Sử dụng đất của người đã chết không có thừa kế

Chủ đề   RSS   
  • #482578 18/01/2018

    Sử dụng đất của người đã chết không có thừa kế

    Hiện tại tôi có một tình huống mong các bạn cho ý kiến.

    Ông Ngô Văn Q sử dụng một thửa đất chưa được cấp sổ từ năm 1984. Đến năm 1985 thực hiện Chỉ thị 299/TTg về tổng điều tra thống kê đất đai trên toàn quốc; ông Q được ghi nhận là người sử dụng đất đối với thửa đất đó trong bản đồ và sổ mục kê (lập năm 1985). Tiếp tục đến năm 1990 ông Q chết và được người ta an táng vào nghĩa địa. Do ông Q không có họ hàng thân thích nên không có người thừa kế, ông Q cũng không để lại di chúc đối với thửa đất đó nên đất bị bỏ hoang không ai quản lý.

    Ông Nguyễn Văn B nhà ở bên cạnh thấy đất bỏ hoang trong khi nhà mình thiếu ăn nên sang canh tác và quản lý sử dụng ổn định cho đến nay.

    Vậy xin hỏi, trường hợp sử dụng đất của ông B có được xem là lấn chiếm đất theo quy định của Luật đất đai hiện hành?

    XIn cảm ơn các bạn quan tâm thảo luận.

     
    3995 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #482591   18/01/2018

    Hangnhimd9
    Hangnhimd9

    Female
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:30/11/2017
    Tổng số bài viết (34)
    Số điểm: 170
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 7 lần


    Theo thông tin bạn cung cấp trên, quan điểm tôi cho rằng:

    Phần đó sau khi ông Q chết sẽ chia di sản thừa kế nhưng do ông Q không có người thân hay họ hàng thuộc các hàng thừa kế theo pháp luật quy định nên phần di sản đó sẽ thuộc sở hữu của nhà nước.

    Ông B nếu như không có hành vi, dấu hiệu dịch chuyển, thay đổi ranh giới, mốc giới của thửa đất trên thực tế so với diện tích ban đầu gia đình ông B được nhận, với mục đích để mở rộng diện tích thực tế thì sẽ không đươc coi là lấn chiếm đất đai.

    Ông B do điều kiện kinh tế khó khăn và muốn canh tác trên phần đất đó để kiếm thêm lo cho cuộc sống thì nên làm đơn trình bày nguyện vọng với UBND cấp xã nơi có đất để được phép canh tác trên phần đất đó dưới hình thức cho thuê hoặc giao khoán đất.

    Cập nhật bởi Hangnhimd9 ngày 18/01/2018 10:48:44 SA
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Hangnhimd9 vì bài viết hữu ích
    DVToancr (18/01/2018)
  • #482616   18/01/2018

    GHLAW
    GHLAW
    Top 200
    Male
    Lớp 3

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/11/2016
    Tổng số bài viết (351)
    Số điểm: 4787
    Cảm ơn: 425
    Được cảm ơn 210 lần


    Gửi thêm bạn căn cứ tham khảo

    Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Nghị định Số: 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:

    1. Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

    2. Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.”

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn GHLAW vì bài viết hữu ích
    DVToancr (18/01/2018)
  • #482624   18/01/2018

    Cảm ơn bạn hangnhimd9 và bạn GHLAW đã quan tâm thảo luận. Nhưng tôi vẫn còn băn khoăn đó là:

    Thời điểm ông Q chết là năm 1990, như vậy theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Luật đất đai 1987 thì nhà nước sẽ thu hồi toàn bộ thửa đất của ông Q vì ông Q đã chết và không có thừa kế. Tuy nhiên trong thực tế thì cơ quan nhà nước không thu hồi, cũng không quản lý gì (ông Q cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và ông B sử dụng ổn định từ 1992 đến nay. 

