DanLuat 2015

Sự khác biệt giữa sở hữu trí tuệ so với sở hữu những tài sản hữu hình?

Chủ đề   RSS   
  • #421152 10/04/2016

    trangfantasi

    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 25 lần


    Sự khác biệt giữa sở hữu trí tuệ so với sở hữu những tài sản hữu hình?

    Sở hữu trí tuệ và sở hữu tài sản hữu hình như hai mặt của một vấn đề. 

    Dựa vào một số tiêu chí, tác giả sẽ phân biệt một số điểm khác nhau như sau

    Tiêu chí Quyền sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu những tài sản hữu hình
    Khái niệm Sở hữu trí tuệ được định nghĩa là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ Là tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa,...), có thể nhìn thấy được và có trị giá đo lường cụ thể.
    Đối tượng

    Tài sản vô hình là kết quả của quá trình tư duy sáng tạo trong bộ não con người được biểu hiện dưới nhiều hình thức.

    Là những tài sản không nhìn thấy được, nhưng trị giá được tính bằng tiền và có thể trao đổi. Ví dụ: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn…

    Tài sản hữu hình, được qui định tại Điều 163 BLDS bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
    Hình thái Tồn tại dưới dạng quyền tài sản và quyền nhân thân. Thể hiện dưới dạng hình thái vật chất nhất định.
    Bảo hộ tài sản sở hữu
     
    - Không gian:
     
    Có giới hạn nhất định. Chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia, khi có tham gia Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ thì lúc đó phạm vi bảo hộ được mở rộng ra các quốc gia thành viên.
     
    Ví dụ: bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm vi quốc gia này, không ai được xâm phạm đến quyền sở hữu của bạn đối với tài sản đó.
     
    Tuy Bảo hộ một cách tuyệt đối tuy nhiên quyền này không hề có giá trị tại quốc gia B (hay C) khác, trừ khi các quốc gia này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
     
    - Thời gian:
     
    Pháp luật có đặt ra thời hạn bảo hộ. Trong thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là bất khả xâm phạm. Hết thời hạn bảo hộ này (bao gồm cả thời hạn gia hạn nếu có), tài sản đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể được phổ biến một cách tự do mà không cần bất kỳ sự cho phép nào của chủ sở hữu.
     
    Ví dụ: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam quy định: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình .v.v
     
    Phạm vi bảo hộ không bị bó hẹp trong một quốc gia .
     
     
    Bảo hộ quyền sở hữu tài sản hữu hình pháp luật không đặt ra thời hạn bảo hộ cho những tài sản này, tài sản hữu hình có thời hạn bảo hộ tuyệt đối.
     
    Căn cứ xác lập.
    - Quyền tác giả tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức nhất định (Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT) 
     
    - Quyền liên quan: khi biểu diễn, ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng…(Khoản 2 Điều 6 Luật SHTT) 
     
    - Quyền SH công nghiệp: Đối với tên thương mại được xác lập khi sử dụng hợp pháp tên đó…(Khoản 3,4 Điều 6 Luật SHTT)
     
    -Quyền sở hữu Quyền sở hữu chỉ đề cao quyền sử dụng, định đoạt. Vì bản chất là tài sản vô hình, chúng ta không thể cầm nắm được tài sản nên  quyền chiếm hữu ít được đề cập tới
    -Do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hoa lợi, lợi tức. quyền đối với cây trồng: khi đăng lý bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
     
    - Được chuyển giao, tặng cho, thừa kế.
     
    - Tạo thành phẩm mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến - Các trường hợp chiếm hữu theo qui định của pháp luật Điều 170 BLDS
     
    -Việc đinh đoạt tài sản hữu hình cần kèm theo với sự chiếm hữu. Ví dụ: A chỉ có thể quyền sử dụng một chiếc xe nếu B là chủ sở hữu giao quyền chiếm hữu chiếc xe cho A.
     
    Đăng ký bảo hộ

    Các quyền thuộc quyền sở hữu trí tuệ gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Có quyền phải đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới phát sinh quyền được bảo hộ.

    Tuy nhiên, quyền tác giả thì phát sinh mà không cần đăng ký. (Điều 49, 86, 87, 88, 164 LSHTT).

    Đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản là bất động sản, nếu là động sản chỉ đăng ký khi pháp luật có qui định (Điều 167 BLDS)
    Định giá TSVH gặp khó khăn trong việc xác định giá trị. 

    TSHH dễ dàng xác định giá trị.

     

     
    12937 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận

0 Thành viên đang online
-