩnh vực hoạt động hay không là sự xem xét kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có sự xem xét khả năng khắc phục hậu quả. Việc khắc phục hậu quả có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức cách thức khác nhau tương ứng với loại hậu quả xảy ra, ví dụ:

    Khắc phục hậu quả về môi trường: Pháp nhân chấm dứt hành vi phạm tội, tìm hiểu nguyên nhân gây thiệt hại, tương ứng với nguyên nhân sẽ có hành vi khắc phục (thu gom rác, hóa chất; xử lý nguồn nước thải, chất thải; thả, phát tán các loại vi sinh vật, hóa chất có khả năng khôi phục….)

    Khắc phục hậu quả về sức khỏe: Pháp nhân chấm dứt hành vi phạm tội, tìm hiểu nguyên nhân gây thiệt hại, đưa đối tượng bị thiệt hại đến sơ cứu, cấp cứu, dưỡng sức tại các cơ sở chăm sóc y tế….

    Tại Điều luật này, tác giả đưa ra ý kiến về một khía cạnh mà tác giả xét thấy là chưa phù hợp: Trong phạm vi thiệt hại, Điều luật có đề cập đến thiệt hại về tính mạng con người. Tuy nhiên khi xét tổng thể các điều kiện để áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động thì bên cạnh các điều kiện khác thì một điều kiện mang tính tiên quyết nhằm phân biệt hóa với các chế tài khác khi áp dụng cho pháp nhân thương mại phạm tội là hậu quả đó phải có khả năng khắc phục được trên thực tế. Nhưng khi chúng ta đánh giá việc gây thiệt hại đến tính mạng con người thì hoàn toàn không có cơ sở để cho rằng hậu quả này đã được khắc phục. Cần phải hiểu rõ ý nghĩa của hành động khắc phục: là nhằm đưa đối tượng bị tác động bởi một hoặc một số hành vi về trạng thái ban đầu, đối tượng bị tác động theo chiều hướng xấu, làm cho đối tượng đó không còn mang hình thái, tính chất ban đầu. Như vậy, thiệt hại về tính mạng hay nói cách khác là gây ra cái chết cho một con người cụ thể thì không thể khắc phục, có hay chăng là các hành vi nhằm mục đích bù đắp thiệt hại xảy ra cho thân nhân của người đó, việc bù đắp được thực hiện bằng vật chất và tinh thần. Do vậy, với qui định như hiện nay của Điều luật là chưa phù hợp, cần có sự điều chỉnh nhất định.

    Điều 79. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

    1. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.

    2. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.

    Bình luận

    Hậu quả pháp lý của hình phạt: Pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội bị áp dụng chế tài này phải chấm dứt hoạt động vô thời hạn đối với một hoặc một số lĩnh vực nhất định. Điều này đồng nghĩa, trong suốt thời hạn hoạt động hay nói cách khác là quãng đời của pháp nhân không được hoạt động kinh doanh đối với lĩnh vực bị áp dụng hình phạt.

    Điều kiện áp dụng: Pháp nhân bị áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn khi và chỉ khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

    Thứ nhất: Có hành vi phạm tội trong một hoặc một số lĩnh vực hoạt động. Lĩnh vực hoạt động của pháp nhân được xác định trong danh sách ngành nghề mà pháp nhân đã đăng ký.

    Thứ hai: Hành vi phạm tội đã gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại trên thực tế. Tại điều kiện áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động các nhà làm luật chỉ đặt điều kiện về thiệt hại đã xảy ra mà không dự liệu khả năng của thiệt hại sẽ xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên khi xem xét áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động vĩnh viễn - một loại hình phạt mà xét trong tổng thể các loại hình phạt áp dụng cho pháp nhân thương mại phạm tội thì đây rõ ràng là loại hình phạt mà hậu quả pháp lý để lại cho pháp nhân bị áp dụng là nặng nề nhất thì các nhà làm luật lại dự liệu thêm một điều kiện mới về khả năng xảy ra thiệt hại. Nếu có đầy đủ cơ sở để xác định một cách chắc chắn rằng hậu quả sẽ xảy ra, tác động lên các mối quan hệ, đối tượng được dự trù khi không ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của pháp nhân thì hoàn toàn đủ điều kiện xem xét áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động vĩnh viễn lĩnh vực hoạt động của pháp nhân đó.

    Thứ ba: Hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến các đối tượng: tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Điểm khác biệt so với đối tượng bị tác động của chế tài đình chỉ hoạt động qui định tại Điều 78 là tính mạng của nhiều người. Điều này cho thấy mức độ thiệt hại hoặc nguy cơ xảy ra thiệt hại là rất lớn, nghiêm trọng, chính vì vậy tương thích với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì việc áp dụng chế tài nặng nhất là hoàn toàn phù hợp.

    Thứ tư: Đối với các thiệt hại đã xảy ra thì các thiệt hại này phải không có khả năng khắc phục trên thực tế. Như đã bình luận tại Điều 78 qui định về đình chỉ hoạt động có thời hạn thì đây chính điều kiện khác biệt cơ bản để phân biệt và làm cơ sở xác định khi áp dụng giữa hai chế định hình phạt đình chỉ có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Việc không có khả năng khắc phục hậu quả cho thấy thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra là cực kỳ nghiêm trọng, hành vi phạm tội của pháp nhân đã tác động làm biến đổi theo chiều hướng xấu một hoặc một số đối tượng mà sự biến đổi này không bao giờ đưa được đối tượng về trạng thái ban đầu.

    Các nhà làm luật cũng đã dự liệu đối với một số trường hợp đặc biệt nhưng xét trong bối cảnh hiện nay thì đây không phải là trường hợp hiếm, thậm chí ngày càng được mở rộng với qui mô lớn và hoạt động với tính chất ngụy trang rất tinh vi đó là các pháp nhân thương mại được thành lập với mục đích duy nhất: thực hiện hành vi tội phạm. Ví dụ: gần đây trong một số tin tức pháp luật có trường hợp gia sư tiếng nhật lợi dụng khả năng đào tạo ngoại ngữ đã thành lập một pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động sang Nhật. Tuy nhiên mục đích chính của đối tượng này là thu hút thông tin đăng ký từ các cá nhân có nhu cầu xuất khẩu lao động, nhận tiền dịch vụ và khi đến gần thời hạn thông báo xuất cảnh thì đối tượng này bỏ trốn cùng với số tiền lớn mà mình đã chiếm đoạt được. Rõ ràng đối tượng được nêu trên thành lập pháp nhân với một mục đích duy nhất là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua hành vi đăng ký dịch vụ xuất khẩu lao động. Đối với các pháp nhân này, pháp luật qui định việc đình chỉ hoạt động không bị giới hạn lại ở một hoặc một số lĩnh vực hoạt động nhất định mà bị đình chỉ vĩnh viễn tất cả hoạt động. Đồng nghĩa với việc pháp nhân phải chấm dứt hoạt động.

    Điều 80. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định

    1. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.

    2. Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.

    3. Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Bình luận

    Qui định cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định có nhiều điểm tương đồng nhất định với chế tài đình chỉ hoạt động có thời hạn ở những khía cạnh sau đây:

    Thứ nhất về thời hạn: Qui định cấm hay đình chỉ được áp dụng trong một khoảng thời hạn nhất định mà sau khi kết thúc khoảng thời hạn đó pháp nhân thương mại được tiếp tục kinh doanh, hoạt động.

    Thứ hai về phạm vi áp dụng: Chỉ áp dụng trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định. Tại đây, tác giả cần làm rõ thuật ngữ được sử dụng tại khoản 1 Điều 80 Bộ luật này. Điều luật thể hiện:“cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định”. Khi đọc qua câu từ trong điều luật, chúng ta dễ nhầm lẫn nếu cho rằng việc cấm kinh doanh, cấm hoạt động được áp dụng đồng loạt cho nhiều lĩnh vực mà không áp dụng đơn lẻ cho một lĩnh vực nhất định. Sỡ dĩ cách hiểu này là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ tại Điều 78 qui định về đình chỉ hoạt động có thời hạn đã thể hiện: “Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực…”. Rõ ràng tại qui định này đã thể hiện chi tiết hai trường hợp được áp dụng là áp dụng cho một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực. Trong khi đó, khi xem xét cách sử dụng thuật ngữ tại Điều 80 chúng ta rất có thể rập khuôn theo cách hiểu đơn thuần là mặc nhiên chế tài này phải được áp dụng cho đồng thời nhiều lĩnh vực hoạt động, kinh doanh của pháp nhân. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thì việc áp dụng chế tài xử lý vi phạm cấm kinh doanh, cấm hoạt động phải được áp dụng cho cả một hoặc một số lĩnh vực. Để lý giải cho quan điểm, tác giả nhận định pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội không đồng nghĩa với việc hành vi phạm tội đó phải được thực hiện để gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại đồng thời tại nhiều lĩnh vực hoạt động. Trong khi đó, cơ sở để xác định có hay không việc áp dụng chế tài cấm kinh doanh, cấm hoạt động phải xuất phát từ những căn cứ xác đáng, đủ độ tin cậy khi khẳng định rằng việc không áp dụng chế tài sẽ có nguy cơ gây thiệt hại trên thực tế. Tác giả khẳng định để xác định được khả năng gây thiệt hại của một hành vi là cần phải xem xét tổng hợp trên nhiều yếu tố, phương diện, đánh giá toàn diện các khía cạnh, đồng thời chủ thể quyết định hình phạt cần có nhìn nhận khách quan, tránh phiến diện. Do vậy khi cân nhắc có hay không tồn đọng rủi ro, nguy cơ cho một lĩnh vực của pháp nhân thương mại phạm tội đã khó chứ chúng ta chưa nói đến khả năng của đồng thời nhiều lĩnh vực cùng một lúc. Vì vậy, tác giả cho rằng qui định này phải được áp dụng trong một trường hợp mở, nhiều trường hợp chứ không đơn thuận bó hẹp trong thuật ngữ của điều luật.

    Bên cạnh các điểm tương đồng thì giữa hai chế định cũng có những khác biệt cơ bản như sau:

    Về điều kiện áp dụng: Nếu như qui định đình chỉ hoạt động có thời hạn chỉ đề cập đến thiệt hại đã thực tế xảy ra thì đến đây chế tài này lại tập trung vào khả năng xảy ra của thiệt hại trong tương lai.

    Phạm vi áp dụng: Chế tài này không được áp dụng riêng lẻ mà phải được áp dụng đồng thời với hình phạt khác như phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

    Điều 81. Cấm huy động vốn

    1. Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.

    2. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:

    a) Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư;

    b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;

    c) Cấm huy động vốn khách hàng;

    d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;

    đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

    3. Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định tại khoản 2 Điều này.

    4. Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Bình luận

    Đây là hình phạt bổ sung được áp dụng bên cạnh hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội.

    Về mục đích: Ngăn chặn nguy cơ tái thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã dự liệu một trường hợp có thể xảy ra là việc để pháp nhân thương mại huy động vốn là tạo điều kiện cho hoạt động của tội phạm. Như đã bình luận tại Điều 80 về cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thì việc để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn có phải là điều kiện làm phát sinh hành vi phạm tội hay không thì phải xem xét, đánh giá trên nhiều yếu tố, nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau, bởi lẽ chỉ cần Tòa án quyết định áp dụng hình phạt nhưng xét thấy việc áp dụng này là hoàn toàn không cần thiết, không phù hợp thì sẽ để lại hậu quả to lớn cho pháp nhân bị áp dụng. Pháp nhân thương mại với một mục đích chính và duy nhất là hoạt động thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận, trong quá trình hoạt động cũng như trên thực tế hiện nay của môi trường doanh nghiệp - một loại hình của pháp nhân thương mại thì đa số các pháp nhân này đều sử dụng nguồn tài chính từ bên ngoài để hoạt động kinh doanh thông qua các kênh huy động vốn khác nhau. Do vậy khi không có căn cứ xác đáng mà Tòa án lại quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là cấm huy động vốn của pháp nhân thì chắc chắn một điều rằng pháp nhân đó phải gánh chịu những thiệt hại nhất định tùy thuộc vào phạm vi áp dụng của chế tài cũng như khả năng tự chủ về tài chính, cơ hội kinh doanh của mình. Từ những phân tích trên, để thấy rằng việc áp dụng hình phạt bổ sung này phải được Tòa án xem xét, cân nhắc rất kỹ lưỡng nhằm tránh các hậu quả xảy ra.

    Các hình thức cấm huy động vốn:

    Thứ nhất: Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư

    Trong tổng thể các kênh huy động vốn hiện nay của một doanh nghiệp nói riêng và một pháp nhân thương mại nói chung đều được thực hiện phần lớn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Mức vốn hóa cho mọi thị trường đều xuất phát từ kênh huy động này. Do vậy đối với một pháp nhân thương mại bị kết án mà còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm huy động vốn theo phương thức, cách thức này thì rõ ràng biện pháp đã thực sự có những tác động nhất định lên đối tượng bị áp dụng.

    Xét về phạm vi áp dụng thì phương thức cấm huy động vốn này có thể được áp dụng rộng rãi cho mọi loại hình pháp nhân

    Thứ hai: Cấm phát hành, chào bán chứng khoán.

    Một pháp nhân khi phát hành và chào bán chứng khoán ra thị trường cho dù dưới hình thức nào đi nữa thì mục đích cuối cùng cũng là nhằm tăng nguồn tài chính cho pháp nhân phát hành. Nguồn tài chính này được thu từ các cổ đông, nhà đầu tư tham gia vào quá trình mua bán chứng khoán trên thị trường.

    Về phạm vi áp dụng: Chỉ áp dụng được cho một số pháp nhân nhất định vì không phải mọi pháp nhân đều được quyền phát hành và chào bán chứng khoán ra thị trường, hay nói cách khác biện pháp này được áp dụng một cách có chọn lọc.

    Thứ ba: Cấm huy động vốn của khách hàng.

