DanLuat 2015

SUY NGHĨ VỀ THÔNG TƯ SỐ 33/2017/TT-BTNMT

Chủ đề   RSS   
  • #475719 23/11/2017

    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (992)
    Số điểm: 7909
    Cảm ơn: 119
    Được cảm ơn 706 lần
    Moderator

    SUY NGHĨ VỀ THÔNG TƯ SỐ 33/2017/TT-BTNMT

    Mấy ngày gần đây Báo chí đồng loạt đưa tin phỏng vấn ông Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ tài nguyên Môi trường - về việc Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT qui định phải ghi đầy đủ tên những người trong gia đình cùng có QSDĐ trong trường hợp cấp GCN cho Hộ gia đình. Từ lâu tôi không còn tin Báo chí 100%, cho nên tôi vẫn hoài nghi Báo chí đưa tin không đúng nguyên văn lời của ông Võ. Tuy nhiên, trong trường hợp Báo chí đưa tin trung thực thì tôi nghĩ nhiều quan điểm của ông Võ trong bài báo rất cần phải xem xét lại.
     
    Ông Võ cho rằng "Nói hộ gia đình ở đây có nghĩa là hai người chủ hộ tương đương nhau là vợ và chồng." nhưng không viện dẫn điều luật để chứng minh, trong khi khoản 29 điều 3 Luật đất đai qui định "Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất." và khoản 2 điều 3 Luật hôn nhân – gia đình qui định : "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.", như vậy quan điểm này của ông Võ là không có căn cứ và trái với qui định của Pháp luật về Hộ gia đình sử dụng đất.
     
    Bài báo viết nguyên văn : "“Tôi cho rằng những người đề xuất chuyện này không có hiểu biết gì về pháp luật dân sự”, GS Đặng Hùng Võ thẳng thắn bày tỏ quan điểm. Bởi lẽ đối với con cái trong gia đình thì trong bộ luật dân sự đã nói về quyền thừa kế. Con cái được nhận thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, con cái không có công đóng góp vào tài sản chung của bố mẹ nên không thể ghi vào là chủ tài sản." Thì người đọc chỉ khẳng định được câu "Tôi cho rằng những người đề xuất chuyện này không có hiểu biết gì về pháp luật dân sự” là của ông Võ còn đoạn lý giải "Bởi lẽ đối với con cái…… không thể ghi vào là chủ tài sản" không biết là của ông Võ hay của tác giả "lồng" vào. Tôi không tin đó là lời nói của ông Võ, bởi ông là Giáo sư, được xem là chuyên gia hàng đầu về Luật đất đai tại Việt Nam thì không thể có sự lý giải vừa bậy bạ rằng "con cái không có công đóng góp vào tài sản chung của bố mẹ nên không thể ghi vào là chủ tài sản" trong khi thực tế có vô số trường hợp con cái giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo lập ra nhà đất chung của cả gia đình, lại vừa ngây ngô khi cho rằng con cái chỉ được nhận thừa kế chứ không thể là đồng sở hữu với cha mẹ.
     
    Một số quan điểm còn lại của ông Võ như "Hai người chủ của gia đình xác định quyền của mình đối với con cái, nếu con cái thực sự có đóng góp vào tài sản chung đó thì phải có sự xác thực của 2 chủ hộ. Liệu chúng ta có thể làm được điều đó không? Và xác định sự đóng góp đó bằng cách nào?" hoặc “Phải xác định rõ được con cái có đóng góp vào tài sản hay không, hay chỉ có vợ và chồng. Chuyện tài sản là chuyện cần cẩn thận, chứ không phải chúng ta đưa tên vào đó một cách vô cớ” là sự lo lắng không cần thiết, bởi "chúng ta" (gồm cả Nhà nước) không có nghĩa vụ phải làm những việc ông Võ lo lắng, mà từng Hộ gia đình phải tự lo, tự thoả thuận việc đó, thống nhất được thì mới cùng làm Đơn đề nghị Nhà nước cấp GCN cho Hộ của mình, còn không thống nhất được thì phải nhờ Pháp luật phân xử và Nhà nước chỉ cấp GCN theo Bản án hay Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực pháp luật.
    CÒN TIẾP.
    http://www.kiemsat.vn/ten-cac-thanh-vien-trong-gia-dinh-vao-khong-hieu-luat-va-phan-tac-dung.html
     
     
     
    987 | Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    shin_butchi (29/11/2017) nguoinhaque009 (27/11/2017)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #475727   24/11/2017

    ducvppn
    ducvppn

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/12/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đơn giản lắm, cần gì tranh luận nhiều. Nếu trong gia đình đã thống nhất với nhau về quyền và lợi ích gắn liền trên đất hay tài sản trên đất thì họ đồng ý cùng ghi tên trên GCNQSDD có vậy thôi. Còn các cơ quan quản lý thì cần QH sửa luật đất đai 2015 thêm phần mọi cá nhân có lợi ích liên quan và tự thống nhất với nhau là có giá trị căn cứ để ghi tên một cá nhân hay cả gia đình vào GCNQSDD là được rồi.