    Theo quy định của Pháp luật về đất đai thì nhà nước luôn khuyến khích người dân khai hoang, phục hóa,, đưa đất vào sử dụng theo đúng quy hoạch; như vậy việc sử dụng đất của ông B là sau khi đất bị bỏ hoang, từ khi sử dụng đất đến nay cũng không bị xử lý vi phạm hành chính. Như vậy có thể xem việc sử dụng đất của ông B là vi phạm lấn chiếm đất được không?

    Hiện tại theo Luật đất đai 2013 ông B được công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó theo điều 20 nghị định 43/2014/NĐ-CP hay không (sử dụng ổng định trước 15/10/1993, không có giấy tờ quy định tại Khoản 1 điều 100 Luật đất đai nhưng không có vi phạm pháp luật về đất đai hay không?

     
    Báo quản trị |  
  • #482719   19/01/2018

    Hangnhimd9
    Hangnhimd9

    Female
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:30/11/2017
    Tổng số bài viết (34)
    Số điểm: 170
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 7 lần


    Thứ nhất, không thể xác định phần đất đó là đất hoang được.

    Theo thông tin bạn cung cấp là “Đến năm 1985 thực hiện Chỉ thị 299/TTg về tổng điều tra thống kê đất đai trên toàn quốc; ông Q được ghi nhận là người sử dụng đất đối với thửa đất đó trong bản đồ và sổ mục kê (lập năm 1985)”.

    Như vậy tại thời điểm đó, chính quyền địa phương bạn đã xác nhận ông Q là người đang sử dụng đất đối với phần đất đó (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên không thể xác định là đất hoang được.

    Thứ hai, về vấn đề quản lý, thu hồi đất.

    Đúng là theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Luật đất đai 1987 thì nhà nước sẽ thu hồi toàn bộ thửa đất của ông Q vì ông Q đã chết và không có thừa kế. Tuy nhiên, việc thu hồi không diễn ra do vậy đây thuộc về lỗi trong công tác quản lý, thu hồi đất tại địa phương bạn. Và nhà nước không thu hồi thì không thể coi đó là đất hoang được khi mà đã có tên ông Q trong sổ mục kê từ năm 1985.

    Thứ ba, có được công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó hay không ?

    Theo ý kiến tôi, phần đất đó không được coi là đất hoang nên k thể áp dụng là đất khai hoang sử dụng lâu dài được và với trường hợp nếu ông B cạnh sát nhà ông Q và ở từ năm 1984 thì cũng đã được ít nhất 6 năm làm hàng xóm với ông Q. Nên khó có thể coi là không biết việc ông Q ở trên phần đất đó (trừ khi ông B mới chuyển đến) và nói đây là đất hoang được.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định: “Sổ mục kê đất đai là sản phẩm của việc điều tra, đo đạc địa chính, để tổng hợp các thông tin thuộc tính của thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất gồm: Số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, diện tích, loại đất, tên người sử dụng đất và người được giao quản lý đất để phục vụ yêu cầu quản lý đất đai”.

    Về mặt pháp lý, sổ mục kê ghi nhận các thông tin về thửa đất, trong đó có tên người sử dụng đất và người được giao quản lý đất. Đây được coi là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét ai là người có quyền sử dụng, quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, đất này vẫn xác định có giấy tờ, đó là sổ Mục kê mang tên ông Q.

    Vì vậy, không thể xem xét căn cứ tại điều 20 nghị định 43/2014/NĐ-CP (sử dụng ổng định trước 15/10/1993, không có giấy tờ quy định tại Khoản 1 điều 100 Luật đất đai) để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B được. Trường hợp ông B xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND cấp xã sẽ xem xét về nguồn gốc đất và có thể sẽ tiến hành tịch thu đối với phần đất này.

    Đây là ý kiến thảo luận của tôi đối với phần câu hỏi, thắc mắc của bạn!!! 

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Hangnhimd9 vì bài viết hữu ích
    GHLAW (19/01/2018)