    Tùy vào từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh mà pháp nhân thương mại được quyền huy động nguồn vốn trước của khách hàng để tạo nguồn tài chính nhằm tiếp tục thực hiện, hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng cho chính các khách hàng mà pháp nhân đã huy động vốn trước đó. Ví dụ: Một pháp nhân hoạt động kinh doanh bất động sản mà cụ thể là đầu tư dự án xây dựng căn hộ thương mại để bán và theo qui định Luật kinh doanh bất động sản, Chủ đầu tư được quyền huy động vốn trước của khách hàng có nhu cầu nhận chuyển nhượng sau khi đáp ứng các điều kiện luật định về phần móng, hạ tầng kỹ thuật…

    Tuy nhiên việc áp dụng chế tài cấm huy động vốn theo phương thức này chỉ thực sự phát huy hiệu quả đối với các lĩnh vực hoạt động, ngành nghề mà theo qui định của pháp luật pháp nhân muốn huy động vốn trước của khách hàng phải đáp ứng các điều kiện luật định. Còn đối với các hoạt động khác, việc huy động vốn trước phụ thuộc vào thỏa thuận, ý chí giữa pháp nhân và khách hàng của mình mà không có các ràng buộc về điều kiện luật định nên rất khó để thực thi trên thực tế khi áp dụng chế tài này đối với pháp nhân thương mại bị kết án.

    Thứ tư: Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước

    Liên doanh, liên kết là việc pháp nhân thương mại cùng với các pháp nhân, đơn vị, cá nhân, tổ chức khác góp vốn để thực hiện một hoạt động kinh doanh nào đó với mục đích là cùng hưởng lợi nhuận trên cơ sở tỷ lệ nguồn vốn của mỗi bên khi tham gia vào mối quan hệ liên doanh, liên kết này. Việc cấm liên doanh, liên kết ở đây chỉ được áp dụng trong trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án là bên chủ động kêu gọi các bên cùng liên doanh, liên kết nhằm tạo nguồn vốn cho pháp nhân thương mại sử dụng hoạt động kinh doanh nhưng theo đánh giá của Tòa án thì pháp nhân này sẽ không sử dụng đúng mục đích nguồn vốn huy động mà sử dụng dụng nó cho hoạt động tội phạm. Ngược lại pháp nhân thương mại bị kết án có thực hiện hành vi liên doanh, liên kết nhưng lại là bên đi trao nguồn vốn cho một pháp nhân khác thực hiện hoạt động kinh doanh thì hành vi này hoàn toàn không bị cấm vì xét về bản chất đây không phải là hành vi đi huy động vốn.

    Thứ năm: Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản

    Qũy tín thác bất động sản hay gọi tắt là REITs, một kênh huy động vốn mới cho thị trường bất động sản nói chung và thị trường nhà ở nói riêng. Nó được hình thành dựa trên nguồn vốn nhàn rỗi nhỏ lẻ từ các cá nhân, tổ chức trong xã hội thông qua việc phát hành chứng chỉ quỹ. Như vậy việc pháp luật qui định cấm pháp nhân thương mại bị kết án hình thành quỹ tín thác bất động sản là nhằm ngăn chặn các nguồn vốn tựu trung tại một đối tượng mà Tòa án có cơ sở để xác định khả năng phát sinh hành vi phạm tội.

    Phạm vi đối tượng bị áp dụng: Vì bản chất của quỹ tín thác bất động sản chỉ thực hiện trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản nên cũng bị giới hạn về đối tượng bị áp dụng chế tài này.

    ….…

    (Tiếp tục cập nhật)

     
    Báo quản trị |  
  • #491975   17/05/2018

    chiakinguyen
    chiakinguyen
    Top 500
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/06/2016
    Tổng số bài viết (182)
    Số điểm: 3874
    Cảm ơn: 76
    Được cảm ơn 203 lần


    Chương VIII  QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

    Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

    Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

    1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

    Bình luận:

    Trên đây là những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội, những căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều luật này hoàn toàn giống với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ. Trong đó căn cứ đầu tiên và có thể xem là căn cứ quan trọng nhất, bao quát nhất được nêu ra đó là: căn cứ vào quy định của Bộ Luật này (tức toàn bộ những quy định nằm trong BLHS). Có thể thấy trong quá trình xét xử vụ án hình sự sẽ luôn luôn có 2 Bộ Luật được áp dụng đó là Bộ Luật hình sự (luật nội dung) và Bộ Luật tố tụng hình sự (luật hình thức). Tuy nhiên khi quyết định hình phạt (định tội, định khung) thì sẽ chỉ căn cứ duy nhất vào Bộ Luật hình sự (luật nội dung). Căn cứ này bao hàm hết tất cả những căn cứ còn lại, bởi lẽ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ v.v…đều là những căn cứ đã được quy định tại Bộ Luật này. Việc liệt kê ra những nguyên tắc đó đảm bảo cho sự căn cứ được rõ ràng và dễ nắm bắt hơn. Bản chất của tội phạm là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và giờ Tòa án sẽ quyết định một hình phạt thích đáng với hành vi nguy hiểm cho xã hội đó. Nhưng do tính cá biệt nên không thể nào mọi hành vi nguy hiểm đều có mức độ nguy hiểm như nhau cũng như người thực hiện hành vi phạm tội cũng rất khác nhau về độ tuổi, sức khỏe, khả năng nhận thức, lý lịch tư pháp v.v…nên yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ luôn là một trong những căn cứ quan trọng mà Tòa cần phải dựa vào để quyết định hình phạt một cách đúng người đúng tội, công bằng và minh bạch.

    Thực tiễn xét xử và bào chữa của các Luật sư cho các bị cáo và phần tự bào chữa của các bị cáo thường thì sẽ tập trung phần lớn vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì đây là phần dễ mang lại lợi ích nhất. Những căn cứ còn lại như nhân thân hay mức độ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì đã quá rõ ràng vì tất cả nó đã được thể hiện trong hồ sơ của vụ án và bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Rất khó để các Luật sư có thể làm được điều thần kỳ là chứng minh từ có tội theo lời buộc tội của Viện Kiểm sát thành vô tội mà tuyệt đại đa số là sẽ tập trung vào việc giảm mức án được đề nghị xuống (tử hình xuống chung thân, chung thân xuống tù có thời hạn và rút ngắn thời hạn tù có thời hạn, từ tù giam xuống tù treo v.v…đại loại là như vậy). Đó cũng là một trong những hạn chế khá lớn đối với thủ tục tố tụng hình sự của chúng ta. Luật sư không có quyền tham gia hoặc tự thu thập chứng cứ ngay từ giai đoạn đầu tiên của vụ án mà chỉ có cơ quan điều tra mới có quyền thực hiện điều này. Chứng cứ trong một vụ án hình sự rất quan trọng do đó việc không thu thập một cách đầy đủ, chính xác hay thậm chí có việc giả mạo, ém lại một số chứng cứ quan trọng có thể làm vụ án xoay chiều từ vô tội thành có tội và ngược lại. Do đó một luật sư giỏi hoặc rất giỏi tại Việt Nam cũng chỉ là một luật sư giỏi bào chữa dựa trên những gì sẵn có và đa số sẽ là theo hướng giảm nhẹ hình phạt. Vậy nên tiếng nói và vị trí của Luật sư trong mảng tố tụng hình sự vẫn còn hạn chế nhiều, chưa phát huy được hết những sở trường cũng như khả năng suy luận, óc phán đoán. Tại một số hệ thống pháp luật đặc biệt là hệ thống thông luật (Common Law), Luật sư cũng được quyền tự mình thu thập và đánh giá chứng cứ tại hiện trường như một điều tra viên chuyên nghiệp và do đó hồ sơ của vụ án không chỉ có những chứng cứ được cung cấp của bên công tố (buộc tội) mà còn có cả những chứng cứ của bên bào chữa (gỡ tội). Vậy nên chứng cứ đảm bảo đầy đủ, toàn diện hơn và vì thế cho nên Luật sư có nhiều đất diễn hơn, không hiếm những trường hợp nhờ những chứng cứ quan trọng mà nhiều bị cáo gần như chắc chắc bị kết tội nhưng rồi những Luật sư đã làm mọi thứ thay đổi, bị cáo được tuyên vô tội. Do vậy vị trí và danh tiếng của nghề Luật sư ở những nơi đó rất được xã hội kính trọng, thu nhập đáng mơ ước và thực sự nghề luật sư là một nghề cao quý.

    Căn cứ quy định tại Khoản 2 là một căn cứ hoàn toàn mới so với những quy định trước đây, cụ thể: Khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành án của người phạm tội. Theo đánh giá của tác giả đây là căn cứ được bổ sung hết sức kip thời và cần thiết trong bối cảnh Bộ luật hình sự mới đã có thêm chủ thể là pháp nhân và đa số các chế tài áp dụng không trực tiếp thì cũng gián tiếp liên quan đến tài sản của pháp nhân đó. Do đó phải căn cứ vào tình hình tài sản và khả năng thi hành án là một điều tất yếu. Nhà làm luật chú trọng và đưa nguyên tắc này vào trong làm căn cứ quyết định hình phạt một phần không nhỏ là xuất phát từ thực tiễn xét xử và thi hành án của cơ quan tư pháp (bao gồm cả án hình sự, dân sự, hành chính). Thời gian qua đã có rất nhiều những bản án đã tuyên nhưng không thể áp dụng vào thực tiễn được, người bị hại vẫn không được đền bù, bồi thường vì đơn giản mức án đã tuyên không hề dựa trên tình hình tài sản, khả năng thi hành án của người phạm tội do đó mức án được tuyên quá cao, vượt quá khả năng đáp ứng của người thi hành mặc dù trên lý thuyết mức án đó là hoàn toàn đúng nhưng nó không thể thực hiện được do có độ chênh so với thực tế. Căn cứ mới được quy định này sẽ góp phần kết nối giữa Tòa án và cơ quan thi hành án, góp phần hạn chế án bị tồn do không thi hành được trên thực tế khi người có nghĩa vụ thi hành án không có đủ khả năng tài chính để đáp ứng trong hiện tại và tương lai.

     

     Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

    1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

    b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

    c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

    d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

    đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

    e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

    g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

    h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

    i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

    k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

    l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

    m) Phạm tội do lạc hậu;

    n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

    o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

    p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

    q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

    r) Người phạm tội tự thú;

    s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

    t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

    u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

    v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

    x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

    2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

    3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

    Bình luận:

    Điều luật này có 03 Khoản, trong đó Khoản 1 liệt kê ra các tình tiết giảm nhẹ (luật định), Khoản 2 mở rộng thêm tình tiết đầu thú và tình tiết khác (phụ thuộc vào ý chí của Tòa án và phải ghi rõ trong bản án), Khoản 3 là trường hợp không được coi hay nói đúng hơn là không áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu dần theo thứ tự ngược lại từ Khoản 3 đến Khoản 1.

    Khoản 3: Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

    Có thể hiểu một cách nôm na vắn tắt, tình tiết định tội là tình tiết mà trong cấu thành tội phạm đó bắt buộc phải có, nếu không có tình tiết đó thì sẽ không phạm tội đó. Ví dụ: Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 51 c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Đây chính là tình tiết định tội của tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 126 Bộ Luật này. Nếu không có tình tiết vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không phạm tội này mà là phạm vào một tội khác (như Tội giết người chẳng hạn).

    Khi đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành một tội phạm (phạm tội gì) thì việc tiếp theo là xác định mức phạt cụ thể đối với tội đó là bao nhiêu, khi này khái niệm khung hình phạt bắt đầu được xem xét đến. Thông thường một Điều luật sẽ có 1 hoặc nhiều khung hình phạt và sắp xếp theo hướng khung hình phạt sau cao hơn khung hình phạt trước (thường Khoản 2, 3, 4…trở đi mức phạt sẽ cao hơn Khoản 1) cá biệt có một số Điều luật được thiết kế theo hướng ngược lại (ví dụ như Điều 123 Tội giết người Khoản 1 khung hình phạt là cao nhất – tử hình, nhưng Khoản 2 mức tối đa chỉ 15 năm).

    Tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội sẽ thuộc vào một khung nhất định. Khi đã thuộc vào một khung nào đó thì sẽ xem xét đến ý nghĩa của những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Nếu một tội phạm được thực hiện mà không có bất kỳ tình tiết tăng nặng hay giảm nhe nào thì mức án được tuyên sẽ là khoảng giữa của khung. Ví dụ: Khung hình phạt áp dụng là từ 03 năm đến 07 năm tù giam thì mức án sẽ là 05 năm tù giam ((03 + 07)/2 = 05). Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể xuống dưới mức 05 năm nhưng không được thấp hơn 03 năm. Trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng thì mức phạt được tuyên có thể nhiều hơn 05 năm nhưng tối đa không quá 07 năm.

    Như vậy có thể thấy tình tiết giảm nhẹ chỉ có giá trị sau khi đã xác định người phạm tội phạm tội nào và khung hình phạt là bao nhiêu để tuyên mức phạt dưới mức trung bình của khung. Do đó khi tình tiết giảm nhẹ nào đó đã được dùng để định tội (khá phổ biến) và dùng để định khung (rất hiếm gặp – nhưng nhà làm luật vẫn quy định phòng hờ) thì sẽ không áp dụng để xem xét định lượng hình phạt nữa vì như vậy 1 tình tiết giảm nhẹ lại áp dụng đến 02 lần. Trở lại với ví dụ phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì đó đã là tình tiết định tội tại Điều 126 rồi, không thể khi quyết định hình phạt lại nêu thêm 1 tình tiết giảm nhẹ là do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 1 lần nữa.

    Khoản 2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

    So với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ thì nhà làm luật đã có thêm một gợi ý cho Tòa khi quyết định các tình tiết giảm nhẹ khác với quy định tại Khoản 1 đó là đầu thú. Như tác giả đã có dịp đề cập đến trong phần bình luận ở các chương trước, đầu thú có thể hiểu là người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nhận hành vi phạm tội của mình sau khi hành vi đó đã bị phát hiện nhưng người phạm tội đó vẫn chưa bị bắt giữ. Đầu thú hoàn toàn không giống với tự thú và do đó nó chỉ có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ chứ không thể là tình tiết được miễn trách nhiệm hình sự. Và đây là một gợi ý không hề tồi để Tòa án căn cứ quyết định hình phạt và xem đó là một tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên tình tiết này bắt buộc phải được ghi rõ lý do trong bản án chứ không đương nhiên là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1.