     
    Báo quản trị |  
  • #475728   24/11/2017

    ducvppn
    ducvppn

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/12/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đính chính: luật đất đai 2013

     
    Báo quản trị |  
  • #476186   27/11/2017

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (992)
    Số điểm: 7909
    Cảm ơn: 119
    Được cảm ơn 706 lần
    Moderator

    Người sử dụng đất theo qui định tại điều 5 Luật đất đai 2013 gồm nhiều đối tượng như cá nhân, tổ chức, hộ gia đình..v..v... Nghĩa là tuỳ theo Đơn đề nghị của Người sử dụng đất là đối tượng nào, Nhà nước sẽ cấp GCN cho đối tượng đó, ví dụ Người sử dụng đất là cá nhân đề nghị thì Nhà nước sẽ xem xét cấp GCN cho cá nhân, tương tự là xem xét cấp GCN cho tổ chức, hộ gia đình...v..v... Riêng đối với trường hợp cấp GCN cho Hộ gia đình thì điểm c khoản 1 điều 5 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT qui định chỉ ghi tên chủ hộ nhưng phải ghi phía sau chữ Hộ, nghĩa là không phải cấp GCN cho cá nhân chủ hộ mà là cấp GCN cho cả hộ và chủ hộ chỉ đại diện cả hộ đứng tên. Tuy nhiên qui định này lại không hoàn toàn phù hợp với qui định tại khoản 3 điều 5 cũng của chính Thông tư 23. Cụ thể nó chỉ phù hợp đối với trường hợp nhiều cá nhân cùng có quyền sử dụng 1 thửa đất nhưng có văn bản thoả thuận chỉ cấp 1 GCN cho 1 người đại diện đứng tên (đoạn 3 khoản 3 điều 5 Thông tư 23), còn trong trường hợp nhiều người cùng có QSD 1 thửa đất mà không có văn bản thoả thuận chỉ cấp 1 GCN cho 1 người đại diện thì Nhà nước phải cấp cho mỗi người 1 GCN và trên GCN của từng người phải ghi thông tin của tất cả những người cùng có QSDĐ với người đứng tên trên GCN (đoạn 1, 2 và 4 khoản 3 điều 5 Thông tư 23).

    Từ ngày 05/12/2017 điểm c khoản 1 điều 5 Thông tư 23 không còn hiệu lực và được thay thế bằng khoản 5 điều 6 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT, theo đó thì khi cấp GCN cho Hộ gia đình không ghi 1 người đại diện nữa mà phải ghi tất cả những thành viên nào trong gia đình có chung QSDĐ được cấp. Nói cách khác là phải sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 điều 5 Thông tư 23 bằng khoản 5 điều 6 Thông tư 33 cho phù hợp hoàn toàn với khoản 3 điều 5 Thông tư 23 vì khoản 3 này không bị sửa đổi nên vẫn còn hiệu lực khi Thông tư 33 có hiệu lực.

    Vấn đề chỉ có vậy, thế nhưng không hiểu sao một số người, có cả phóng viên báo chí và Luật sư lại bàn luận theo hướng Thông tư 33 "cấm" cấp GCN cho cá nhân và bắt buộc phải cấp GCN cho Hộ để ghi tất cả thành viên trong Hộ. Các vị này đã quên mất điều cơ bản là Nhà nước không tự nhiên cấp GCN cho bất kỳ một ai, mà Người sử dụng đất phải có đơn đề nghị thì Nhà nước mới xem xét cấp GCN. Nghĩa là chuyện cấp GCN cho cá nhân hay hộ gia đình là do chính Người sử dụng đất quyết định chứ Nhà nước không bắt buộc. Ví dụ trong nội bộ gia đình phải thống nhất nhà, đất là của cha mẹ hay của cả gia đình rồi mới làm Đơn đề nghị cấp GCN theo sự thống nhất đó, trường hợp không thống nhất thì sẽ phát sinh tranh chấp trước khi cấp GCN. Điều thứ hai, các vị này dường như đã quên chuyện phải ghi tên tất cả những người có chung QSDĐ trên GCN trong trường hợp nhiều cá nhân cùng sử dụng 1 thửa đất, thậm chí trong trường hợp đó còn phải cấp cho mỗi người 1 GCN là chuyện đã có từ Thông tư 23 chứ không phải là qui định mới mẻ gì.