    Ngoài đầu thú, Tòa án cũng được quyền xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ (không bị giới hạn) nhưng với điều kiện phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong Bán án. Tuy nhiên những tình tiết khác ở đây là những tình tiết nào, có bẳt buộc phải đảm bảo các tiêu chí nhất định hay không thì trong phạm vi Bộ Luật Hình sự không hề có quy định. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:

    - Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

    - Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

    - Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;

    - Người bị hại cũng có lỗi;

    - Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

    - Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

    - Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

    - Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

    Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

     Như vậy có thể thấy đây là một quy định mở và trao quyền cho Tòa án rất lớn, chính vì vậy phần nào cũng sẽ dẫn đến những ý chí chủ quan khi xét xử ở các Tòa, các cấp khác nhau.

    Khoản 1, tác giả sẽ chỉ tập trung phân tích một số tình tiết giảm nhẹ tương đối phổ biến và cần có sự bình luận thêm để hiểu rõ hơn về những tình tiết đó:

    1. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

    Đây là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng khá phổ biến trong các vụ án hình sự và cũng được các Luật sư bào chữa cho các bị cáo áp dụng một cách triệt để nhất. Khi một hành vi phạm tội được thực hiện và đã gây ra thiệt hại (sức khỏe, vật chất) và người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì tình tiết khắc phục, bồi thường đó được xem là một tình tiết giảm nhẹ. Một vấn đề quan trọng cần lưu tâm ở đây là tự nguyện, nghĩa là chưa có một sự ép buộc nào từ phía cơ quan có thẩm quyền (bằng một bản án hoặc quyết định) yêu cầu phải thực hiện nhưng người phạm tội đã thực hiện một cách chủ động. Ví dụ: Sau khi thực hiện hành vi đâm người bị trọng thương A đã chủ động đưa đi cấp cứu và thanh toán tiền viện phí cũng như bồi thường một khoản tiền để chăm sóc cho nạn nhân. Tuy vậy người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả không đồng nghĩa phải chính người đó thực hiện việc bồi thường mà có thể người đó chủ động thông qua người nhà hoặc một ai đó thực hiện, khi đó vẫn được xem là tự nguyện, ví dụ trong trường hợp trên A không phải là người đưa nạn nhân đi cấp cứu nhưng A yêu cấu người nhà của mình chở nạn nhân đến bệnh viện và chi trả các khoản chi phí phát sinh thì vẫn được xem là tình tiết giảm nhẹ.

    2. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

    Tình tiết này giảm nhẹ này có 2 vấn đề cần chú ý, thứ nhất nguyên nhân dẫn đến thực hiện tội phạm là do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó không phải do mình tạo ra. Hiểu một cách nôm na người phạm tội xuất phát phần lớn do từ sức ép của hoàn cảnh chứ ý chí chủ quan không hoàn toàn mong muốn việc thực hiện tội phạm. Nói một cách dân dã thì phạm tội vì bất đắc dĩ phải thực hiện, nếu hoàn cảnh không đặc biệt khó khăn thì đã không thực hiện tội phạm. Nguyên nhân phát sinh tội phạm có nhiều và hoàn cảnh là một trong nhiều những yếu tố phổ biến nhất dẫn đến tội phạm – bần cùng sinh đạo tặc, nhưng không phải tất cả người rơi vào hoàn cảnh khó khăn mà thực hiện phạm tội đều xem xét là tình tiết giảm nhẹ mà có khó khăn này phải là đặc biệt – đã là đặc biệt thì rất hiếm. Ví dụ: do một cơn bão lớn đã làm đắm tàu, hết sạch thực phẩm, một số thủy thủ sống sót trong tình trạng trạng đói khát sau khi thoát nạn và tới được đất liền đã thực hiện hành vi trộm một số lượng lương thực với tổng giá trị đủ cấu thành tội trộm cắp tài sản.

    3. Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

    Đây là trường hợp phạm tội mà trước khi thực hiện tội phạm, ý chí của người phạm tội đã bị tác động bởi một bên thứ ba, tất nhiên vẫn thỏa yếu tố về mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm nhưng trước khi có hành vi thực hiện tội phạm, người phạm tội đã bị đe dọa, cưỡng bức. Thông thường các trường hợp này người thực hiện tội phạm có một sự phụ thuộc nhất định vào người thứ 3 (quan hệ gia đình, quan hệ cấp trên cấp dưới v.v…) hoặc người thứ 3 lợi dụng việc rơi vào tính trạng quẩn bách, cùng túng của đối tượng mà ép họ thực hiện hành vi phạm tội.

    Ví dụ: B bị A đe dọa bắt buộc phải thực hiện hành vi bắt cóc tống tiền C nếu không A sẽ giết cả nhà B (A là xã hội đen có máu mặt và B cũng đã từng là đàn em của A nhưng sau đó giải nghệ).

    4. Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

    Một ví dụ dễ thấy nhất để có thể hiểu được tình tiết giảm nhẹ này là các trường hợp phạm tội sau khi đã sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác như các loại ma túy v.v…dẫn đến hạn chế hoặc mất luôn khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Tuy nhiên những trường hợp hợp này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ khi không có lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: A bị ép buộc phải sử dụng ma túy đá (nếu không sử dụng sẽ bị đánh chẳng hạn) thì sau khi sử dụng và rơi vào tình trạng ngáo đá thì khi thực hiện tội phạm tình tiết này có thể xem là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên việc A chủ động sử dụng hoặc bạn bè gợi ý sử dụng hoặc sự ép buộc mang tính chất khơi gợi (A có quyền từ chối) và cũng rơi vào tình trạng ngáo thì khi thực hiện tội phạm, tình tiết này không được xem là tình tiết giảm nhẹ vì A đã có lỗi, đã tự đưa mình vào trạng thái hạn chế (mất) khả năng nhận thức.

    5. Phạm tội do lạc hậu;

    Tình tiết giảm nhẹ này thông thường áp dụng đối với người phạm tội là đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi mà tập tục còn lạc hậu. Tình tiết giảm nhẹ này cũng khá hợp lý, không phải mặt bằng trình độ nhận thức của mọi người trong xã hội này là như nhau, đặc biệt là một số vùng xa xôi hẻo lánh, không có điều kiện tiếp xúc với nền giáo dục nhiều, trình độ dân trí còn hạn chế nên đa số họ thực hiện các hành vi theo những tập tục của họ mà những tập tục đó đến nay đã không còn phù hợp thậm chí là còn vi phạm pháp luật. Một trong các biểu hiện thường thấy nhất của tình tiết này là việc các đồng bào dân tộc miến núi chữa bệnh bằng các phương pháp cổ xưa như trói lại và đánh để con ma trong người xuất ra khỏi người bệnh hoặc dìm xuống nước cho con ma bị ngạt thở mà xuất đi v.v…những cách làm này nhiều khi dẫn đến tình trạng chết người do người bệnh không chịu nổi đòn roi hay bị ngạt thở. Những trường hợp như vậy vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do sự lạc hậu mà ra (một phần do hiệu quả tuyên truyền nâng cao nhận thức còn hạn chế) nên việc xem xét giảm nhẹ là hợp lý.

    6. Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

    Tình tiết này thể hiện rõ sự khoan hồng của Nhà nước đối với những thành phần yếu thế của xã hội. Thực tế rất hiếm những trường hợp người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thực hiện hành vi phạm tội do sự tương quan về sức khỏe, thể lực. Do đó những hành vi phạm tội (nếu có) được thực hiện bởi những chủ thể này thường là những hành vi không sử dụng nhiều đến thể lực như tội cố ý gây thương tích, cướp v.v…Thông thường đó là những tội liên quan đến trộm cắp, cũng có thể là giết người nhưng thường là sử dụng thủ đoạn như đầu độc và nạn nhân thường là những người thân trong gia đình. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là những người khuyết tật thường bị xúc phạm về mặt tư tưởng hay bị xem là gánh nặng dẫn đến họ nảy sinh tư tưởng phạm tội để trả thù. Đã từng có vụ án con bị tàn tật ôm uất hận trong lòng đã đầu độc để giết cha mình vì thường xuyên bị cha mình xem là gánh nặng, chửi bới.

    7. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

    Đây là tình tiết giảm nhẹ có thể nói là được áp dụng nhiều nhất trong các bản án hình sự được tuyên. Luật sư bào chữa và bị cáo luôn tận dụng một cách triệt để tình tiết này để có thể được giảm án. Tuy nhiên thực tế đây cũng là tình tiết mà dễ bị cơ quan điều tra sử dụng làm mồi để thực hiện việc mớm cung, gây oan sai. Bị can, bị cáo thường được gợi ý khai báo sai sự thật, thừa nhận một số hành vi mà mình không thực hiện để được hứa hẹn đánh giá thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó cũng là mặt trái trong quá trình tố tụng, đặc biệt là đối với những người phạm tội không có hiểu biết nhiều về pháp luật, không sử dụng quyền im lặng đến khi có Luật sư nên dễ vào tròng của một bộ phận thực thi pháp luật không liêm chính.

    Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

    1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    a) Phạm tội có tổ chức;

    b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

    đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

    e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

    g) Phạm tội 02 lần trở lên;

    h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

    i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc17 người đủ 70 tuổi trở lên;

    k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

    l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

    m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc18 tàn ác để phạm tội;

    n) Dùng thủ đoạn hoặc19 phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

    o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

    p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

    2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

    Bình luận:

    Thoáng qua chúng ta có thể thấy cấu trúc của Điều luật này khá giống với cấu trúc của Điều luật về các tình tiết giảm nhẹ khi Khoản 1 liệt kê các tình tiết và Khoản 2 quy định nguyên tắc áp dụng. Tuy nhiên nếu xem xét kỹ chúng ta có thể thấy nếu các tình tiết giảm nhẹ được quy định theo cấu trúc mở (các tình tiết giảm nhẹ khác) thì cấu trúc quy định các tình tiết tăng nặng được quy định (chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự) đóng hoàn toàn. Như vậy, nếu như các tình tiết giảm nhẹ Tòa án được quyền ghi nhận thêm ngoài những quy định tại Khoản 1 và ghi rõ trong bản án thì đối với những tình tiết tăng nặng Tòa án hoàn toàn không được quyền thêm vào, cho dù có ghi lý do trong bản án đi chăng nữa.

    Tương quan về số lượng thì các tình tiết giảm nhẹ cũng nhiều hơn các tình tiết tăng nặng (chưa kể quy định mở). Kiểu quy định như vậy thể hiện rất rõ quan điểm của nhà làm luật, chính sách của nhà nước một cách nhất quán - hạn chế tối đa khả năng lạm quyền của cơ quan tố tụng cũng như tận dụng tối đa những yếu tố có lợi cho người phạm tội.

    Sau đây tác giả sẽ phân tích một vài tình tiết tăng nặng:

    1. Phạm tội có tổ chức;

    Đây là tình tiết tăng nặng đầu tiên mà cũng là tình tiết tăng nặng được áp dụng khá phổ biến. Tính tổ chức ở đây làm cho tội phạm trở nên nguy hiểm hơn nhiều khi thực hiện cũng như khả năng phát hiện, xử lý sẽ khó khăn hơn do đó phạm tội có tổ chức xứng đáng là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.  Có tổ chức, tức phải có ít nhất từ 2 người trở lên và những người này phải có sự câu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Mức độ câu kết càng chặt chẽ, sự phân công nhiệm vụ càng rõ ràng chi tiết thì mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội càng cao. Ơ cấp độ thấp có thể là một nhóm người cùng tổ chức thực hiện việc trộm cắp, cướp, cướp giật sau khi thực hiện xong 1 vụ thì chúng giải tán, cao hơn thì tổ chức này thực hiện nhiều vụ chứ không giải tán theo từng vụ, cao hơn nữa là những tổ chức phạm tội chuyên nghiệp, có khi thành cả tập đoàn tham gia và dính líu rất nhiều đến việc bảo kê các loại hình dịch vụ kinh doanh có điều kiện nhạy cảm như karaoke, massage, các quán bar, vũ trường v.v…có khi là liên quan đến cả cơ quan công quyền như đã từng có vụ án Năm Cam một thời.

    2. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

    Chuyên nghiệp nghĩa là người phạm tội xem việc phạm tội là một nghề để kiếm sống, tạo ra thu nhập, tất nhiên là không phụ thuộc vào việc thu nhập đó cao hay thấp, có đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hay không, miễn nó được xem là một nghề. Ví dụ: A là người vô công rỗi nghề và lấy việc trộm cắp, cướp giật làm nghề mưu sinh, ngày nào A cũng lượn lờ khu vực đông người như chợ, trường học, khu công nghiệp để thực hiện việc cướp giật, tối thì lẻn vào các khu nhà trọ để trộm cắp, có khi ngày được vài triệu có khi tay không nhưng đó đã được xem là phạm tội chuyên nghiệp.

    Phàm những gì ở đời mà đã nâng đến tầm chuyên nghiệp thì không phải là đơn giản, phạm tội mà chuyên nghiệp nữa thì hậu quả còn nguy hại hơn. Những người phạm tội chuyên nghiệp họ thường có những tài năng do bẩm sinh hoặc khổ luyện đáng đến mức nể phục. Có những tên trộm mà không một loại ổ khóa nào mà không thể mở, kể cả khóa còng số 8, có những vụ án về ma túy mà một người chỉ học hết cấp 2 đã tự mua thuốc Tây ở tiệm thuốc về điều chế ra ma túy với những công cụ hết sức thô sơ nhưng sản phẩm lại hết sức chất lượng, có thể gọi là một chuyên gia.

    3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    Đây là tình tiết tăng nặng chỉ áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn chứ không phải với bất kỳ người phạm tội nào. Tuy nhiên chỉ khi nào người đó sử dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội thì mới áp dụng tình tiết tăng nặng đó. Ví dụ: A là Kế toán trưởng của 1 doanh nghiệp Nhà nước lợi dụng chức vụ của mình, phối hợp với các đồng phạm khác thực hiện kê khai khống nhiều hóa đơn để thu lợi bất chính thì sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng này. Tuy nhiên cũng là A nhưng do mâu thuẩn cá nhân với B nên đã thực hiện việc đánh B gây thương tích 25%, trong trường hợp phạm tội này, chức vụ kế toán trưởng của A không phải là 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Chính việc có chức vụ, quyền hạn sẽ làm cho việc thực hiện tội phạm trở nên dễ dàng hơn và có chức vụ, quyền hạn nên việc phát hiện cũng sẽ khó hơn và thiệt hại gây ra thương cũng lớn hơn. Thông thường tình tiết tăng nặng thường áp dụng đối với các tội phạm kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước liên quan đến tham ô, tham nhũng, hối lộ. Rất nhiều các vụ án tham nhũng lớn (đại án) đều có hình ảnh của việc lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, đặc biệt là các tội phạm xuất phát từ lợi ích nhóm, cố ý làm trái các quy định nhà nước gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như gần đây nhất có vụ án của Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng…

    4. Phạm tội có tính chất côn đồ;

    Tình tiết này áp dụng đối với những người phạm tội manh động và lý do thực hiện tội phạm rất vô lý thể hiện rõ tính chất côn đồ. Thường đây là tình tiết áp dụng nhiều trong các vụ án xâm phạm đến tính sức khỏe, tính mạng của nạn nhân. Phổ biến nhất trong xã hội hiện tại là các vụ gây gổ đánh đập, chém giết lẫn nhau vì bị cho là nhìn đều hoặc va quẹt giao thông nhẹ nhưng lại xô xát cãi nhau và gây án. Đây là những trường hợp thấy rõ nét nhất tính chất côn đồ của tội phạm. Cũng cần lưu ý rằng thông thường tình tiết này hay áp dụng cho các dân anh, chị (xã hội đen) nhưng không đồng nghĩa chỉ có những người có lý lịch bất hảo này mới bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Chỉ cần thỏa điều kiện có tính chất côn đồ thì sẽ áp dụng, có nhiều người tuy lần đầu tiên thực hiện tội phạm nhưng cũng lộ rõ tính chất côn đồ, có nhiều dân anh chị nhưng khi thực hiện tội phạm lại không áp dụng tình tiết này.

    5. Phạm tội vì động cơ đê hèn;

    Có những tội phạm được thực hiện do có động cơ thúc đẩy, có những tội phạm thì không và việc thực hiện tội phạm có động cơ hay không có động cơ không ảnh hưởng đến quyết định hình phạt nó chỉ có ý nghĩa trong việc xác định có phạm tội hay không (có đảm bảo các yếu tố cấu thành tội phạm). Tuy nhiên động cơ đê hèn là 1 tình tiết tăng nặng và vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định hình phạt. Như vậy như thế nào là động cơ đê hèn? Động cơ là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm, đê hèn là thấp kém, hèn hạ đáng khinh bỉ, không thể chấp nhận được. Đây là tình tiết tăng nặng mà ít nhiều sẽ phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của hội đồng xét xử cũng như nhận định của Viện Kiểm sát. Thực tế có nhiều tình tiết có thể xếp vào động cơ đê hèn như giết vợ (chồng) để được lấy bồ nhí, giết người yêu để để trốn tránh trách nhiệm làm cha đối với thai nhi, giết chủ nợ để trốn nợ v.v…

    6. Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

    Cố tình (cố ý) thực hiện tội phạm đến cùng nghĩa là trong quá trình thực hiện tội phạm, người phạm tội đã vấp phải sự phản kháng, có thể là sự chống trả từ chính nạn nhân hoặc cũng có thể là sự can thiệp từ những người xung quanh nhưng vẫn không có ý định dừng việc phạm tội mà quyết tâm vượt qua trở ngại để tiếp tục thực hiện đến cùng tội phạm mà mình mong muốn. Rõ ràng đây là một tình tiết tăng nặng thể hiện sự không dừng lại, quyết tâm cao độ của người thực hiện tội phạm. Ví dụ: A dùng dao tấn công để giết B nhưng bị B chống trả quyết liệt nên cũng bị thương tích. Tuy vậy A đã không chịu dừng lại và cố kiếm cách để giết B, sau một hồi giằng co, cuối cùng A cũng giết được B.

    7. Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

    Người thực hiện tội phạm không nhất thiết phải hướng tới việc gây hại cho nhiều người nhưng do thủ đoạn và phương tiện thực hiện lại có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Ở đây là có khả năng chứ không bắt buộc hậu quả gây hại cho nhiều người đã xảy ra. Ví dụ: A muốn giết B nên đã dùng thủ đoạn đầu độc vào nguồn nước uống của gia đình B, hay A dùng xe tải (nguồn nguy hiểm cao độ) để tông (đâm) B khi B đã lưu thông trên đoạn đường có đông người qua lại.

    Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

    1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

    a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

    b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

    Bình luận:

    Hiểu nôm na tái phạm là việc lặp lại hành vi phạm tội, nghĩa là trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới đều được xem là tái phạm quy định tại Điều luật này. Cụ thể để đảm bảo tái phạm phải đảm bảo 2 điều kiện:

    (1) Đã bị kết án và chưa xóa án tích

    (2) Phạm tội do cố ý hoặc phạm tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    Như vậy có những trường hợp loại trừ sau đối với tái phạm:

    - Thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích;

    - Phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vô ý.

    Tuy nhiên, đã bị kết án phải hiểu như thế nào cho đúng và thống nhất thì hiện nay chưa có. Có quan điểm cho rằng đã bị kết án thì bản án đó phải là bản án đã có hiệu lực pháp luật, có quan điểm cho rằng chỉ cần có bản án thì đã được xem là bị kết án mà không cần phải đợi đến khi bản án đó có hiệu lực. Riêng tác giả đồng ý với quan điểm rằng đã bị kết án phải hiểu là bản án đã được tuyên và có hiệu lực pháp luật, trong trường hợp bản án chưa có hiệu lực nếu có hành vi phạm tội mới thì hoàn toàn có thể áp dụng tổng hợp nhiều bản án và như vậy không cần phải áp dụng tình tiết tái phạm nữa vì khi đó nó sẽ trở nên thừa.

    Tái phạm nguy hiểm bao gồm 2 trường hợp:

    Trường hợp 1:

    (1) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích

    (2) Phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

    Từ trường hợp này có thể thấy rằng rất dễ xảy ra sự nhầm lần giữa tái phạm và tái phạm nguy hiểm, bởi lẽ như đã phân tích điều kiện để thỏa mãn tái phạm bao gồm:

    (1) Đã bị kết án và chưa xóa án tích

    (2) Phạm tội do cố ý hoặc phạm tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    Như vậy tái phạm bao gồm trong đó có cả tái phạm nguy hiểm, nghĩa là nếu thỏa điều kiện tại phạm nguy hiểm (trường hợp 1) thì đương nhiên sẽ thỏa điều kiện tái phạm nhưng nếu thỏa điều kiện tái phạm thì chưa chắc đã là tái phạm nguy hiểm. Do đó hơi ngược một xíu nhưng đầu tiên chúng ta phải xem xét có tại phạm nguy hiểm hay không, nếu không thì mới xét đến có thỏa điều kiện tái phạm hay không chứ không phải làm ngược lại.

    Trường hợp 2:

    (1) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích

    (2) Phạm tội do cố ý

    Đây là trường hợp dễ nhận biết và không thể bị nhầm lẫn với trường hợp tái phạm do điều kiện cần đầu tiên là phải tái phạm rồi, tức hành vi phạm tội gần nhất tối thiểu phải là hành vi phạm tội thứ 3. Trường hợp này có 1 khả năng không bị xem là tái phạm nguy hiểm khi hành vi phạm tội thứ 3 đó là hành vi phạm tội do vô ý (không cần xét đến tính loại tội phạm đã thực hiện là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng)

    Mục 2. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

    Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

    1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

    2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

    3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

    Bình luận:

    Nếu so sánh quy định này với quy định cũ tại Điều 47 BLHS 1999 thì Bộ Luật mới đã thêm trường hợp quy định tại khoản 2 và mở rộng hơn việc áp dụng (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề) đối với người phạm tội lần đầu với vai trò là người giúp sức và việc đóng góp không đáng kể. Bên cạnh đó quy định mới cũng tách ra làm 3 Khoản rất rõ rệt, dễ đọc dễ nắm bắt hơn so với quy định cũ khi tất cả nội dung dồn vào một đoạn mà không có sự chia tách để đảm bảo tính truyền đạt nội dung quy phạm.

    Trước tiên chúng ta cần phân tích để hiểu hơn về Điều luật trên. Quá trình để tuyên một Bán án hình sự rất dài dòng, phức tạp tuy nhiên để dễ hiểu, tác giả sẽ nêu một cách vắn tắt nhất.

    Bước 1: Định tội (xem bị cáo phạm tội gì)

    Bước 2: Định khung hình phạt (xem bị cáo sẽ thuộc khung hình phạt nào của tội đó)

    Bước 3: Định lượng hình phạt (xem bị cáo bị phạt ở mức cụ thể là bao nhiêu (tiền, năm tù, v.v…)

    Trong 3 bước này thì bước 2 là bước mà chúng ta sẽ quan tâm vì nó có liên quan trực tiếp đến quy định tại Điều luật này, cụ thể: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

    Như vậy việc đầu tiên cần làm là phải biết khung hình phạt là gì? Đã nói đến khung là chúng ta phải nói đến một khoảng, có điểm thấp nhất và cao nhất (giống như điểm sàn và điểm trần của khung giá) và về nguyên tắc khi đã xác định được khung hình phạt thì Tòa án chỉ được tuyên hình phạt nằm trong giới hạn của khung đó, nếu không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức án được tuyên sẽ là trung bình cộng điểm thấp nhất và cao nhất, ví dụ: khung từ 3 – 7 năm thì mức tuyên trong trường hợp này là 5 năm. Nếu càng nhiều tình tiết tăng nặng thì mức án được tuyên sẽ càng tiệm cận đến trần. Trường hợp ngược lại, có càng nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức án sẽ càng tiệm cận đến mức sàng (tối thiểu). Tuy nhiên dù lên trần hay xuống sàn thì mức án được tuyên bắt buộc phải nằm trong giới hạn, đó là nguyên tắc. Tuy nhiên, Điều 54 là ngoại lệ khi pháp luật cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung (lọt sàn). Pháp luật cũng giới hạn chỉ có 2 trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng:

    Trường hợp 1: Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

    Trường hợp ngoại lệ này có 2 lưu ý, lưu ý đầu tiên là số lượng tình tiết giảm nhẹ ít nhất phải từ 2 trở lên và tình tiết đó phải là những tình tiết đã được nhà làm luật chỉ định rõ tại Khoản 1 Điều 51. Trở lại với các tình tiết giảm nhẹ chúng ta có thể thấy tại Khoản 2 Điều 51 cho phép Tòa án mở rộng thêm các tình tiết giảm nhẹ kèm theo điều kiện ghi rõ lý do trong Bản án, nhưng những tình tiết giảm nhẹ đó sẽ không có giá trị (không được tính số lượng) để quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung. Quy định này được kế thừa từ những quy định cũ, không có gì mới lạ cho thấy quan điểm của nhà làm luật không đổi, cho phép Tòa án mở rộng tình tiết giảm nhẹ nhưng cũng kiềm chế việc lạm dụng nhằm chạy án.

    Lưu ý thứ hai chính là giới hạn của việc lọt sàn, chính xác là bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Thực ra nếu không có 2 từ nhẹ hơn thì chúng ta cũng bắt buộc phải hiểu là nhẹ hơn vì không có chuyện lọt sàn mà lại nặng hơn, tuy vậy để đảm bảo tính chính xác tường minh thì việc quy định thêm hai chữ nhẹ hơn cũng không có gì là thừa. Thêm vào đó phải là liền kề, vì có thể trong một Điều luật (về một tội phạm) có rất nhiều khung khác nhau do vậy từ liền kề giới hạn rõ độ rơi của quyết định hình phạt, không cho phép lọt qua khung liền kề đến khung kế tiếp.

    Ví dụ: Điều 173. Tội trộm cắp tài sản có các khung

    i) [phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm]

    ii) [Phạt tù 02 – 07 năm]

    iii) [Phạt tù 07 – 15 năm]

    iv) [Phạt tù 12 – 20 năm]

    Giả định Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung iii) nhưng do có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 nên Tòa án có sử dụng quy định tại Điều Luật này để tuyên mức án nằm trong khung ii) nhưng không được xuống tới khung i)

    Trường hợp 2: Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn).

    Như đã đề cập đây là trường hợp hoàn toàn mới so với quy định cũ, mới cả về trường hợp được áp dụng và mới cả về giới hạn lọt sàn. Cụ thể, nếu trường hợp 1, việc lọt sàn bắt buộc phải rơi váo khung hình phạt liền kề thì trong trường hợp này việc lọt sàn không bắt buộc phải như vậy, trở lại ví dụ phía trên nếu Tòa xác định khung hình phạt áp dụng vẫn là iii) thì khi vận dụng quy định này Tòa có thể ra quyết định phạt trong khung i) mà không bắt buộc là khung ii), lưu ý là không bắt buộc chứ không phải là không, nghĩa là Tòa vẫn có quyền tuyên quyết định phạt ở khung ii) nếu xét thấy phù hợp.

    Đối tượng mà nhà làm luật hướng đến ở đây là những người đồng phạm với vai trò là người giúp sức (bản thân vai trò này đã cho thấy mức độ gây thiệt hại cho xã hội đã ít hơn nhiều so với vai trò chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, thực hành), thêm vào đó sự giúp sức này đóng góp không đáng kể, tức mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đã ít lại càng ít thì sẽ thuộc điều chỉnh của quy định này. Đó cũng là nguyên nhân mà việc lọt sàn không bị giới hạn ở khung liền kề và xét thấy quy định như vậy đã là khá hợp lý.