    CÒN TIẾP

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    nguoinhaque009 (27/11/2017) shin_butchi (29/11/2017)
  • #476376   29/11/2017

    Chào anh TranTamDuc.1973, quả đúng như suy đoán của anh, thực sự báo chí đã làm méo mó lời trình bày của Giáo sư Đặng Hùng Võ mà anh đã trích dẫn nguyên văn nêu trên.

    Sau đây, em xin trích lại giải thích của Giáo sư:

    Trước hết, đây là một hướng dẫn bổ sung đối với việc ghi trên Giấy chứng nhận hoàn toàn phù hợp với pháp luật về dân sự. Ở đây phải hiểu là chỉ ghi tên “những thành viên khác trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất hoặc/và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”. Nhiều người, trong đó có cả một số phóng viên chưa lưu tâm tới ý này mà hiểu đơn giản là ghi tên chồng, tên vợ xong phải ghi tất cả mọi người trong hộ lên Giấy chứng nhận.

    Hiểu như vậy là chưa đúng với bản chất của hướng dẫn là phải ghi đầy đủ tên mọi người có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản. Đây là những nhầm lẫn về nhận thức khá tai hại. Một số báo mấy ngày qua cũng có sai lầm này khi trao đổi với tôi. Tôi đã nói rằng nếu hướng dẫn của Thông tư mà bắt ghi tất cả mọi người trong hộ gia đình như phóng viên nêu vấn đề thì không đúng với pháp luật dân sự. Vì thực ra, Thông tư chỉ yêu cầu ghi đủ mọi người có chung quyền thôi.

    Có phóng viên còn hỏi tôi, tại sao lại phải bắt ghi thêm như vậy, khi trước dây chỉ cần ghi tên vợ và tên chồng? Sự thực, ghi như trước đây là chưa đủ, nhất là khi có người con nào đó cũng cùng bố mẹ tạo nên nhà đất chung. Một khái niệm “hộ gia đình” chung chung, không chi tiết dễ khiến cho khó xử lý nhiều khiếu kiện trên thực tế.

    Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về giải quyết nợ xấu bằng giải pháp cho phép phát mại tài sản bất động sản thế chấp tại các ngân hàng. Nhiều trường hợp không thực hiện được vì trên Giấy chứng nhận ghi là quyền sử dụng đất của “Hộ gia đình ông…. và bà….” nên các con vin vào từ “Hộ gia đình” để chứng minh các con có quyền ở đó mà không cho phép bán bất động sản đã thế chấp. Khi pháp luật đã quy định rõ phải ghi đủ tên người có chung quyền thì chỉ ai có tên trên Giấy chứng nhận mới có quyền đối với bất động sản đó.

    Trên thực tế triển khai, cũng xuất hiện những bất cập yêu cầu phải có những quy định chi tiết hơn. Đối với trường hợp được Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cứ ai là thành viên trong hộ mà có tên trong quyết định giao đất thì phải ghi lên Giấy chứng nhận cho đủ. Trường hợp này dễ giải quyết.

    Đối với trường hợp nhận chuyển quyền bất động sản trên thị trường, khi đó căn cứ nào để xác định ai trong hộ có quyền đối với bất động sản đó là vấn đề phức tạp cần được đặt ra. Chỉ người ký hợp đồng mua bất động sản và vợ hoặc chồng người đó xác nhận là đủ hay phải có xác nhận của tất cả thành viên trong gia đình.

    Theo pháp luật dân sự, cần có bản xác nhận có chữ ký của tất cả các thành viên của hộ gia đình. Hơn nữa, càng phức tạp đối với các gia đình trong tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt”, hay những ai vài lần ngồi xe hoa mà có “con anh, con tôi, con chúng ta”. Người dân e ngại chính là ở chỗ này, nhiều khi tới mức bất khả thi trên thực tế. Nếu không hướng dẫn cụ thể, các địa phương sẽ có thể thực thi khác nhau, thậm chí làm khó cho dân.

    Tất nhiên, cũng có cách làm cho vấn đề đơn giản hơn. Người nhận chuyển quyền nhà đất đừng xin cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình mình nữa mà xin cấp Giấy chứng nhận cho bất động sản chung của hai vợ chồng.

    Lúc đó sẽ thoát khỏi thuật ngữ “hộ gia đình” làm vướng víu mọi chuyện. Cách làm này phù hợp pháp Luật Đất đai, pháp luật dân sự và cả pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật về hôn nhân và gia đình.

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn shin_butchi vì bài viết hữu ích
    nguoinhaque009 (07/12/2017) TranTamDuc.1973 (29/11/2017)

0 Thành viên đang online
-