    Có một vấn đề là không phải Điều luật nào cũng có nhiều khung hình phạt hoặc khung hình phạt Tòa án đang định áp dụng đã là khung hình phạt thấp nhất (không có khung liền kề nhẹ hơn) thì không thể áp dụng 2 quy định tại Khoản 1 và Khoản 2. Do đó nhà làm luật đã dự liệu luôn trường hợp này tại Khoản 3, cụ thể như sau:

    Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

    Giả định trường hợp trên xảy ra thì Tòa án có 2 sự lựa chọn: Một là tuyên hình phạt dưới mức thấp nhất của khung ví dụ khung hình phạt là [03 – 07 năm tù] và đã là khung thấp nhất thì Tòa có thể tuyên dưới 03 năm hoặc chuyển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền v.v…tùy từng trường hợp cụ thể.

    Điều 55. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

    Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

    1. Đối với hình phạt chính:

    a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

    b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

    c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

    d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

    đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

    e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.

    2. Đối với hình phạt bổ sung:

    a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

    b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

    Bình luận:

    Đây là Điều luật quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp người phạm tội phạm nhiều từ và xét xử cùng 01 lần, nghĩa là chỉ có 1 Bản án và 1 mức hình phạt chung duy nhất trong trường hợp này. Điều đó khác với việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 56 mà tác giả sẽ phân tích sau.  

    Điều luật này được thiết kế rất rõ ràng, dễ hiểu đó là lý do vì sao nó kế thừa hoàn toàn quy định cũ tại Điều 50 BLHS 1999 mà không có bất kỳ sửa đổi, bổ sung nào. Chiếu theo quy định chúng ta thấy việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội không hề khác với việc quyết định hình phạt khi phạm một tội, nghĩa là Tòa án sẽ căn cứ vào cáo trạng của Viện Kiểm sát, lời bào chữa của bị cáo, luật sư, các chứng cứ cũng như nhân thân người phạm tội v.v…để quyết định hình phạt. Điểm khác biệt duy nhất là chỗ tổng hợp hình phạt sau cùng để ra một mức án chung. Như vậy trong trường hợp xét xử người phạm tội phạm nhiều tội sẽ có 2 bước rất rõ ràng (và cũng được nêu rõ trong Bản án).

    Bước 1: Xét xử từng tội phạm cụ thể và quyết định hình phạt cho từng tội

    Bước 2: Tổng hợp các hình phạt của từng tội để cho ra một hình phạt chung sau cùng.

    Bước 1 như tác giả đã nói nó hoàn toàn giống với quyết định hình phạt đối với một tội nên không có gì để bàn thêm. Riêng bước 2 sẽ có một vài lưu ý nhỏ:

    Lưu ý 1: Tổng hợp hình phạt chia theo hình phạt chính và hình phạt bổ sung (sẽ có cách cách tổng hợp khác nhau)

    Lưu ý 2: Đối với hình phạt chính có 2 kiểu tổng hợp:

    Kiểu 1: Tổng hợp theo phương pháp cộng dồn nhưng không được quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn. Ví dụ: A phạm tội trộm cắp bị tuyên phạt 05 năm tù, phạm tội cướp phạt 20 năm tù; phạm tội cướp giật 10 năm tù thì tổng hợp hình phạt của A = 05 + 20 + 10 = 35 năm nhưng đã vượt quá giới hạn 30 năm nên sẽ lấy mức 30 năm tù.

    Kiểu 2: Tổng hợp theo phương pháp thu hút (hình phạt cao nhất sẽ thu hút các hình phạt còn lại), kiểu này chỉ áp dụng nếu trong những tội phạm phải có ít nhất 1 tội bị tuyên án chung thân, tử hình. Nếu mức án nặng nhất là chung thân thì sẽ quyết định hình phạt cuối cùng sẽ là chung thân và tương tự đối với mức án tử hình. Ví dụ: A Bị tuyên 10 năm về tội cướp giật, 20 năm về tội cướp và tử hình về tội giết người thì tổng hợp hình phạt sau cùng là sẽ là tử hình.

    Riêng hình phạt tiền và trục xuất là 02 hình phạt khá đặc biệt, nó có thể được áp dụng là hình phạt chính và cũng có thể áp dụng là hình phạt bổ sung và sẽ không được tổng hợp với các hình phạt khác, riêng hình thức phạt tiền các khoản tiền phạt sẽ được cộng lại thành mức phạt chung (theo phương pháp cộng dồn mà không giới hạn mức tối đa).

    Lưu ý 3: Tổng hợp đối với hình phạt bổ sung có 3 kiểu:

    Kiểu 1: Cộng dồn nhưng có giới hạn mức tối đa đối với các hình phạt bổ sung cùng loại và mức giới hạn sẽ theo quy định đối với từng loại đó. Ví dụ: A phạm tội 1 bị áp dụng hình phạt bổ sung là Quản chế với thời hạn 03 năm; tội 2 bị áp dụng hình phạt Quản chế với thời hạn 04 năm. Tổng hợp hình phạt = 03 + 04 = 07 năm nhưng mức hình phạt bổ sung tối đa đối với Quản chế là 05 năm (Điều 43) nên mức phạt cuối cùng sẽ là 05 năm.

    Kiểu 2: Cộng dồn nhưng không giới hạn mức tối đa. Kiểu tổng hợp này chỉ áp dụng duy nhất đối với hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Ví dụ: Với tội 1 A bị phạt tiền 500 triệu đồng, tội 2 là 300 triệu đồng, tội 3 là 200 triệu đồng, tổng hợp hình phạt sau cùng sẽ là 1 tỷ đồng.

    Kiểu 3: Hỗn hợp tất cả các hình phạt. Kiểu này áp dụng khi các hình phạt bổ sung đã tuyên là khác loại. Khi đó người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã được tuyên đó. Ví dụ: A phạm tội 1 bị áp dụng biện pháp cấm cư trú, phạm tội 2 bị áp dụng hình phạt tước một số quyền công dân, phạm tội 3 bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản. Tổng hợp sau cùng A phải thực hiện cả 3 hình phạt bổ sung trên.

    Điều 56. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

    1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

    Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

    2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

    3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

    Bình luận:

    Đây là trường hợp tổng hợp trong khi người phạm tội đang phải chấp hành một bản án mà sẽ tiếp tục xét xử để ra thêm một bản án khác do một tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án đang chấp hành hoặc trong khi đang chấp hành bản án đó.

    Đối với 2 trường hợp này (phạm tội trước và sau thời điểm có bản án đầu tiên) sẽ có 2 cách tổng hợp khác nhau và đương nhiên hậu quả pháp lý cũng hoàn toàn khác nhau. Chúng ta sẽ cùng phân tích 2 trường hợp này qua một ví dụ sau để thấy sự khác biệt:

    Ví dụ 1: A bị tuyên án 20 năm tù và đã chấp hành hình phạt được 10 năm. Sau đó A bị phát hiện đã thực hiện một tội phạm khác trước thời điểm có bản án đầu tiên và Tòa tuyên mức án với Tội đó là 15 năm. Tổng hợp hình phạt sẽ là 30 năm (mức tối đa đối với hình phạt tù). Do A đã chấp hành được 10 năm nên thời hạn chấp hành còn lại sẽ là 20 năm.

    Ví dụ 2: A bị tuyên án 20 năm tù và đã chấp hành hình phạt được 10 năm. Sau đó A thực hiện hành vi phạm tội mới và Tòa tuyên mức án với Tội đó là 15 năm. Do A đã chấp hành hình phạt đầu tiên được 10 năm nên thời gian còn lại là 10 năm, cộng với hình phạt mới là 15 năm. Tổng hợp hình phạt, A phải chấp hành hình phạt là 25 năm.

    Như vậy điểm khác biệt lớn nhất của 2 trường hợp này chính là thời điểm thực hiện tội phạm, nếu trước khi có bản án đang chấp hành thì sẽ tổng hợp trước rồi sẽ trừ thời gian chấp hành sau (theo hướng lỗi thuộc về cơ quan công quyền do không phát hiện tội phạm). Nếu tội phạm mới được thực hiện sau khi đã có bản án thì sẽ trừ thời gian chấp hành trước khi thực hiện việc tổng hợp bản án (theo hướng lỗi thuộc về người phạm tội đã không thực hiện cải tạo tốt). Do đó hậu quả pháp lý theo cách này sẽ nặng nề và bất lợi hơn so với cách tổng hợp đầu tiên. Theo như ví dụ sự chênh lệch đó là 05 năm tù.

     

    Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

    1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

    2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

    3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Bình luận:

    Như chúng ta đã biết không phải đến khi tội phạm hoàn thành mới phát sinh trách nhiệm hình sự mà đối với một số loại tội phạm ngay khi giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng đã phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội dự kiến thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa đạt.

    Điều luật này so với quy định cũ tại Điều 52 BLHS 1999 ngoại trừ Khoản 1 liên quan đến căn cứ quyết định mức phạt là giống nhau, còn lại Khoản 2 và Khoản 3 có rất nhiều sự khác biệt.

    Trước tiên chúng ta sẽ cùng xem xét phân tích quy định cũ tại BLHS 1999

    Điều 52. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

     

    2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

    3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư  mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Quy định trên cho thấy rất rõ mức hình phạt áp dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo hướng chuẩn bị phạm tội sẽ được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn. Cụ thể, nếu mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình thì mức cao nhất không quá 20 năm tù, nếu tù có thời hạn thì không quá ½ mức phạt tù mà điều luật quy định. Trong khi đó đối với trường hợp phạm tội chưa đạt , nếu mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình thì vẫn có thể áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nếu tù có thời hạn thì không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Tuy nhiên, khi vấn đề trên được quy định tại BLHS mới thì đã có nhiều sự khác biệt, cụ thể:

    Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

    2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

    3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Như vậy có thể thấy cách xác định mức phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội quy định tại Khoản 2 đã hoàn toàn khác so với quy định cũ. Sẽ không còn nguyên tắc xác định mức tối đa dựa theo mức hình phạt mà điều luật đó quy định mà sẽ căn cứ vào khung hình phạt được quy định trong các Điều luật cụ thể. Sự khác biệt này xuất phát từ sự khác biệt về kỹ thuật lập pháp giữa 2 Bộ luật. BLHS cũ không hề quy định khung hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội mà chỉ quy định trong trường hợp thông thường và Tòa án phải dựa vào nguyên tắc được quy định tại Khoản 2 Điều 52 để xác định mức hình phạt. Tuy nhiên đến BLHS mới, việc xác định này đã được các nhà làm luật thực hiện luôn bằng việc đưa ra khung hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và Tòa chỉ cần dựa vào khung đó để quyết định mức hình phạt.

    Ví dụ:

    Điều 108. Tội phản bội Tổ quốc

    3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    Điều 123. Tội giết người

    3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    Cách làm trên đã góp phần giảm tải việc quyết định mức hình phạt của Tòa cũng như góp phần đảm bảo tính thống nhất hơn giữa các Tòa khi quyết định hình phạt, hạn chế sự tự do quyết định khi đã ban hành khung hình phạt cố định cũng như nhìn vào một điều luật có thể xác định được ngay người phạm tội đó trong giai đoạn chuẩn bị có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Ví dụ:  Điều 140. Tội hành hạ người khác; Điều 141. Tội hiếp dâm, nhà làm luật không hề có quy định khung hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội. Điều đó đồng nghĩa với việc người chuẩn bị phạm 2 tội này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, đối chiếu với Khoản 2 Điều 14 Bộ luật này chúng ta có thể thấy ngay kết luận trên là chính xác.

    Một khác biệt nữa cũng rất quan trọng đó là khác biệt về xác định mức phạt cao nhất trong trường hợp phạm tội chưa đạt mà điều luật quy định mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình. Nếu như quy định tại Bộ luật cũ vẫn cho phép áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì Bộ luật mới giới hạn tối đa sẽ là mức phạt tù 20 năm (bằng với mức cao nhất của trường hợp chuẩn bị phạm tội tại Bộ Luật cũ). Đây là quy định rất có lợi cho người phạm tội, thể hiện tính nhân đạo ngày càng cao của quan điểm lập pháp trong mảng hình sự của nhà nước ta.

    Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

    Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

    Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

    Bình luận:

    Đây là Điều luật có thể hiểu là nguyên tắc để quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. Theo đó việc quyết định hình phạt phải chú ý đến tính cá thể hóa từng cá nhân đồng phạm, cụ thể là xét đến vai trò của từng đồng phạm, mức độ công sức đóng góp trong việc thực hiện tội phạm. Điều này hoàn toàn hợp lý vì không phải cá nhân nào trong vụ án có đồng phạm đều gây ra những hậu quả giống nhau chưa kể từng cá nhân sẽ có các yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau do đó khi quyết định hình phạt Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào các yếu tố này. Điều luật này cũng giống hoàn toàn với Điều luật cũ và đã khá rõ ràng nên cũng không có nhiều vấn đề để cần phải làm rõ thêm, mọi thứ được trình bày rất rõ ràng và dễ hiểu.

    Điều 59. Miễn hình phạt

    Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

    Bình luận:

    Khoản 1, Khoản 2 Điều 54 là trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đó là áp dụng trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc phạm tội lần đầu trong vụ án có đồng phạm với vai trò giúp sức và sự đóng góp không đáng kể. Như vậy việc áp dụng quy định tại Điều 54 đã là một việc có lợi đáng kể đối với người phạm tội. Tuy vậy đến điều luật này sự có lợi ấy lại được nâng lên một cấp độ cao hơn đó là miễn hình phạt. Lưu ý là miễn hình phạt chứ không phải là miễn trách nhiệm hình sự, nghĩa là người phạm tội vẫn bị điều tra, truy tố và xét xử bình thường nhưng đáng được khoan hồng đặc biệt nên miễn hình phạt phải chấp hành.

    CHƯƠNG IX: THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN, MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
    Điều 60. Thời hiệu thi hành bản án
    1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.
    2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:
    a) 05 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống;
    b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm;
    c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm;
    d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình.
    3. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm.
    4. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
    5. Trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

    Bình Luận
    Tại Điều 27, đã bàn luận đến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì đến đây chúng ta lại tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về thời hiệu thi hành bản án hình sự. Đây rõ ràng khác biệt với hai giai đoạn hoàn toàn khác nhau. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra nhằm mục đích điều tra, truy tố và đưa tội phạm ra xét xử, đồng thời nó cũng đặt ra một giới hạn nhất định cho hoạt động truy cứu của các Cơ quan tố tụng và tất nhiên giai đoạn truy cứu sẽ kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật khi có đủ căn cứ kết luận tội phạm hoặc bằng một quyết định đình chỉ vụ án khi không có căn cứ để kết luận tội phạm. Nhằm đảm bảo các nguyên tắc tố tụng cũng như nhanh chóng đưa bản án có hiệu lực pháp luật đi vào thi hành hay nói cách khác là đối tượng bị kết án phải chấp hành các hình phạt được thể hiện trong bản án đó thì cần phải qui định một thời hạn tương ứng. Trước khi đi sâu vào tìm hiểu các qui định của Điều luật về thời hiệu thi hành bản án hình sự, chúng ta cần nhận thức và nắm bắt về mặt khái niệm của qui định.
    1.Khái niệm: thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này qui định mà khi kết thúc thời hạn đó thì người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải thi hành bản án đã tuyên. 
    Đặc điểm thời hiệu:
    - Là thời hạn do Bộ luật hình sự qui định, nghĩa là việc thi hành bản án phải được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, có điểm bắt đầu và có điểm kết thúc. Nó bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và kết thúc khi hết một khoảng thời hạn luật định.
    - Hậu quả pháp lý của việc không thi hành bản án trong thời hạn do luật định: Khi kết thúc thời hạn mà bản án đã tuyên, có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không được thi hành thì đương nhiên những đối tượng bị kết án sẽ không phải thi hành bản án đó nữa. 
    2.Thời hạn: Một số qui định của pháp luật hình sự khi đáng giá tội phạm thường dựa trên mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hay nói cách khác là dựa vào loại tội phạm, loại tội phạm đó được thể hiện ở các mức độ mà chúng ta đã tìm hiểu như: tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng. Tương ứng với từng loại tội phạm mà pháp luật phân hóa loại hình phạt cũng như thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự khác nhau, đối với hành vi phạm tội càng nguy hiểm thì hình phạt, thời hiệu truy cứu theo đó cũng càng cao, nó tương thích, tỷ lệ thuận, phản ánh được ý chí, tính nghiêm khắc trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của giai cấp thống trị. Không ngoại lệ, việc qui định thời hạn thi hành bản án tuy không chỉ đích danh căn cứ vào loại tội phạm như một số qui định khác nhưng xét cho cùng việc các nhà làm luật dựa vào hình phạt cụ thể cũng là gián tiếp căn cứ trên loại tội phạm mà cụ thể hóa thời hiệu thi hành bản án cho tương xứng. Bởi lẽ, thời hiệu thi hành bản án gia tăng theo mức độ của hình phạt mà trong khi đó mức độ hình phạt lại gia tăng/tỷ lệ thuận theo loại tội phạm. Theo đó:
    - 05 năm đối với: phạt tiền; cải tạo không giam giữ; phạt tù có thời hạn dưới 03 năm.
    - 10 năm đối với: phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm.
    - 15 năm đối với: phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm.
    - 20 năm đối với: tù chung thân, tử hình.
    Đối chiếu với các qui định trước đây thì cách qui định thời hiệu tại Điều này có điểm mới hoàn toàn khác biệt. Cụ thể Bộ luật hình sự 1999 qui định: “Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm”. Với cách qui định này đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, rất khó áp dụng trên thực tế như sau:
    - Không đưa ra được thời hiệu cụ thể mà phụ thuộc vào ý chí của các Cơ quan có thẩm quyền mà cụ thể ở đây là quyền quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Việc quyết định một vấn đề không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người phạm tội mà còn ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội lại do một cá nhân thực hiện thì không thể đảm bảo được yếu tố khách quan.
    - Việc thi hành một bản án có hiệu lực pháp luật thuộc về trách nhiệm, nghĩa vụ của những Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhất định. Do vậy cần qui định thời hiệu để đưa ra một giới hạn nhất định cho các Cơ quan chức năng phối hợp thực hiện nghĩa vụ của mình và khi hết thời hiệu đó mà bản án không được thi hành thì các bên liên quan phải chịu trách nhiệm. Đồng thời việc qui định thời hiệu còn nhằm đảm bảo những quyền cơ bản, nhất định của con người, mặc dù hành vi phạm tội của họ đã gây ra hậu quả nghiệm trọng, tác động đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và cần đặt ra các chế tài nghiêm khắc nhưng việc không thi hành các chế tài không phải xuất phát từ yếu tố lỗi của người bị kết án mà nó lại xuất phát từ phía các Cơ quan Nhà nước khi không tổ chức thi hành bản án. Do vậy, khi không có lỗi thì người phạm tội đương nhiên được hưởng quyền không chấp hành hình phạt tương ứng khi đã quá thời hiệu thi hành mà bản án không được thực hiện. 
    - Điều luật này tại Bộ luật hình sự 1999 đã đưa ra được một mốc thời hạn là “sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm”, vậy với cách qui định này chúng ta có được quyền hiểu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tù chung thân và tử hình có phải là mười lăm năm hay không hay một khoảng thời gian khác dài hơn? Nếu cho rằng thời hiệu là mười lăm năm thì hoàn toàn không phù hợp vì đối với hình phạt tù có thời hạn trên mười lăm năm đến ba mươi năm đã qui định thời hiệu mười lăm năm thì không có lý do gì mà chúng ta lại áp dụng thời hiệu này trong khi đối với hình phạt tù chung thân hay tử hình thì đương nhiên ai trong chúng ta đều hiểu hành vi phạm tội là cực kỳ nguy hiểm cho xã hội, nó nguy hiểm đến mức mà người thực hiện hành vi bị xem xét là cần thiết phải loại trừ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội. Như vậy cách hiểu này hoàn toàn không phù hợp. Tuy nhiên nếu xét thêm một yếu tố nữa thì có lẽ chúng ta cần phải nhìn nhận lại. Nội dung Điều luật thể hiện khi đã qua mười lăm năm, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc có áp dụng thời hiệu hay không theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Như vậy với ý kiến cho rằng thời hiệu thi hành bản án đối với tù chung thân và tử hình là mười lăm năm không phải là hoàn toàn sai, mà nó đúng ở khía cạnh đây là thời hạn tối thiểu để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc có áp dụng thời hiệu hay không. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định áp dụng thời hiệu thì người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình đương nhiên không phải chấp hành bản án này nữa và trường hợp này thì thời hiệu áp dụng là mười lăm năm. Còn trường hợp không áp dụng thời hiệu, khung hình phạt giảm xuống khung liền kề, tử hình xuống chung thân, chung thân xuống tù có thời hạn ba mươi năm. 
    Từ những phân tích nêu trên, rõ ràng qui định tại Bộ luật hình sự trước đây là hoàn toàn không phù hợp, bất cập. Do vậy với qui định thời hiệu thi hành bản án: “20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình” tại Bộ luật hình sự hiện hành đã khắc phục được những điểm còn bất cập của luật cũ.
    3.Thời hiệu thi hành bản án đối với pháp nhân thương mại: Đây là chủ thể mới của Luật hình sự, nếu như trước đây chủ thể này không bị xem xét hình sự hóa hành vi thì đến nay nhiều hành vi đã bị định danh tội phạm với các chế tài tương ứng. Pháp luật qui định thời hiệu thi hành bản án áp dụng đối với chủ thể là pháp nhân thương mại chỉ ở một mức nhất định mà không có sự phân hóa như chủ thể là cá nhân người phạm tội và chính vì vậy mà thời hiệu cũng không bị phụ thuộc vào loại hình phạt áp dụng được nêu trong bán ản. Theo đó thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 5 năm. 
    4.Thời điểm tính thời hiệu: khi xác định thời điểm tính thời hiệu thi hành bản án đối với một đối tượng (đối tượng này có thể là cá nhân người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại) thì cần phải căn cứ vào các yếu tố sau:
    - Từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật: như vậy bản án sẽ có hiệu lực từ khi nào? Căn cứ vào đâu để xác định một bản án đã có hiệu lực pháp luật hay chưa? Về vấn đề này, chúng ta cần phải xem xét các qui định tương ứng tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Theo đó, việc xác định hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm căn cứ Điều 343 Bộ luật này, cụ thể: “Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị”. Đối với Bản án phúc thẩm, khoản 2 Điều 355 qui định: “Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án”. 
    - Không thực hiện hành vi phạm tội mới: Như vậy để thời hiệu được liên tục, không rơi vào trường hợp bị tính lại thì trong thời hạn áp dụng thời hiệu, người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Nếu trong khoảng thời hạn này, mà đối tượng bị kết án lại thực hiện một hành vi mới và hành vi này theo bản án kết luận của Tòa án có thẩm quyền là phạm tội thì thời hiệu đối với tội đang bị áp dụng sẽ được tính lại từ ngày thực hiện hành vi phạm tội đó. Đến đây có một vấn đề được đặt ra: Trước đây, về vấn đề này pháp luật hình sự qui định: “Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người bị kết án lại phạm tội mới, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày phạm tội mới”. Có thể thấy, theo qui định này thì thời điểm bắt đầu tính lại từ ngày phạm tội mới, cách qui định này có thể hiểu như qui định hiện nay là tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội hay không? Nếu không thì cần phải xác định như thế nào?
    5.Về nguyên tắc thì thời hiệu thi hành bản án được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tẩu thoát, tìm mọi cách cố tính trốn tránh việc áp dụng các chế tài được nêu trong bản án thì thời hiệu được bắt đầu tính hoặc tính lại khi người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ. 
    Điều kiện áp dụng: Khi và chi khi đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau thì thời hiệu mới được tính lại, cụ thể:
    - Người bị kết án cố tình trốn tránh: Việc cố tính trốn tránh này có nghĩa là người bị kết án tìm mọi cách để né tránh việc áp dụng các chế tài được nêu trong bản án, thể hiện ở một số hành vi như: phẩu thuật thẩm mỹ để thay đổi hình dạng bên ngoài, thay đổi nơi ở, thay đổi họ tên, bỏ trốn ra nước ngoài …
    - Đã có quyết định truy nã: đây rõ ràng là yếu tố quyết định việc có cơ sở để tính lại thời hiệu hay không vì nếu người bị kết án trên thực tế có thực hiện hành vi cố tình trốn tránh đi nữa mà Cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa ra quyết định truy nã có hiệu lực thì dù thời hiệu đã trôi qua bao nhiêu cũng hoàn toàn không có căn cứ để tính lại thời hiệu. 

    Điều 61. Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án
    Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, khoản 3 và khoản 4 Điều 353, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

    Bình luận
    Không phải mọi loại tội phạm đều áp dụng thời hiệu theo qui định tại Điều 60 Bộ luật hình sự hiện hành mà đối với một số tội danh nhất định pháp luật hình sự không đặt ra vấn đề thời hiệu mà theo đó thời hiệu sẽ không được áp dụng, nghĩa là thời hiệu chỉ có thời điểm bắt đầu mà không có thời điểm kết thúc. Người bị kết án buộc phải chấp hành bản án. Các tội danh không áp dụng thời hiệu được qui định như sau:
    - Các tội được qui định tại Chương XIII: Đây là phần qui định các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia như: Điều 108 - Tội phản bội tổ quốc; Điều 109 - Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; Điều 110 - Tội gián điệp; Điều 111 - Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; Điều 112 - Tội bạo loạn; Điều 113 - Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; Điều 114 - Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Điều 115 - Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; Điều 116 - Tội phá hoại chính sách đoàn kết; Điều 117 - Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Điều 118 - Tội phá rối an ninh; Điều 119 - Tội chống phá cơ sở giam giữ; Điều 120 - Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; Điều 121 - Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. 
    - Các tội được qui định tại Chương XXVI: Đây là các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh như: Điều 421 - Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Điều 422 - Tội chống loài người; Điều 423 - Tội phạm chiến tranh; Điều 424 - Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê; Điều 425 - Tội làm lính đánh thuê. 
    - Khoản 3, khoản 4 Điều 353 - Tội tham ô tài sản.
    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
    d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.
    - Khoản 3, khoản 4 Điều 354 - Tội nhận hối lộ.
    “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
    b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
    a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
    b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.
    Đây là các tội phạm mà tính chất nguy hiểm của nó không chỉ tác động đến phạm vi một quốc gia mà mang tầm ảnh hưởng quốc tế. Do vậy việc không qui định thời hiệu thi hành bản án là hoàn toàn phù hợp nhằm đảm bảo tội phạm phải được xử lý, buộc người bị kết án phải chấp hành các chế tài được nêu trong bản án tại mọi thời điểm, trường hợp mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Nếu đối chiếu với qui định tại Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 thì các trường hợp không áp dụng thời hiệu thi hành bản án có sự mở rộng đáng kể, cụ thể: 
    - Điều 47 Bộ luật hình sự 1985 qui định: “Không áp dụng thời hiệu qui định ở Điều 45 và Điều 46 đối với các tội phạm qui định tại Chương XII phần các tội phạm bộ luật này”. Chương XII ở đây là nói đến các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
    - Điều 56 Bộ luật hình sự 1999 qui định: “Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội qui định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này. Chương XI qui định các tội về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Chương XXIV qui định các tội về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.  
    - Đến nay, Bộ luật hình sự hiện hành đã bổ sung thêm hai trường hợp không được áp dụng thời hiệu thi hành bản án, đó là trường hợp qui định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 - Tội tham ô tài sản, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 - Tội nhận hối lộ.

    Điều 62. Miễn chấp hành hình phạt
    1. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
    2. Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Sau khi bị kết án đã lập công;
    b) Mắc bệnh hiểm nghèo;
    c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
    3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nêu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
    4. Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nêu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    5. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
    6. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    7. Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

    Bình luận
    Đây là các trường hợp mà pháp luật dự liệu đối tượng bị kết án được miễn chấp hành hình phạt. Theo đó đối tượng bị kết án ở đây chỉ đề cập đến chủ thể là cá nhân người phạm tội mà không bao gồm chủ thể là pháp nhân thương mại và đồng thời việc miễn chấp hành hình phạt cũng bị giới hạn lại ở những loại hình phạt nhất định như: phạt tù, cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cấm cư trú, quản chế. Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết từng trường hợp cụ thể như sau:
    1. Khi được đặc xá hoặc đại xá 
    Đây là trường hợp đầu tiên nhưng cũng là trường hợp đặc biệt nhất trong số các trường hợp được liệt kê tại điều luật này. Điểm đặc biệt được biểu hiện dưới các khía cạnh sau đây:
    - Người bị kết án đương nhiên được miễn chấp hành hình phạt: Nếu như các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt còn lại phụ thuộc vào quyết định của Tòa án có thẩm quyền về việc có cho phép người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt hay không sau khi xem xét nhiều yếu tố tương ứng thì đối với trường hợp này khi có quyết định đặc xá hay đại xá thì ngay lập tức người bị kết án được hưởng quyền miễn chấp hành hình phạt liền mà không phụ thuộc thêm vào bất kỳ điều kiện hay sự xem xét của Cơ quan nào khác. 
    - Cơ quan quyết định: Chủ tịch nước (đặc xá), Quốc hội (đại xá). 
    - Hình phạt được áp dụng: Nếu như các trường hợp khác việc áp dụng qui định miễn chấp hành hình phạt đa số chỉ được áp dụng cho những loại hình phạt mà hành vi của nó không gây nguy hiểm cao cho xã hôi hay nói cách khác phạm tội ít nghiêm trọng như: cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến 3 năm, bị phạt tiền, quản chế, cấm cư trú thì trường hợp này người bị kết án có thể phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và thậm chí đặc biệt nghiêm trọng.
    2. Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Sau khi bị kết án đã lập công;
    b) Mắc bệnh hiểm nghèo;
    c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
    - Về đối tượng được áp dụng: Chỉ áp dụng đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt.
    - Cơ quan quyết định: Tòa án quyết định trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng viện kiểm sát.
    - Điều kiện để xem xét áp dụng:
    + Sau khi bị kết án đã lập công: như vậy hiểu như thế nào là trường hợp người bị kết án đã lập công mà căn cứ vào đó các Cơ quan có liên quan theo qui định tại Điều này sẽ thực hiện việc miễn chấp hành hình phạt cho người bị kết án. Để có một cơ sở chung thống nhất khi áp dụng thì hiện nay pháp luật chưa có qui định mà chỉ có thể căn cứ vào tình hình thực tế, hành vi cụ thể mà các Cơ quan có thẩm quyền xem xét, một số trường hợp như: người bị kết án hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan trong việc điều tra; cứu giúp người khác trong lúc hoạn nạn, khó khăn; có những phát minh mang lại hiệu quả cao khi áp dụng vào đời sống xã hội…việc lập công có thể được thể hiện ở rất nhiều hành động, trong mọi lĩnh vực nhưng tựu trung để được xem xét áp dụng qui định này thì hành động/việc làm đó phải được xã hội ghi nhận.
    + Người bị kết án mắc bệnh hiểm nghèo: yếu tố này xuất phát từ bản thân người phạm tội, họ mắc những loại bệnh mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng như ung thư, bệnh tim, bại liệt, HIV giai đoạn cuối ….
    + Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội.
    Nếu người bị kết án đáp ứng được một trong các điều kiện nêu trên thì được Tòa án xem xét áp dụng cho miễn chấp hành hình phạt. Và cũng khẳng định vì đây không phải là trường hợp đương nhiên được miễn nên việc có được miễn hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể là Tòa án.
    3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nêu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
    Tương tự như trường hợp được nêu trên thì việc xem xét cũng được dựa trên các yếu tố như người bị kết án lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo, không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên đối tượng áp dụng chỉ thực hiện đối với người bị kết án có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt. Đồng thời nếu theo qui định tại khoản 2 Điều này, việc miễn chấp hành hình phạt có thể được xem xét áp dụng khi người bị kết án đạt được một trong các điều kiện được nêu nhưng đến đây việc xem xét không đơn thuần dừng lại ở từng điều kiện riêng lẻ mà phải đảm bảo được điều kiện cần và điều kiện đủ. Điều kiện cần là người bị kết án phải đảm bảo được một trong hai điều kiện: Thứ nhất - lập công lớn, thứ hai - mắc bệnh hiểm nghèo, điều kiện đủ là người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Việc xem xét một người mắc bệnh hiểm nghèo có còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không có thể được xác định một cách nhanh chóng, ví dụ: một người bị kết án 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy mắc bệnh bại liệt nằm một chỗ, không thể di chuyển, mọi hoạt động thường nhật phụ thuộc vào người thân thì không có lý do gì để cho rằng người này còn nguy hiểm cho xã hội hoặc người này bị bệnh ung thư giai đoạn cuối sức khỏe yếu cũng là cơ sở xác định tính nguy hiểm cho xã hội của họ không còn nữa. Xét đến vấn đề đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội còn hay không khi người bị kết án lập công lớn là một việc khó xác định và không mang tính tuyệt đối mà chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố niềm tin cộng chính sách nhân đạo để hướng người phạm tội đến một cuộc sống có ích cho xã hội, một công dân gương mẫu.
    4.Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nêu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    - Đối tượng được áp dụng: Người bị kết án phạt tù đến 03 năm và hình phạt đã bị tạm đình chỉ. Các trường hợp nêu tại khoản 2, khoản 3 Điều luật này đều qui định đối tượng bị kết án phải chưa chấp hành hình phạt, trường hợp đang chấp hành hình phạt thì không thuộc đối tượng được áp dụng mà chỉ được xem xét khi thuộc trường hợp được đặc xá hoặc đại xá theo quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong khi đó, trường hợp này người bị kết án phạt tù đã bị đình chỉ chấp hành hình phạt, điều này đồng nghĩa với việc người bị kết án đang thực hiện nghĩa vụ chấp hành hình phạt nhưng vì một lý do nào đó mà hình phạt đang chấp hành bị tạm đình chỉ trong một khoảng thời hạn nhất định. Chắc chắn việc tạm đình chỉ ở đây không xuất phát từ các yếu tố như lập công lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy trong khoảng thời hạn này mà người bị kết án đáp ứng được các điều kiện như: lập công lớn, có hoàn cảnh gia đình khó khăn và xét thấy người này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người bị kết án sẽ được xem xét cho miễn chấp hành phần hình phạt còn lại mà theo đó nếu không có các yếu tố nêu trên thì khi hết thời hạn tạm đình chỉ người bị kết án phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
    5.Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
    Đây là trường hợp được miễn chấp hành hình phạt hoàn toàn mới so với các qui định trước đây. Căn cứ theo qui định tại Điều 32 Bộ luật này về các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội thì phạt tiền vừa có thể được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Như vậy, một vấn đề được đặt ra là việc miễn chấp hành hình phạt được áp dụng khi hình phạt tiền là hình phạt chính hay bổ sung hoặc cả hai trường hợp đều có thể được áp dụng nếu như người bị kết án đáp ứng được các điều kiện luật định? Về vấn đề này sẽ được tác giả bình luận chi tiết trong phần kế tiếp và bây giờ chúng ta hãy cũng tìm hiểu các điều kiện nào để người bị kết án có thể được xem xét áp dụng qui định miễn chấp hành hình phạt.
    - Thứ nhất: lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn kéo dài và tình trạng này xuất phát do tác động của thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau dẫn đến họ mất khả năng tài chính để có thể tiếp tục chấp hành phần hình phạt còn lại. Ví dụ A bị áp dụng hình phạt tiền với mức phạt là 200,000,000 VNĐ, sau khi chấp hành được 1/2 hình phạt, A bị tai nạn nên không thể tiếp tục lao động, mọi tài sản hiện có đều được sử dụng cho việc chữa trị, thuốc men, tuy nhiên A không thể hồi phục hoàn toàn và không thể tự lao động, mọi chi phí, sinh hoạt đều phụ thuộc vào người thân. Đây có thể được xem xét là trường hợp lâm vào hoàn cảnh khó khăn và đồng thời mất khả năng chấp hành phần hình phạt tiền còn lại. Tuy nhiên nếu đặt vào trường hợp, mặc dù hết tài sản nhưng A bình phục hoàn toàn thì khả năng chấp hành hình phạt của A vẫn còn, A vẫn có thể tiếp tục lao động để chấp hành phần hình phạt còn lại. 
    - Thứ hai: lập công lớn, trường hợp này không xem xét để đánh giá khả năng tài chính của người phạm tội mà dựa trên những thành tích, thành quả …mà họ mang lại cho xã hội. Như thế nào được xem là lập công lớn thì tác giả đã phân tích, dẫn chứng đối với các trường hợp miễn chấp hành hình phạt nêu trên. 
    - Thứ ba: đây chính là yếu tố mang tính quyết định để xem xét người bị kết án có được miễn chấp hành hình phạt hay không là ý thức chấp hành hình phạt của người phạm tội. Việc chấp hành nghiêm túc bản án thể hiện được thái độ ăn năn, nhận thức được lỗi của người phạm tội, do vậy việc Bộ luật hình sự hiện hành lấy thước đo về ý thức để đánh giá việc có nên miễn chấp hành hình phạt cho người phạm tội hay không là hoàn toàn chính xác, thể hiện đầy đủ chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Tạo mọi điều kiện để hỗ trợ, giúp đỡ người phạm tội khi họ lâm vào tình cảnh khó khăn hoặc khi họ có những đóng góp nhất định. Chính vì vậy, nếu người bị kết án không tích cực chấp hành một phần hình phạt thì cho dù họ có rơi vào các điều kiện được nêu trên đi nữa thì hoàn toàn vẫn không có cơ sở nào để xem xét miễn chấp hành hình phạt cho họ. 
    6.Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
    Đây là trường hợp miễn chấp hành hình phạt đối với các hình phạt bổ sung, mà cụ thể là hình phạt cấm cư trú và quản chế. Thời hạn hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế được nêu tại bản án mà người bị kết án chỉ khi nào chấp hành được một phần hai thời hạn đó, đồng thời cải tạo tốt thì mới được xem xét miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Đây là hai điều kiện bổ trợ cho nhau, mà chỉ khi nào đạt được đồng thời hai điều kiện này thì người bị kết án mới được Tòa án có thẩm quyền xem xét sau khi có đề nghị của Cơ quan thi hành án hình sự.
    7. Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.
    Từ trường hợp 1 đến trường hợp 6 là các trường hợp mà người bị kết án được miễn hoặc xem xét miễn chấp hành hình phạt. Tuy nhiên việc miễn chấp hành hình phạt không đồng nghĩa với việc miễn cả trách nhiệm dân sự nếu có được nêu trong bản án này hoặc bằng một bản án khác nếu vụ việc dân sự được tách thành một vụ án riêng biệt. Việc chấp hành các hình phạt được nêu tại Bộ luật hình sự là thể hiện chế tài của Nhà nước đối với người phạm tội nên Nhà nước có toàn quyền trong việc ban hành các chính sách, qui định nhằm hướng đến việc miễn, giảm trách nhiệm hình sự, trách nhiệm chấp hành hình phạt của người phạm tội hay nói cách khác là thực hiện các chính sách nhân đạo đối với tội phạm. Đó là xét đến trách nhiệm hình sự - một trách nhiệm mà người phạm tôi chỉ thực hiện với Nhà nước, còn trách nhiệm dân sự - một trách nhiệm chỉ được thực hiện bởi và giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với nhau nên một bên có nghĩa vụ chỉ được giảm, miễn khi và chỉ khi có sự chấp thuận của bên có quyền và Nhà nước không can thiệp vào các mối quan hệ này. Chính vì vậy khi một bản án đặt ra trách nhiệm hình sự lẫn dân sự cho người bị kết án thì đương nhiên khi người bị kết án được hưởng quyền miễn chấp hành hình phạt theo qui định tại Bộ luật hình sự không đương nhiên làm mất đi trách nhiệm dân sự của người đó. 

    Điều 63. Giảm mức hình phạt đã tuyên
    1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
    Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.
    2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.
    Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.
    3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.
    4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
    5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
    6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

    Bình Luận
    Cùng với qui định về miễn chấp hành hình phạt tại Điều 62 thì qui định về giảm mức hình phạt đã tuyên là một trong những chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với tội phạm. Ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự đã thể hiện nhất quán nhiệm vụ của Bộ luật này trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, theo đó qui định vấn đề trừng phạt các hành vi xâm phạm đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật. Và khi một hình phạt áp dụng cho một hoặc một số hành vi phạm tội thì vấn đề này không đồng nghĩa với việc hình phạt phải được thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ trên thực tế. Hình phạt đã tuyên có thể được miễn hoặc giảm một phần dựa trên hoàn cảnh, thái độ, ý thức chấp hành của chính người phạm tội. Điều này không chỉ giúp người phạm tội ăn năn, hối cải, nhận thức được sai lầm của mình mà còn tạo động lực cho họ trong việc phấn đấu cải tạo tốt nhằm hưởng các chính sách khoan hồng của Nhà nước, sớm quay về với đời sống xã hội thường nhật, trở thành công dân tốt cho xã hội. Điều 62 đã qui định rõ những trường hợp nào người bị kết án được xem xét áp dụng qui định về miễn chấp hành hình phạt, vậy chế định giảm hình phạt đã tuyên được thực hiện như thế nào? Đối tượng áp dụng ra sao cũng như các hậu quả pháp lý phát sinh?
    1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
    Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.
    - Đối tượng áp dụng: xuất phát từ tính chất của mỗi qui định cũng như tính nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm mà đối tượng áp dụng của hai chế định miễn và giảm hình phạt có những nét khác biệt cơ bản. Nếu qui định về miễn chấp hình chấp hành hình phạt chỉ được thực hiện với tội phạm ít nghiêm trọng là chủ yếu thì qui định về giảm hình phạt còn được áp dụng đối với loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và thậm chí là đặc biệt nghiêm trọng. Xét về bản chất cũng như hậu quả pháp lý của từng chế định thì việc phân loại này là hoàn toàn hợp lý, miễn chấp hành hình phạt ngay lập tức giải phóng người phạm tội khỏi chế tài tương ứng. Tuy nhiên chế định giảm hình phạt chỉ giúp người phạm tội giảm trách nhiệm phải gánh chịu chế tài bị áp dụng, với các loại tội như vậy nên không thể vào một thời điểm mà giải phóng họ khỏi trách nhiệm đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Xuất phát từ đặc điểm này mà đối tượng áp dụng đối với chế định giảm hình phạt đã tuyên được mở rộng hơn nhiều, cụ thể như: người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
    + Cải tạo không giam giữ: Đây là chủ thể của chế định miễn chấp hành hình phạt và chế định giảm hình phạt đã tuyên. Tuy nhiên việc áp dụng được thực hiện trong các trường hợp với những điều kiện hoàn toàn khác nhau. Nếu theo qui định tại khoản 2 Điều 62 thì hình phạt này phải chưa được chấp hành, đồng thời người bị kết án phải hội tụ một trong ba trường hợp như lập công, mắc bệnh hiểm nghèo, chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, còn qui định về giảm hình phạt thì đối tượng này phải chấp hành được một khoảng thời hạn nhất định và khoảng thời hạn này được xác định là một phần ba đối với lần xét giảm đầu tiên. Ngoài điều kiện về thời hạn tối thiểu thì người phạm tội còn phải có những dấu hiệu tích cực về ý thức cải tạo, chấp hành bản án mà theo qui định của Điều luật được cho là người phạm tội có tiến bộ. Để đánh giá người bị kết án có tiến bộ hay không còn phải dựa trên nhiều yếu tố khác nhau. Đồng thời đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự. 
    + Tù có thời hạn, tù chung thân: Thời hạn để được xem xét miễn một phần hình phạt lần đầu đối với tù có thời hạn là người phạm tội đã chấp hành được một phần ba thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân. Bên cạnh qui định về thời hạn thì các yếu tố khác để đánh giá sự tiến bộ của người phạm tội cũng là nhân tố mang tính quyết định việc người phạm tội có được miễn một phần hành phạt hay không. 
    2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.
    Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.
    Pháp luật hiện hành không giới hạn số lần miễn hình phạt cho người phạm tội. Tuy nhiên bên cạnh việc thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với những ai thật sự biết ăn năn, hối cải, mong muốn có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời thì việc đảm bảo tính nghiêm minh, đặt ra những giới hạn nhất định cũng là vấn đề rất đáng được lưu tâm. Một người đang chấp hành hình phạt, để có sơ sở xem xét giảm thì bắt buộc họ phải chấp hành được một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, mười hai năm đối với tù chung thân. Và một người không bị giới hạn số lần được miễn hình phạt nhưng phải đảm bảo được thời hạn chấp hành hình phạt, cụ thể được một phần hai mức hình phạt đã tuyên, đối với tù chung thân thì thời hạn thực tế chấp hành là hai mươi năm. Việc đưa ra các mức giới hạn nêu trên nhằm đảm bảo người phạm tội không thể lợi dụng, cấu kết với các bên liên quan nhằm né tránh các chế tài luật định. 
    3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.
    Đây là trường hợp giảm chấp hành hình phạt đối với tù chung thân, tuy nhiên qui định này có điểm khác biệt nhất định. Theo đó, khi một người bị kết về nhiều tội mà trong số tội bị kết án có áp dụng hình phạt tù chung thân, nghĩa là hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn để xem xét giảm hoặc thời hạn chấp hành thực tế có điểm khác biệt so với trường hợp một người bị kết án một tội mà tội đó áp dụng hình phạt tù chung thân. Cụ thể: thời hạn để xem xét giảm lần đầu là mười lăm năm, thời hạn chấp hành thực tế phải đạt hai mươi lăm năm. 
    4.Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
    5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
    Trước tiên cần nắm bắt hình phạt chung được xác định như thế nào, theo qui định tại Điều 56 Bộ luật hình sự thì khi xét xử một người đang chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới thì sau khi có quyết định hình phạt, Tòa án sẽ tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của hình phạt trước rồi quyết định hình phạt chung. Như vậy đối với các qui định tại khoản này thì hình phạt chung được tính dựa trên thời hạn còn lại của hình phạt trước đó kể cả việc trừ thời hạn được miễn chấp hành hình phạt và tổng hợp với hình phạt của hành vi phạm tội mới. Việc một người phạm tội đã được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước khi xem xét miễn chấp hành một phần hình phạt nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội mới thì cần đánh giá lại ý thức chấp hành, nhưng không vì thế mà người phạm tội lại không nhận được sự khoan hồng từ các chính sách, qui định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với các trường hợp này, người phạm tội chỉ được miễn chấp hành một phần hình phạt sau khi đáp ứng điều kiện về thời hạn có tính nghiêm nghặt hơn. Cụ thể:
    - Phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý: chỉ được xem xét giảm hình phạt lần đầu khi chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt chung.
    - Phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng: xem xét giảm hình phạt lần đầu khi chấp hành được hai phần ba hình phạt chung. Trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì sau khi chấp hành được mười lăm năm tù thì mới có cơ sở để giảm hình phạt.
    6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
    Đối với các trường hợp người bị kết án từ hình được ân giảm hoặc người bị kết án từ hình thuộc trường hợp qui định tại điểm b (Người đủ 75 tuổi trở lên) hoặc điểm c (Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn) khoản 3 Điều 40 Bộ luật này thì có sự chuyển hóa hình phạt từ tử hình xuống tù chung thân. Và việc giảm hình phạt tù chung thân lần đầu chỉ được thực hiện khi người bị kết án đã chấp hành được ít nhất hai mươi lăm năm tù. Số lần giảm hình phạt không bị giới hạn nhưng cho dù người bị kết án có được giảm bao nhiêu lần thì phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là ba mươi năm. 

    Điều 64. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt
    Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 của Bộ luật này.

    Bình luận
    Điều 63 là qui định các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt chung được áp dụng cho nhiều đối tượng. Tuy nhiên, bên cạnh đó pháp luật cũng dự liệu thêm một số trường hợp đặc biệt để xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho người phạm tội như lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Khái niệm, khía cạnh nào để đánh giá vấn đề lập công của người phạm tội thì chúng ta đã đề cập tại các điều luật nêu trên. Về trường hợp người bị kết án đã quá già yếu thì cần xem xét, đánh giá như thế nào vì hiện nay không có một văn bản hướng dẫn thống nhất cách hiểu người quá già yếu, trong khi đó đây lại là trường hợp để xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho người phạm tội. Liệu khái niệm người quá già yếu có tương đồng với khái niệm người cao tuổi hay không? Theo qui định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 thì người cao tuổi được hiểu là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Tuy nhiên trong nội hàm khái niệm “người quá già yếu” có hai yếu tố cần phải được xem xét là “già” và “yếu”. Do vậy việc đánh đồng khái niệm người cao tuổi với người quá già yếu là hoàn toàn không phù hợp, bởi lẽ theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì khái niệm người già được xác định là người từ 70 tuổi trở lên. Trong khi khái niệm người cao tuổi chỉ áp dụng chung cho tất cả những ai đã qua khỏi độ tuổi lao động và đây là giai đoạn họ bắt đầu được hưởng các chính sách an sinh xã hội. Chính vì vậy, nếu đem áp khái niệm người già để trở thành đối tượng được giảm thời hạn chấp hành hình phạt cũng không thỏa đáng các yêu cầu luật định, đối tượng không chỉ đáp ứng về độ tuổi để được xem là “già” thì bên cạnh đó còn phải đáp ứng yêu cầu về sức khỏe để được xem là “yếu”. 
    Về mắc bệnh hiểm nghèo: đã được lập luận tại các Điều luật nêu trên, tựu chung lại việc mắc bện hiểm nghèo hay sức khỏe yếu được biểu hiện ở một hành vi mà các nhà làm luật hướng đến là khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng này không còn nữa. 
    Việc xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt không chỉ đặc biệt ở chủ thể được áp dụng hay nói cách khác là điều kiện mà chủ thể phải đáp ứng thì điều kiện về thời hạn cũng có những ưu đãi hơn so với trường hợp thông thường tại Điều 63. Họ có thể không phải đáp ứng về thời hạn chấp hành hình phạt tối thiểu để được xem xét giảm giảm hình phạt, cũng không phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành khi xem xét giảm nhiều lần. Tuy nhiên việc giảm sớm hơn bao nhiêu, mức cao hơn bao nhiêu thì pháp luật không nêu cụ thể, vấn đề này sẽ do Cơ quan có thẩm quyền căn cứ trên tình hình thực tế, tổng hợp của nhiều yếu tố mà quyết định cho hợp tình hợp lý.


    Điều 65. Án treo
    1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
    2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
    3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
    4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
    5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

    Bình Luận
    Hiện nay, đối tượng chịu trách nhiệm hình sự không chỉ dừng lại ở cá nhân người phạm tội mà pháp luật còn mở rộng đối với đối tượng là pháp nhân thương mại. Tuy nhiên theo qui định tại Điều này thì Án treo chỉ áp dụng đối với người phạm tội, do vậy có thể gọi đây là một qui định có tính đặc biệt. Để hiểu hết được các qui định liên quan, thì trước tiên chúng ta cần có cách nhìn nhận đúng về án treo, vậy án treo là gì? có quan điểm cho rằng án treo là một loại hình phạt được pháp luật hình sự qui định. Nhưng xem xét qui định tại Điều 32 về các hình phạt đối với người phạm tội thì chúng ta có thể nhận thấy, án treo không phải là một trong những hình phạt được qui định tại Điều này kể cả là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung. Vì vậy, hoàn toàn không có cơ sở để nói án treo là một loại hình phạt. Xét về đặc điểm thì án treo được hình thành, áp dụng trên cơ sở hình phạt tù có thời hạn mà cụ thể là hình phạt tù có thời hạn không quá 03 năm. Pháp luật cũng đã thể hiện rõ khi người phạm tội bị kết án tù có thời hạn không quá 03 năm và đáp ứng thêm một số điều kiện luật định thì không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Như vậy, án treo được hiểu là người bị kết án không phải ngồi tù, được ra ngoài xã hội và từ treo ở đây có thể được hiểu là “treo” hình phạt tù đã tuyên, khi người bị kết án không đáp ứng được các điều kiện luật hình thì họ bắt buộc phải chấp hành hình phạt tù đã treo trước đó. Có thể hiểu, việc hưởng án treo của một người hoàn toàn không giải phóng họ khỏi trách nhiệm đối với bản án đã tuyên. Đồng thời án treo còn được cắt nghĩa là qui định cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. 
    Về điều kiện để người bị kết án được xem xét hưởng án treo khi thỏa mãn đồng thời các yếu tố sau:
    - Tội bị kết án có hình phạt tù không quá 03 năm: Đây là loại tội phạm ít nghiêm trọng.
    - Nhân thân người phạm tội: Đặc điểm nhân thân của một người có thể phản ánh được tính cách, đạo đức của người đó. Các yếu tố về nhân thân được nêu ở đây phải là các đặc điểm tốt như: chưa từng phạm tội, một người sống hòa thuận, biết giúp đỡ mọi người xung quanh, con một trong gia đình, lao động chính, có thành tích trong học tập, lao động tốt …, tất cả các đặc điểm được nêu ở đây thể hiện bản chất đạo đức người bị kết án là tốt, hoàn toàn có khả năng cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, gia đình.
    - Tình tiết giảm nhẹ: Những tình tiết nào để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho một người được qui đinh cụ thể tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
    - Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, nếu xét thấy người phạm tội không nhất định phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội để chấp hành hình phạt đã tuyên thì Tòa án quyết định cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với thời hạn từ 01 đến 05 năm. Ngoài ra người hưởng án treo còn phải chấp hành các nghĩa vụ khác được qui định tại Luật thi hành án hình sự.
    1.Tuy không phải chấp hành hình phạt tù nhưng người hưởng án treo vẫn phải chấp hành các nghĩa vụ khác được qui định. Việc thực hiện các nghĩa vụ này được giám sát bởi chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc bởi cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Bên cạnh trách nhiệm của các cơ quan ban ngành thì gia đình cũng có vai trò cũng như nghĩa vụ quan trọng trong việc phối hợp giám sát, giáo dục người phạm tội. 
    2.Việc được chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang hưởng án treo đã thể hiện một cách đầy đủ nhất chính sách nhân đạo đối với người phạm tội, tuy nhiên người hưởng án treo khi cải tạo tốt và chấp hành được một phần hai thời gian thử thách thì vẫn có thể được xem xét rút ngắn thời gian này sau khi có đề nghị của cơ quan, tổ chức ban ngành có trách nhiệm giám sát, giao dục, Tòa án xem xét rút ngắn thời gian thử thách này. Tuy nhiên nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội cố ý vi phạm một trong các nghĩa vụ được nêu tại Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án hoàn toàn có quyền xem xét buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên trước đó. Nếu có hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo qui định của Bộ luật hình sự thì người bị kết án phải chấp hành cả hai bản án, một bản án cho hưởng án treo trước đó và một bản án đã tuyên theo hành vi phạm tội mới. Việc chấp hành hình phạt được dựa trên hình phạt chung đã tổng hợp. 

    Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện
    1. Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
    a) Phạm tội lần đầu;
    b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
    c) Có nơi cư trú rõ ràng;
    d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;
    đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.
    Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;
    e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.
    2.Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;
    b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.
    3. Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.
    4. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở l