Sổ đỏ, quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, xin cấp, điều chỉnh giấy CNQSDĐ, GCNSHNO, chuyển mục đích sử dụng đất

Chủ đề   RSS   
  • #19263 29/07/2008

    pqtrung

    Lớp 6

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:10/06/2008
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 7820
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 7 lần


    Sổ đỏ, quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, xin cấp, điều chỉnh giấy CNQSDĐ, GCNSHNO, chuyển mục đích sử dụng đất

    Nhà tôi diện tích 250 m2 (chưa có giấy CNQSDD) nay tôi muốn làm giấy CNQSDD, sổ đỏ chỉ 80 m2  (sau này có điều kiện thì làm tiếp) có được không ?

    Kính thưa Luật sự.
    Nhà tôi mua từ năm 1969 (trong giấy bán chỉ nói là bán căn nhà 5*6m trên lô đất ...) đến năm 1983 ba tôi có làm giấy chứng nhận QDSD - sổ đỏ (trong đó lại ghi diện tích nhà 46 m2 trên lô đất chúng tôi đang ở), Tổng diện tích đất hiện hàng năm nộp thuế là 250 m2, đất không tranh chấp  Nay muốn làm Giấy CNQSDD - sổ đỏ thì phài chịu các loại thuế nào. rất mong luật sự tư vấn.

     
    1191613 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

41 Trang «<14151617181920>»
Thảo luận
  • #20495   27/04/2009

    phuonglien0320
    phuonglien0320

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/04/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Các trường hợp để xin cấp lại sổ hồng, sổ đỏ?

    -Trong những trường hợp nào thì có thể xin cấp lại sổ đỏ, sổ hồng? Thủ tục và các giấy tờ cần thiết để xin cấp lại sổ?
    -Văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề trên?
     
    Báo quản trị |  
  • #20501   22/02/2009

    xuannamgl
    xuannamgl

    Male
    Mầm

    Gia Lai, Việt Nam
    Tham gia:17/11/2008
    Tổng số bài viết (41)
    Số điểm: 735
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 1949

    Xin tư vấn giúp tôi một việc sau :

    Tôi có một mảnh đất được chế độ cũ cấp QSD đất từ năm 1949 .
    Trên QSD đất này ghi là : Đất trồng hoa màu lặt vặt .
    Xin hỏi : Nay đất này có được công nhận là đất ở như qui định tại điều 87 luật đất đai năm 2003 hay không .
    Tôi xin cám ơn
     
    Báo quản trị |  
  • #20502   12/12/2008

    TNU_mathu
    TNU_mathu

    Sơ sinh

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:10/11/2008
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 15
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Theo toi nghi thi dat cua ban duoc cong nhan la dat o neu dat cac yeu cau sau :
    - Tren ban do quy hoach su dung dat 2001 den 2010 cua dia phuong ban, manh dat cua ban nam trong quy hoach lam dat o (ONT or ODT)
    - Ban da xay dung nha o tren manh dat do
    - Trong qua trinh su dung khong xay ra tranh chap, khieu nai to cao
    - Dong thue day du

    ------------------------------------------------------------------------------------
    Theo tôi nghĩ thì đất của bạn được công nhận là đất ở nếu đạt các yêu cầu sau :

    - Trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất 2001 đến 2010 của địa phương bạn, mảnh đất của bạn nằm trong quy hoạch làm đất ở (ở nông thôn hoặc ở đô thị)

    - Bạn đã xây dựng nhà ở trên mảnh đất đó

    - Trong quá trình sử dụng không xảy ra tranh chấp, khiếu nại tố cáo

    - Đóng thuế đầy đủ

     
    Báo quản trị |  
  • #20503   27/11/2008

    phongdatdai
    phongdatdai
    Top 500
    Chồi

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:16/07/2008
    Tổng số bài viết (260)
    Số điểm: 1230
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Gởi bạn TNU_mathu: Sau này bạn nhớ gõ chữ có dấu nhé.
    Điều 87 LĐĐ có định nghĩa là: Đất vườn ao được xác định là đất ở phải trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư.
     
    Báo quản trị |  
  • #20504   17/02/2009

    xuannamgl
    xuannamgl

    Male
    Mầm

    Gia Lai, Việt Nam
    Tham gia:17/11/2008
    Tổng số bài viết (41)
    Số điểm: 735
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    ĐẤT CHIA THEO NĐ 64/CP NĂM 1993

    Xin tư giúp tôi :
    Tôi được thừa kế một lô đất đã được chế độ cũ cấp QSD đất , có diện tích 2000 m2  trên QSD đất này ghi là đất trồng màu .Tôi làm nhà và ở liên tục từ 1968 đến nay
    Năm 1993 thực hiện NĐ 64/CP về cân đối ruộng đất , hộ tôi có 6 nhân khẩu được chia 2400 m2 đất . Cụ thể là họ chia cho tôi 2000 m2 đất mới có cấp sổ đỏ  còn lại 400 m2 họ lấy trong 2000 m2 đất mà tôi được thừa kế  đã được chế độ cũ cấp QSD đất và họ cũng cấp sổ đỏ 400 m2 đất này cho tôi . Đồng thời họ cân đối 200 m2 trong 2000 m2 đất thừa kế của tôi cho HTX
    Xin tư giúp : 1/ Muốn cân đối 200 m2 đất có QSD đất do chế độ cũ cấp cho HTX  thì UBND các cấp có cần ra  văn bản , QĐ thu hồi đất hay không ? ( Thời điểm 1993 )
    2/ Đất đã có QSD đất do chế độ cũ cấp có  thuộc diện cân đối ruộng đất theo NĐ 64/CP hay không ?
    3/ Hợp tác xã muốn quản lý 200 m2 đất này thì cần phải có  các loại giấy tờ ,văn bản gì của UBND các cấp giao cho ?
    Xin cám ơn !

     
    Báo quản trị |  
  • #20505   02/12/2008

    karlhandus
    karlhandus

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/11/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    nhà tôi có dt 2,8mx15m. Nhưng tôi nghe nói bề ngang dưới 3m là không được cấp sổ đỏ. Xin cho tôi biết có phải

    Nhà tôi có dt 2,8mx15m. Nhưng tôi nghe nói bề ngang dưới 3m là không được cấp sổ đỏ. Xin cho tôi biết có phải như vậy không?
     
    Báo quản trị |  
  • #20506   26/11/2008

    phuhuan00
    phuhuan00

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/11/2008
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

    Theo quy định tại Điều 10 Luật Nhà ở 2005 thì điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở là: cá nhân trong nước không phụ thuộc vào nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; có nhà ở được tạo lập hợp pháp thông qua việc đầu tư xây dựng, mua bán, tặng cho, thừa kế, đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

    Chỉ trong trường hợp lô đất có diện tích nhỏ hơn 36m2, có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nhỏ hơn 3 m thì có thể không được phép xây dựng (còn tùy thuộc vị trí lô đất nằm ở mặt tiền đường hay hẻm)

    Do đó, căn nhà của bạn đã được xây dựng từ trước nhưng chiều ngang của căn nhà nhỏ hơn 3 m thì vẫn được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (nếu đáp ứng đủ các loại giấy tờ theo quy định của Luật nhà ở).
     
    Báo quản trị |  
  • #20507   26/11/2008

    phuhuan00
    phuhuan00

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/11/2008
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

    Theo quy định tại Điều 10 Luật Nhà ở 2005 thì điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở là: cá nhân trong nước không phụ thuộc vào nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; có nhà ở được tạo lập hợp pháp thông qua việc đầu tư xây dựng, mua bán, tặng cho, thừa kế, đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

    Chỉ trong trường hợp lô đất có diện tích nhỏ hơn 36m2, có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nhỏ hơn 3 m thì có thể không được phép xây dựng (còn tùy thuộc vị trí lô đất nằm ở mặt tiền đường hay hẻm)

    Do đó, căn nhà của bạn đã được xây dựng từ trước nhưng chiều ngang của căn nhà nhỏ hơn 3 m thì vẫn được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (nếu đáp ứng đủ các loại giấy tờ theo quy định của Luật nhà ở).
     
    Báo quản trị |  
  • #20508   26/11/2008

    Mr_Long
    Mr_Long

    Sơ sinh

    Thái Bình, Việt Nam
    Tham gia:26/11/2008
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    câu hỏi quá thừa

    nếu như nhà này của anh dùng với mục đích để ở thì sổ đỏ để làm quái gì
     
    Báo quản trị |  
  • #20518   02/12/2008

    cuongpro
    cuongpro

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2008
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    dân được giao đất trồng rừng có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

    Em cần được tư vấn về vấn đề sau: Năm 1997, một số hộ dân được giao đất trồng rừng theo nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của nước ngoài. Đến nay rừng đã xanh tốt, phát huy tác dụng phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường. Vậy những người dân đó được hưởng những quyền lợi gì, họ có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?
     
    Báo quản trị |  
  • #20519   25/11/2008

    Xmen-8711
    Xmen-8711
    Top 25
    Male
    Lớp 12

    An Ninh, Việt Nam
    Tham gia:24/01/2008
    Tổng số bài viết (2707)
    Số điểm: 19494
    Cảm ơn: 895
    Được cảm ơn 1050 lần
    SMod

    Quyền hưởng lợi - Nghĩa vụ

    Bạn có thể tham khảo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng chính phủ và Thông tư liên tịch 80/2003/TTLT-BNN-BTC ngày 03/9/2003 giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Tài chính

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
    ********

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ********

    Số: 178/2001/QĐ-TTg

    Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2001

     

    QUYẾT ĐỊNH

    CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 178/2001/QĐ-TTG NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM 2001 VỀ QUYỀN HƯỞNG LỢI, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ĐƯỢC GIAO, ĐƯỢC THUÊ, NHẬN KHOÁN RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
    Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 19 tháng 8 năm 1991;
    Căn cứ Luật Đất đai, ngày 14 tháng 7 năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6 năm 2001;
    Căn cứ Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
    Căn cứ Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước.
    Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Chương 1

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Quyết định này quy định về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, nhằm tạo động lực kinh tế khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng; làm cho thu nhập từ rừng trở thành một nguồn thu đáng kể, góp phần bảo đảm cuộc sống của người làm nghề rừng; đồng thời, làm rõ trách nhiệm của người được giao, được thuê, nhận khoán rừng đối với việc bảo vệ và phát triển rừng.

    Điều 2. Quyết định này được áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ; được giao, được thuê đất lâm nghiệp theo Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

    2. Được các tổ chức Nhà nước khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng theo Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước.

    Điều 3. Nguyên tắc xác định quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp:

    1. Đảm bảo lợi ích hài hoà giữa Nhà nước với người trực tiếp bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lâu dài.

    2. Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp bao gồm: gỗ, các lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm trồng xen, tiền công tương xứng với tiền của, công sức của hộ gia đình, cá nhân đã đầu tư vào rừng.

    3. Quyền hưởng lợi và nghĩa vụ chỉ được thực hiện trong thời hạn được giao, được thuê hoặc nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.

    Chương 2

    QUYỀN HƯỞNG LỢI, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO, CHO THUÊ ĐẤT LÂM NGHIỆP

    Điều 4. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng đặc dụng để quản lý, bảo vệ và xây dựng:

    1. Được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    2. Được tiến hành các hoạt động dịch vụ nghiên cứu khoa học, văn hoá, xã hội và du lịch sinh thái theo quy định của pháp luật.

    Điều 5. Hộ gia đình, cá nhân được giao rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh:

    1. Được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy định hiện hành.

    2. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa..., trong quá trình bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy định hiện hành.

    3. Được khai thác cây gỗ chết khô, cây đổ gẫy, cây sâu bệnh theo thiết kế khai thác do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép. Lâm sản nói trên được tự do lưu thông khi có đủ thủ tục theo quy định.

    4. Được khai thác tre, nứa với cường độ tối đa 30% khi rừng đạt độ che phủ 80% trên diện tích đất được giao theo quy chế khai thác lâm sản hiện hành; được hưởng toàn bộ giá trị lâm sản thu được sau khi nộp thuế.

    5. Được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn với cường độ khai thác không quá 20% khi rừng phòng hộ được phép khai thác (trừ những động vật, thực vật nằm trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm theo quy định của Chính phủ và danh mục động vật, thực vật ghi trong phụ lục công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES ) theo thiết kế được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Việc khai thác phải tuân theo quy chế khai thác lâm sản hiện hành. Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 85% - 90% sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

    Điều 6. Hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy hoạch rừng phòng hộ:

    1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng và chăm sóc rừng theo quy định hiện hành.

    2. Được sử dụng cây nông nghiệp lâu năm làm cây trồng chính rừng phòng hộ hoặc trồng xen với cây rừng bản địa lâu năm theo thiết kế trồng rừng được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

    3. Được hưởng 100% sản phẩm khai thác từ cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm tỉa thưa theo thiết kế được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và phải đảm bảo độ tàn che của rừng trên 0,6 sau khi tỉa thưa.

    4. Được sử dụng tối đa không quá 20% diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp.

    5. Được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn với cường độ khai thác không quá 20% khi rừng phòng hộ được phép khai thác theo thiết kế được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép khai thác.

    Giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế được phân chia theo tỷ lệ như sau: hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 90 - 95%, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

    6. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư vốn để trồng rừng thì được hưởng 100% sản phẩm khi rừng đạt tuổi khai thác, mỗi năm được phép khai thác không quá 10% diện tích do chủ rừng đã gây trồng thành rừng theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

    Điều 7. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng tự nhiên quy hoạch rừng sản xuất:

    1. Được trồng xen các cây nông nghiệp, cây dược liệu, chăn thả gia súc và khai thác các lợi ích khác của rừng phù hợp với quy chế quản lý rừng sản xuất.

    2. Được tận dụng sản phẩm trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm hiện hành.

    3. Được khai thác lâm sản để giải quyết nhu cầu gia dụng (trừ những động vật, thực vật nằm trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm theo quy định của Chính phủ và danh mục động vật, thực vật ghi trong phụ lục công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES ). Nếu có nhu cầu làm nhà mới để tách hộ hoặc thay thế nhà cũ, sửa chữa lớn nhà ở cho mình tại xã nơi có rừng, hộ gia đình, cá nhân phải làm đơn gửi Uỷ ban nhân dân xã xác nhận, trình Uỷ ban nhân dân huyện xét duyệt, cấp giấy phép khai thác không quá 10 m3 gỗ tròn cho 1 hộ. Phải khai thác theo sự hướng dẫn và giám sát của xã. Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc khai thác gỗ làm nhà để buôn bán.

    4. Khi rừng được phép khai thác chính, hộ gia đình, cá nhân làm đơn xin phép khai thác gửi Uỷ ban nhân dân xã xem xét, trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn duyệt và cấp giấy phép khai thác. Việc khai thác phải tuân theo quy chế khai thác lâm sản hiện hành.

    Căn cứ vào hiện trạng rừng khi giao cho hộ gia đình, cá nhân, giá trị lâm sản khai thác chính sau khi nộp thuế được phân chia theo tỷ lệ như sau:

    a. Đối với rừng gỗ:

    - Rừng thứ sinh nghèo kiệt: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng 100%.

    - Rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác với cây gỗ có đường kính phổ biến dưới 20 cm: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 70% - 80%, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

    - Rừng có trữ lượng còn ở mức trung bình hoặc giầu, lớn hơn 100 m3/ha, từ lúc giao đến khi khai thác, mỗi năm Hộ gia đình, cá nhân được hưởng 2%, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

    b. Đối với rừng tre, nứa: được phép khai thác theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành. Sau khi nộp thuế, hộ gia đình, cá nhân được hưởng 95%, nộp ngân sách Nhà nước 5%.

    Điều 8. Hộ gia đình, cá nhân được giao rừng sản xuất là rừng trồng bằng vốn ngân sách Nhà nước:

    1. Được hưởng các quyền lợi quy định tại các khoản 1,2,3, Điều 7 của Quyết định này.

    2. Được phép khai thác khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và được hưởng từ 75 - 85% giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế, tuỳ theo cấp tuổi rừng trồng lúc được giao, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

    Điều 9. Hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy hoạch rừng sản xuất để gây trồng rừng:

    1. Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để trồng rừng theo quy định hiện hành.

    2. Nếu nhận vốn hỗ trợ của các dự án để gây trồng rừng thì được hưởng các quyền lợi theo quy định tại quy chế các dự án đó.

    3. Nếu tự bỏ vốn để trồng rừng thì được quyền tự quyết định mục đích và phương thức gây trồng rừng (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh hoặc trồng rừng mới), lựa chọn loài cây trồng, kỹ thuật trồng; được quyền tự quyết định việc khai thác và sử dụng lâm sản.

    4. Mọi sản phẩm khai thác từ rừng được tự do lưu thông.

    5. Được sử dụng một phần đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản nhưng không quá 20% diện tích đất được giao.

    Điều 10. Hộ gia đình, cá nhân được thuê đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy hoạch rừng sản xuất để gây trồng rừng:

    1. Được quyền tự quyết định mục đích và phương thức gây trồng rừng (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh hoặc trồng rừng mới), lựa chọn loài cây trồng, kỹ thuật trồng; được quyền tự quyết định việc khai thác và sử dụng lâm sản.

    2. Nếu hộ gia đình, cá nhân nhận vốn hỗ trợ của các dự án để gây trồng rừng thì được hưởng các quyền lợi theo quy định tại quy chế các dự án đó.

    3. Mọi sản phẩm khai thác từ rừng được tự do lưu thông.

    4. Được sử dụng một phần đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản nhưng không quá 20% diện tích đất chưa có rừng được thuê.

    Điều 11. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ để kinh doanh cảnh quan, du lịch, nghỉ dưỡng dưới tán rừng:

    1. Được sử dụng sinh cảnh của rừng để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng; được xây dựng cơ sở dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng dưới tán rừng theo dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    2. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; nghiêm cấm các hoạt động gây ô nhiễm và có hại đến sinh trưởng và phát triển bình thường của các loài động, thực vật rừng.

    Điều 12. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất lâm nghiệp có những nghĩa vụ sau đây:

    1. Quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp được giao, được thuê đúng mục đích, đúng ranh giới đã ghi trong quyết định giao, cho thuê đất lâm nghiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    2. Bảo toàn và phát triển vốn rừng được giao, được thuê. Phải thực hiện các biện pháp tái tạo rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

    3. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

    Chương 3

    QUYỀN HƯỞNG LỢI, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ĐƯỢC CÁC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC KHOÁN BẢO VỆ, KHOANH NUÔI TÁI SINH VÀ TRỒNG RỪNG

    Điều 13. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng đặc dụng:

    1. Được nhận tiền công khoán để trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh theo hợp đồng khoán.

    2. Được Ban quản lý Khu rừng đặc dụng tạo điều kiện tham gia các hoạt động dịch vụ, du lịch.

    Điều 14. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên ở những vùng phòng hộ đầu nguồn:

    1. Được nhận tiền công khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng theo hợp đồng khoán.

    2. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa.. ., trong quá trình bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng theo hướng dẫn của Bên giao khoán.

    3. Được khai thác cây gỗ chết khô, cây đổ gẫy, cây sâu bệnh, sản phẩm tỉa thưa theo thiết kế do Bên giao khoán lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Lâm sản nói trên được tự do lưu thông.

    4. Được khai thác tre, nứa với cường độ tối đa 30% khi rừng đảm bảo độ che phủ trên 80% diện tích nhận khoán theo sự hướng dẫn và giám sát của Bên giao khoán. Giá trị lâm sản thu được sau khi nộp thuế, hộ được hưởng từ 80 - 90%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    5. Được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn với cường độ khai thác không quá 20% khi rừng phòng hộ được phép khai thác theo thiết kế do Bên giao khoán lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Căn cứ vào hiện trạng rừng khi hộ gia đình, cá nhân nhận khoán, giá trị gỗ khai thác sau khi nộp thuế được phân phối như sau:

    - Rừng thứ sinh nghèo kiệt: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng 95%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    - Rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác với cây gỗ có đường kính phổ biến dưới 20 cm: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 75% - 85%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    - Rừng có trữ lượng còn ở mức trung bình hoặc giàu, lớn hơn 100m3/ha: từ lúc nhận khoán đến khi khai thác mỗi năm hộ gia đình, cá nhân được hưởng 2%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    Trường hợp hộ nhận khoán tự đầu tư vốn để khoanh nuôi phục hồi rừng được hưởng 100% giá trị gỗ khai thác sau khi nộp thuế.

    Hộ gia đình, cá nhân phải tự đầu tư tái tạo rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

    Điều 15. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ở vùng phòng hộ đầu nguồn:

    1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo quy định hiện hành.

    2. Được sử dụng cây nông nghiệp lâu năm làm cây trồng chính rừng phòng hộ hoặc trồng xen với cây rừng bản địa lâu năm theo thiết kế trồng rừng do Bên giao khoán lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

    3. Được hưởng 100% sản phẩm khai thác từ cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm tỉa thưa, nhưng phải đảm bảo độ tàn che của rừng trên 0,6 sau khi tỉa thưa.

    4. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa..., theo hướng dẫn của Bên giao khoán.

    5. Được sử dụng tối đa không quá 20% diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp theo sự hướng dẫn của Bên giao khoán.

    6- Được khai thác chọn khi cây trồng chính của rừng được phép khai thác với cường độ không quá 20% theo thiết kế do Bên giao khoán lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác.

    Giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế được phân chia theo tỷ lệ như sau:

    a. Nếu hộ gia đình, cá nhân nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì được hưởng từ 80 - 90%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    b. Nếu hộ gia đình, cá nhân nhận khoán tự đầu tư trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì được hưởng 100% giá trị sản phẩm sau khi nộp thuế.

    c. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán phải tự đầu tư tái tạo rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

    Điều 16. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán gây trồng, bảo vệ các khu rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường sinh thái:

    1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo quy định hiện hành.

    2. Được trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng và hưởng toàn bộ sản phẩm cây trồng xen.

    3. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa..., theo hướng dẫn của Bên giao khoán.

    4. Được tận thu lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

    5. Được khai thác khi rừng được phép khai thác theo thiết kế do Bên giao khoán lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Mỗi năm khai thác, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán được khai thác không quá 10% diện tích đã trồng thành rừng.

    Giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau:

    a. Nếu nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước để trồng và chăm sóc rừng thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 60 - 70%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    b. Nếu tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng 100% giá trị sản phẩm sau khi nộp thuế.

    Hộ gia đình, cá nhân phải tự đầu tư tái tạo lại rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

    Điều 17. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ ở vùng rừng ngập nước:

    1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng, chăm sóc theo quy định hiện hành.

    2. Được đánh bắt thuỷ, hải sản trên đất rừng nhận khoán theo sự hướng dẫn của Bên giao khoán; được tận thu lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

    3. Được sử dụng không quá 30% diện tích đất nhận khoán để kết hơp nuôi trồng thuỷ sản, nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới cây rừng, phải tuân theo quy hoạch của ngành, địa phương và sự hướng dẫn của Bên giao khoán.

    4. Được khai thác chọn khi rừng được phép khai thác với cường độ không quá 20% theo thiết kế do Bên giao khoán lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác.

    Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau:

    a. Nếu nhận vốn hỗ trợ của Nhà nước để trồng và chăm sóc rừng thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 80 - 90%, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    b. Nếu tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng 100% giá trị sản phẩm sau khi trừ thuế.

    Hộ gia đình, cá nhân phải tự đầu tư tái tạo lại rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

    Điều 18. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên:

    1. Được tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành; được khai thác lâm sản phụ.

    2. Được trồng xen các loại cây đặc sản rừng, cây nông nghiệp và chăn thả gia súc dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng nhưng không được làm ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của rừng.

    3. Khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác, Bên giao khoán thống nhất với hộ gia đình, cá nhân nhận khoán tiến hành khai thác theo thiết kế được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác.

    Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán được hưởng từ 1,5 - 2 % cho mỗi năm nhận khoán bảo vệ rừng, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    Điều 19. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán phục hồi rừng tự nhiên là rừng sản xuất bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung:

    1. Được Bên giao khoán cấp kinh phí để khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng theo quy định hiện hành.

    2. Được sản xuất nông, lâm kết hợp dưới tán rừng theo hướng dẫn của Bên giao khoán.

    3. Được tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

    4. Được khai thác khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác theo thiết kế do Bên giao khoán lập, Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác.

    Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán được hưởng từ 1,5 - 2% cho mỗi năm nhận khoán khoanh nuôi tái sinh rừng, phần còn lại nộp Bên giao khoán; nếu hộ gia đình, cá nhân nhận khoán tự đầu tư khoanh nuôi xúc tiến tái sinh thì được hưởng từ 2,5 - 3% cho mỗi năm nhận khoán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng.

    Điều 20. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất:

    1. Được Bên giao khoán cấp kinh phí trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo quy định hiện hành.

    2. Được trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng khi rừng chưa khép tán; được sản xuất nông, lâm kết hợp dưới tán rừng nhưng không được làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây rừng; được hưởng toàn bộ sản phẩm trồng xen.

    3. Được tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

    4. Khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác, Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán thống nhất với Bên giao khoán thời điểm và phương thức khai thác.

    Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán được hưởng từ 2 - 2,5 % cho mỗi năm nhận khoán bảo vệ rừng; phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    Nếu hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ thì được hưởng 95% giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế, phần còn lại nộp Bên giao khoán.

    Nếu Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán cùng đầu tư với Bên giao khoán thì phân phối theo tỷ lệ góp vốn và ngày công lao động của mỗi bên quy thành tiền.

    Điều 21. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng (trừ rừng đặc dụng) được phép sử dụng một phần đất nhận khoán không quá 200 m2 làm nhà ở để trông nom khu rừng nhận khoán, nhưng phải được Bên giao khoán thoả thuận bằng văn bản và phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân xã sở tại.

    Điều 22. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng có nghĩa vụ sau đây:

    1. Sử dụng rừng và đất lâm nghiệp nhận khoán đúng mục đích, đúng kế hoạch đã ghi trong hợp đồng khoán.

    2. Bán sản phẩm sản xuất ra trên đất nhận khoán theo hợp đồng khoán.

    3. Nếu vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho Bên giao khoán thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    Chương 4

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 23. Phần giá trị lâm sản nộp ngân sách theo quy định tại Quyết định này được để lại cho xã và chủ yếu được sử dụng vào việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Phần giá trị lâm sản nộp cho Bên giao khoán được sử dụng như sau:

    1. Đối với Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ và các tổ chức Nhà nước khác: là một khoản thu và chủ yếu được sử dụng vào việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

    2. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước: là khoản thu từ hoạt động kinh doanh lâm nghiệp, phục vụ trực tiếp cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

    Điều 24. Tổ chức thi hành:

    1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn thi hành Quyết định này.

    2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

    Điều 25. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký, những quy định trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ.

     

    Nguyễn Công Tạn

    (Đã ký)


    BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN-BỘ TÀI CHÍNH
    ********

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ********

    Số: 80/2003/TTLT-BNN-BTC

    Hà Nội , ngày 03 tháng 9 năm 2003

     

    THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

    CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - BỘ TÀI CHÍNH SỐ 80/2003/TTLT-BNN-BTC NGÀY 03 THÁNG 9 NĂM 2003 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH SỐ 178/2001/QĐ-TTG NGÀY 12/11/2001 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ QUYỀN HƯỞNG LỢI, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ĐƯỢC GIAO, ĐƯỢC THUÊ, NHẬN KHOÁN RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP

    Thi hành Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về "Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp" (Sau đây gọi là Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:

    I. QUY ĐỊNH CHUNG

    1. Đối tượng và phạm vi áp dụng

    - Hộ gia đình, cá nhân (sau đây gọi là hộ gia đình) được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

    Hộ gia đình được các tổ chức Nhà nước khoán bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng theo Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước.

    2. Giải thích từ ngữ và khái niệm

    Các từ ngữ và khái niệm trong Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu như sau:

    a. Hiện trạng rừng

    Hiện trạng rừng là trạng thái rừng tại thời điểm hộ gia đình được giao, được thuê hoặc nhận khoán, gồm:

    - Rừng thứ sinh nghèo kiệt quy định tại Mục a Khoản 4 Điều 7; Khoản 5 Điều 14 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu là nhóm chưa có rừng do rừng đã bị khai thác kiệt quệ, hoặc đã khai thác từ lâu nhưng chưa được phục hồi, phần lớn chỉ có cỏ, cây bụi, hoặc cây gỗ, tre mọc rải rác với độ che phủ dưới mức 0,3 thuộc trạng thái đất trống IC quy định tại Quyết định số 682/QĐKT, ngày 01 tháng 8 năm 1984 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về việc ban hành bản quy phạm thiết kế kinh doanh rừng (sau đây gọi là Quyết định số 682/QĐKT).

    Rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác quy định tại Mục a Khoản 4 Điều 7; Khoản 5 Điều 14 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu 1à rừng phục hồi sau nương rẫy bởi lớp cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh đều tuổi, 1 tầng, đường kính nhỏ hoặc sau khai thác kiệt, còn sót tại một số cây gỗ nhưng phẩm chất xấu, trữ lượng không đáng kể, đường kính phổ biến không vượt quá 20cm, thuộc trạng thái rừng loại IIA, IIB, IIIA1 quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.

    - Rừng có trữ lượng ở mức trung bình hoặc giàu quy định tại Mục a Khoản 4 Điều 7; Khoản 5 Điều 14 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg được hiểu như sau:

    Rừng có trữ lượng ở mức trung bình là rừng thứ sinh đã bị chặt chọn nhưng chưa làm thay đổi đáng kể cấu trúc của rừng hoặc phát triển từ rừng phục hồi sau khai thác, sau nương rẫy đã có một số cây có đường kính lớn (trên 35cm) có thể khai thác sử dụng. Trữ lượng trung bình trên 100 m3/ha, thuộc trạng thái rừng loại IIIA2 và IIIA3 quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.

    Rừng có trữ lượng ở mức giàu là rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh thành thục cho đến nay chưa được khai thác sử dụng, có cấu trúc ổn định, nhiều tầng, hoặc rừng đã bị chặt chọn lấy ra một ít gỗ quý, gỗ tốt nhưng chưa làm thay đổi đáng kể về cấu trúc của rừng, khả năng cung cấp của rừng còn nhiều, trữ lượng bình quân trên 150m3/ha, thuộc trạng thái rừng loại IVA, IVB và IIIB quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.

    Các trạng thái rừng được nêu tại điểm a Khoản 2 Mục I Thông tư này áp dụng cho loại rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá.

    Đối với loại rừng khộp và các loại rừng khác, UBND cấp tỉnh quy định cụ thể từng loại trạng thái rừng theo quy định tại Quyết định số 682/QĐKT.

    b. Rừng ngập nước: Là loại rừng được hình thành ở các vùng đất ngập mặn, vùng đất ướt, vùng đất chua phèn, có các loại cây như: Đước, Tràm, Sú, Vẹt, Mắm....

    c. Cây phù trợ: Là cây trồng xen, hỗ trợ cây trồng chính theo mật độ nhất định, gồm các loài cây mọc nhanh, cây có tác dụng vừa cải tạo đất vừa có hiệu quả kinh tế.

    3. Bên giao, khoán

    a. Bên giao: Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp huyện giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

    b. Bên giao khoán: Là các tổ chức Nhà nước được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, gồm: Lâm trường quốc doanh, Nông trường quốc doanh, Ban quản lý khu rừng đặc dụng, Ban quản lý khu rừng phòng hộ, Công ty, Xí nghiệp, Trạm, Trại lâm nghiệp..., đã tiến hành giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng thông qua hợp đồng khoán.

    Trường hợp diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê, UBND xã sở tại chịu trách nhiệm quản lý đã ký hợp đồng khoán cho hộ gia đình để bảo vệ rừng thì hộ gia đình và UBND xã cũng được hưởng lợi từ rừng theo quy định tại Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

    4. Lâm sản khai thác chính

    Lâm sản khai thác chính để phân chia giữa hộ gia đình với bên giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp được quy định như sau:

    a. Đối với rừng sản xuất: Lâm sản khai thác chính là lâm sản thu được sau khi tiến hành khai thác những khu rừng đã đến tuổi khai thác. Trong trường hợp hộ gia đình được giao hoặc nhận khoán trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng có nguồn thu chủ yếu từ rừng là sản phẩm hàng năm: nhựa, quả, hạt, hoa thì sản phẩm khai thác chính là sản lượng nhựa, quả, hạt, hoa thu hoạch được hàng năm.

    b. Đối với rừng phòng hộ: Lâm sản khai thác chính là lâm sản thu được sau khi tiến hành khai thác những khu rừng đã đáp ứng yêu cầu phòng hộ theo quy định hiện hành.

    5. Nhà nước giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình được quy định tại các Điều 4, 5, 7 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg là giao rừng cho hộ gia đình để quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng theo quy chế quản lý của từng loại rừng.

    Rừng tự nhiên được giao là tài nguyên quốc gia, không phải là tài sản của hộ gia đình; hộ gia đình chỉ được hưởng lợi ích từ rừng tuỳ theo hiện trạng rừng khi giao, thời gian, tiền của và công sức mà hộ gia đình đã đầu tư vào rừng.

    6. Quyền hưởng lợi của hộ gia đình được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.

    Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp là những lợi ích từ rừng mà người được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp được hưởng, gồm:

    a. Gỗ: Bao gồm gỗ được phép khai thác để làm nhà mới hoặc thay thế nhà cũ, sửa chữa lớn nhà ở cho mình tại xã nơi có rừng theo quy định tại khoản 3 Điều 7, Khoản 2 Điều 8; gỗ thu được khi thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh; gỗ được phân chia khi thực hiện khai thác chính theo quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8, 9, 14, 15, 16, 17, 18, 19 và 20 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

    b. Củi: Bao gồm những cây gỗ chết khô, cây đổ gãy, cây sâu bệnh, cành, ngọn không thể tận dụng làm gỗ mà hộ gia đình được thu hái làm củi đun theo quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8, 9, 14, 15, 16, 17, 18, 19 và 20 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

    c. Lâm sản ngoài gỗ, như: tre, nứa, vầu, lồ ô, giang, dùng, măng các loại mây, hèo, quả, các loại lá, vỏ cây nhựa, hạt, cây thuốc v.v... (trừ những động vật, thực vật nằm trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm theo quy định của Chính phủ và danh mục động vật, thực vật ghi trong phụ lục công ước quốc tế CITES ).

    d. Sản phẩm nông nghiệp trồng xen, nuôi trồng thuỷ sản, vật nuôi.

    đ. Dịch vụ du lịch

    e. Chi phí công trả bằng tiền (nếu có)

    h. Được sử dụng một phần diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng được giao hoặc nhận khoán để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp, nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới cây rừng, phải tuân theo quy hoạch ngành, địa phương hoặc sự hướng dẫn của Bên giao khoán; hộ nhận khoán được phép sử dụng không quá 200m2 làm lán trại tạm để trông nom khu rừng trong thời gian nhận khoán, nhưng phải được Bên giao khoán thoả thuận bằng văn bản và phải đăng ký với UBND xã sở tại.

    7. Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình chỉ được thực hiện trong thời hạn được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp và được quyền thừa kế theo quy định của pháp luật.

    II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ QUYỀN HƯỞNG LỢI CỦA HỘ GIA ĐÌNH ĐƯỢC GIAO, NHẬN KHOÁN RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP

    1. Phân chia sản phẩm khai thác chính giữa hộ gia đình với bên giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp

    1.1. Căn cứ phân chia sản phẩm khai thác chính hộ gia đình được hưởng.

    UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của từng địa phương trong tỉnh, tình trạng rừng khi giao hoặc khoán cho hộ gia đình, quy định cụ thể mức tỷ lệ sản phẩm khai thác chính hộ gia đình được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp được hưởng trong khung tỷ lệ quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

    Trường hợp hộ gia đình được giao, nhận khoán trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng có nguồn thu sản phẩm hàng năm như: nhựa, quả, hạt, hoa thuộc quy hoạch rừng phòng hộ thì do UBND cấp tỉnh quy định mức hưởng lợi

    - Lâm sản để phân chia giữa hộ gia đình với bên giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp là khối lượng lâm sản thực tế khai thác và tập trung tại bãi giao (hoặc kho) lâm sản.

    Bãi giao (hoặc kho) lâm sản là địa điểm tập trung lâm sản sau khi khai thác và vận xuất, nơi các phương tiện vận chuyển có thể vào để vận chuyển lâm sản, UBND cấp tính quy định địa điểm bãi giao.

    1.2. Hình thức phân chia lâm sản

    Phân chia lâm sản giữa hộ gia đình với bên giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp được quy định trong quyết định giao hoặc hợp đồng khoán rừng và đất lâm nghiệp và áp dụng một trong 3 hình thức sau:

    a. Đối với hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp (Hình thức I)

    Hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp được quy định tại các Khoản 5 Điều 5, Khoản 5 Điều 6, Khoản 4 Điều 7, Khoản 2 Điều 8 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, khi phân chia sản phẩm khai thác chính, hộ gia đình được nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao và phải nộp vào Ngân sách Nhà nước khoản tiền tương ứng với số lâm sản được phân chia và các khoản thuế theo quy định hiện hành.

    Khoản tiền phải nộp Ngân sách xã khi phân chia sản phẩm (không gồm các tại bãi giao khoản thuê)

    =

    Khối lượng lâm sản khai thác

    x

    Giá cây đứng

    x

    Tỷ lệ phải nộp Ngân sách xã

    - Khoản tiền phải nộp Ngân sách xã khi phân chia sản phẩm: Là giá trị lâm sản phải nộp Ngân sách xã, không bao gồm các khoản thuế phải nộp theo quy định hiện hành như: Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên...

    - Khối lượng lâm sản khai thác tại bãi giao: Là khối lượng lâm sản thực tế đã khai thác tại bãi giao (hoặc kho) lâm sản.

    - Giá cây đứng: Là giá lâm sản đến tuổi thành thục công nghệ có thể khai thác sử dụng do UBND cấp tỉnh quy định ở thời điểm khai thác lâm sản.

    - Tỷ lệ phải nộp Ngân sách xã: Là tỷ lệ phân chia phải nộp Ngân sách xã do UBND cấp tỉnh quy định trong khung tỷ lệ theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

    Ngoài khoản tiền phải nộp Ngân sách xã khi phân chia sản phẩm, hộ gia đình còn phải nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.

    Ví dụ: Giả sử hộ gia đình được giao rừng tự nhiên là rừng sản xuất thuộc loại rừng phục hồi sau khai thác. Hộ gia đình khai thác và vận xuất gỗ ra bãi giao với khối lượng là 30m3/ha. Giá cây đứng (nhóm V) là 650.000 đ/m3. Giá gỗ tại bãi giao 1.000.000 đ/m3, thuế tài nguyên 15%. Hộ gia đình được hưởng 80% giá trị sản phẩm khai thác, Ngân sách xã hưởng 20% giá trị sản phẩm khai thác.

    Hướng dẫn cách tính như sau:

    (1) Khoản tiền phải nộp Ngân sách xã.

    30m3 x 650.000 đ x 20% = 3.900.000 đ/ha

    (2) Thuế tài nguyên: 30m3 x 1.000.000 đ x 15% = 4.500.000 đ/ha

    (3) Số tiền bán gỗ tại bãi giao: 30m3 x 1.000.000 đ = 30.000.000 đ/ha

    (4) Khoản tiền hộ gia đình được hưởng:

    30.000.000 đ - 4.500.000 đ - 3.900.000 đ = 21.600.000 đ/ha

    b. Đối với hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

    Hình thức II: Bên Giao khoán (hoặc hộ gia đình) nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao và trả cho hộ gia đình (hoặc bên Giao khoán) bằng tiền tương ứng với số lâm sản mà hộ gia đình (hoặc bên Giao khoán) được hưởng. Bên nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao phải chịu trách nhiệm nộp thuế theo quy định hiện hành.

    Hình thức III: Bên Giao khoán và hộ gia đình nhận sản phẩm được phân chia tại bãi giao theo tỷ lệ quy định. Các bên chịu trách nhiệm nộp thuế theo quy định hiện hành tương ứng với phần lâm sản mà mỗi bên được hưởng.

    Ví dụ: Giả sử hộ gia đình nhận khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ. Hộ gia đình khai thác và vận xuất gỗ ra bãi giao là 24m3/ha. Giá cây đứng (nhóm V) là 600.000 đ/m3. Giá gỗ tại bãi giao là: 950.000 đ/m3. Thuế tài nguyên 15%. Hộ gia đình được hưởng lợi 85% giá trị sản phẩm khai thác, bên giao khoán hưởng 15% Hộ gia đình nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao.

    Hướng dẫn cách tính như sau:

    (1) Khoản tiền phải nộp cho bên giao khoán

    24m3 x 600.000 đ x 15% = 2.160.000 đ/ha

    (2) Thuế tài nguyên: 24m3 x 950.000 đ x 15% = 3.420.000 đ/ha

    (3) Số tiền bán gỗ tại bãi giao:

    24m3 x 950.000 đ = 22.800.000 đ/ha

    (4) Khoản tiền hộ gia đình được hưởng:

    22.800.000 đ - 3.420.000 đ - 2.160.000 đ = 17.220.000 đ/ha.

    2. Quản lý chi phí khai thác lâm sản

    a. Hộ gia đình được giao hoặc nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp khi được phép khai thác chính được tự tổ chức khai thác lâm sản hoặc thuê khai thác theo các quy trình, quy phạm và quy chế khai thác gỗ, lâm sản hiện hành.

    b. Hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp phải chịu toàn bộ chi phí liên quan đến khai thác lâm sản, bao gồm cả chi phí khai thác liên quan đến phần lâm sản nộp Ngân sách Nhà nước.

    c. Hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp chịu chi phí khai thác liên quan đến phần lâm sản mà hộ gia đình được hưởng.

    3. Quản lý và sử dụng sản phẩm được phân chia

    a. Đối với hộ gia đình: Được phép sử dụng và tiêu thụ phần sản phẩm được phân chia, bao gồm: Phần sản phẩm được hưởng khi phân chia sản phẩm khai thác chính; phần sản phẩm của bên giao khoán mà hộ gia đình đã trả cho bên giao khoán bằng tiền tương ứng với số sản phẩm đó; Phần sản phẩm thu hoạch được từ rừng: tỉa thưa, cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm nông - ngư nghiệp kết hợp.

    b. Đối với doanh nghiệp Nhà nước (Lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp nhà nước có sử dụng đất lâm nghiệp).

    Trường hợp doanh nghiệp Nhà nước nhận bằng sản phẩm khi phân chia sản phẩm thì tiền bán số sản phẩm đó là doanh thu của doanh nghiệp.

    Trường hợp doanh nghiệp Nhà nước nhận bằng tiền khi phân chia sản phẩm thì khoản thu đó là thu nhập hoạt động đầu tư tài chính và hạch toán vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp.

    Chi phí giao khoán rừng và đất lâm nghiệp và chi phí khác có liên quan đến tiêu thụ số sản phẩm được phân chia hạch toán vào chi phí kinh doanh và chi phí hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp.

    Việc quản lý, sử dụng các khoản thu trên của doanh nghiệp Nhà nước thực hiện theo Thông tư số 63/1999/TT-BTC của Bộ Tài chính về quản lý doanh thu, giá thành và Thông tư số 109/2000/TTLT/BNN-BTC ngày 20/10/2000 của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc doanh.

    c. Đối với Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng

    Thu nhập từ tiêu thụ phần sản phẩm được phân chia và khoản thu của Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng.

    Chi phí khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng, chi phí liên quan đến phần lâm sản được phân chia và các chi phí khác hạch toán vào chi sự nghiệp của Ban quản lý khu rừng phòng hộ, Ban quản lý khu rừng đặc dụng.

    Việc quản lý, sử dụng các khoản thu trên đối với Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng được thực hiện theo Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.

    d. Đối với giá trị lâm sản nộp Ngân sách Nhà nước

    Giá trị lâm sản của hộ gia đình nộp Ngân sách Nhà nước khi phân chia lâm sản là nguồn thu của Ngân sách xã để sử dụng vào các công việc sau:

    - Hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng.

    - Trợ cấp cán bộ lâm nghiệp, cán bộ kiểm lâm công tác trên địa bàn xã.

    - Hỗ trợ công tác khuyến lâm

    4. Cấp phát kinh phí trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng

    Hộ gia đình được giao rừng đặc dụng, rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ khoanh nuôi tái sinh; được giao, được thuê đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy hoạch rừng phòng hộ được quy định tại các Điều 4, 5, 6 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, được Ngân sách cấp kinh phí theo Thông tư số 43/2002/TT-BTC, ngày 7/5/2002 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quản lý, cấp phát vốn ngân sách cho dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng.

    5. Quy định quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân trong một số dự án như sau:

    5.1. Hộ gia đình nhận vốn hỗ trợ của chương trình PAM được hưởng 1ợi theo quy định tại Quyết định số 145/1998/QĐ-TTg, ngày 15/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách quản lý và sử dụng rừng trồng được hỗ trợ từ chương trình lương thực thế giới (PAM).

    5.2. Hộ gia đình nhận vốn hỗ trợ của Cộng hoà liên bang Đức được hưởng lợi theo quy định tại Quyết định số 162/1999/QĐ-TTg ngày 07/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình, cá nhân tham gia trồng rừng bằng nguồn tài trợ của Cộng hoà Liên bang Đức.

    5.3. Hộ gia đình nhận vốn hỗ trợ của dự án khu vực lâm nghiệp về quản lý rừng đầu nguồn được hưởng lợi theo quy định tại Quyết định số 141/2000/QĐ-TTg ngày 11/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư và tín dụng đối với hộ gia đình, cá nhân và các xã tham gia dự án khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng đầu nguồn tại Thanh Hoá, Quảng Trị, Phú Yên và Gia Lai theo hiệp định tín dụng số 1515-VIE (SF) và Quyết định số 28/2001/QĐ-TTg ngày 09/3/2001 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 141/2000/QĐ-TTg ngày 11/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 47/TT-BNN Về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 141/2000/QĐ-TTg ngày 11/12/2000 và Quyết định số 28/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ.

    III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương trong tỉnh có văn bản hướng dẫn cụ thể về mức hưởng lợi đối với hộ gia đình được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp đối với sản phẩm khai thác chính trong khung tỷ lệ được quy định tại Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg.

    2. Hộ gia đình được Nhà nước giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 12 và Điều 22 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    UBND cấp huyện chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc tái tạo lại rừng của các hộ gia đình.

    3. Cơ quan Địa chính chủ trì phối hợp với cơ quan Kiểm lâm và cơ quan Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng cấp chịu trách nhiệm thực hiện giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho hộ gia đình.

    Đối với hộ gia đình được Nhà nước giao đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, ngoài việc làm thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng dẫn tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cần bổ sung ghi rõ trạng thái rừng khi giao theo quy định tại Quyết định số 682/QĐKT để làm cơ sở phân chia hưởng lợi từ rừng.

    Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng trên công báo.

    Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc cần kịp thời có văn bản báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính để xem xét giải quyết.

     

    Bùi Bá Bổng

    (Đã ký)

    Trần Văn Tá

    (Đã ký)

     
    Báo quản trị |  
  • #20535   15/12/2008

    fanthitri
    fanthitri

    Sơ sinh

    Bình Thuận, Việt Nam
    Tham gia:26/11/2008
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai 2 mẫu khai 6 sào

    Xin chào!
    Hiện gia đình tôi đang sử dụng diện tích đất nông nghiệp là 2mẫu đất.Trước đó vì đánh thuế cao nên gia đình tôi đã khai với diện tích là 6 sào(lúc đó mọi người điều khai như trên để giảm bớt thuế).Hiện nay khi đăng kí GCNQSDĐ thì chỉ nhận được GCN diện tích là 6 sào đất nên gia đình tôi không nhận giấy chứng nhận đó.Sau đó gia đình tôi có làm đơn và được cán bộ địa chính đo đạc lại chính xác là 2 mẫu đất.Vì vậy gia đình tôi yêu cầu cấp lại GCNQSDĐ thì không được chấp nhận mà nhận được câu trả lời:khi kéo mảnh bản đồ sẽ bị chồng lên diện tích phần đất người bên cạnh.Do đó không được cấp lại GCNQSDĐ.Như vậy gia đình tôi phải làm như thế nào thì mới cấp lại GCN đúng diện tích trên.Theo thông tin là đến năm 2013 sẽ hết hạn sử dụng đất nông nghiệp như vậy nếu gia đình tôi không được cấp giấy chứng nhận thì thời hạn sử dụng đất của gia đình tôi sẽ giải quyết như thế nào?
    Mong tư vấn cho tôi.Tôi xin chân thành cảm ơn.
     
    Báo quản trị |  
  • #20536   15/12/2008

    phongdatdai
    phongdatdai
    Top 500
    Chồi

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:16/07/2008
    Tổng số bài viết (260)
    Số điểm: 1230
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Nếu hiện ông vẫn đang sử dụng thửa đất nêu trên thì chứng tỏ việc cấp giấy chứng nhận cho người khác đã có sai sót. Ông nên làm đơn gởi Thanh tra huyện nơi có đất để làm rõ việc cấp giấy chứng nhận cho người kế cận ông là đúng hay sai. Nếu có kết luận của Thanh tra huyện việc cấp giấy đó là sai, UBND huyện sẽ ban hành quyết định thu hồi giấy chứng nhận đó. Sau đó sẽ tiến hành cấp giấy chứng nhận cho người đang sử dụng đất theo trình tự, thủ tục quy định.
    Người sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức khi hết thời hạn được tiếp tục sử dụng đất nếu phù hợp với quy hoạch sử dụng đất (Điều 67 Luật ĐĐ) mà không cần phải xin gia hạn gì cả.
     
    Báo quản trị |  
  • #25394   02/12/2008

    vanltn
    vanltn

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/12/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Hùn chung mua đất

    Tôi có hùn chung với người bạn mua 1 nền dất, tôi đứng tên trên sổ đỏ đó. Do tôi đứng tên nên người bạn của tôi muốn giữ sổ cho yên tâm. vậy khi tôi đưa sổ thì phải làm hồ sơ gì cho người bạn tôi ký.
    xin chân thành cảm ơn.
    tôi xin gửi câu trả lời về địa chỉ email: vanltn@phathung.com
     
    Báo quản trị |  
  • #25395   02/12/2008

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 278 lần
    Lawyer

    HÙN TIỀN MUA ĐẤT

    Bạn nên làm tờ thỏa thuận và 2 người cùng ký vào đó, mỗi người giữ một bản.Nếu sau này có tranh chấp thì căn cứ vào đó mà phân xử.Nếu bạn cần tư vấn gì thêm vui lòng liên hệ: VPLS LÊ VĂN, 131 Thống Nhất, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, Tp. HCM, ĐT: 0909886635, tôi sẽ giúp bạn.

    Luật sư Lê Văn Hoan

    Trưởng VPLS Lê Văn

    131 đường Thống Nhất, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, Tp. HCM

    ĐT: 08 38960 937; 0909886635; email:lvhoan@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #20604   16/02/2009

    ThanhBinhqn
    ThanhBinhqn

    Sơ sinh

    Quảng Ngãi, Việt Nam
    Tham gia:03/12/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Chuyển mục đích sử dụng đất

    Tôi có giấy chứng nhận QSDĐ do UBND tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 18/12/2001 với tổng diện tích 818,2m2, trong đó:
    - Có ghi 200m2 đất thổ cư, thời hạn sử dụng lâu dài.
    - 618,2m2 đất vườn, thời hạn lâu sử dụng đến tháng 12/2021.
    Lô đất của tôi nằm trong khu dân cư và được phép chuyển mục đích sang đất ở toàn bộ.
    Bây giờ tôi muốn chuyển toàn bộ sang đất ở (618,2m2, trong đó còn 100m2 đất trong hạn mức chưa được công nhận là đất ở) thì trình tự và thủ tục chuyển như thế nào, tôi phải nộp tiền chuyển mục đích sử dụng (vườn -> ở) là bao nhiêu, tiền thuế, lệ phí và các khoản nào khác?
    Kính mong các anh chị tư vấn giúp tôi với. Xin chân thành cám ơn.
     
    Báo quản trị |  
  • #20605   04/12/2008

    nqtrang
    nqtrang
    Top 200
    Lớp 1

    Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam
    Tham gia:02/10/2008
    Tổng số bài viết (381)
    Số điểm: 2462
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 25 lần


    Hạn mức đất ở được qui định cho nông thôn và thành thị, nên giữa nông thôn và thành thị  thì  có hạn mức đất ở qui định cho từng hộ gia đình, khi chuyển mục đích sử dụng đất thì khoản tiền phải nộp căn cứ vào vị trí, giá đất mà địa phương nơi có diện tích đất cần chuyển qui định, nên bạn tham khảo quyết định của UBND tỉnh Quảng Ngãi qui định về giá đất
     
    Báo quản trị |  
  • #20606   05/12/2008

    phankimyen
    phankimyen

    Sơ sinh

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:15/09/2008
    Tổng số bài viết (27)
    Số điểm: 120
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin được nói thêm về thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất:                                        $0      Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất thì đối với hộ gia đình cá nhân chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở sang làm đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất.             Bảng giá đất của mỗi tỉnh thì do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định.$0 $0 VD: Diện tích chuyển mục đích 100 m2$0 $0   Giá đất hiện tại quy định tại khu vực của bạn     $0 $0        + Đất nông nghiệp 20.000đ/m2    $0 $0        + Đất ở 1.200.000đ/m2$0 $0Số tiền phải đóng = 50% x(1.200.000-20.000)x 100 + phí và lệ phí khác theo quy định. $0
     
    Báo quản trị |  
  • #20607   16/02/2009

    vank02
    vank02

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/02/2009
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    chuyển mục đích sử dụng đất ?

    nhà tôi có một mảnh đất sử dụng trước năm 1980, là đất nông nghiệp trong đó có 1 phần đất ở. nay tôi muốn chuyển toàn bộ phần đất nông nghiệp đó sang đất ở. tôi có phải đóng tiền chuyển mục đích sử dụng đất không?
     
    Báo quản trị |  
  • #20612   05/12/2008

    DTRI
    DTRI

    Sơ sinh

    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:11/11/2008
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 15
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bằng khóan điền thổ cấp 1934 có còn giá trị không?

    Xin hỏi Bằng khóan điền thổ cấp năm 1934 có được xem là một trong các lọai giấy tờ thuộc khỏan 1 Điều 50 của luật đất đai năm 2003 không và có thể căn cứ vào bằng khóan này để khởi kiện đòi lại đất cho ở đậu từ năm 1960 tòa án có thụ lý không?

     Phụ ghi:

     Vào năm 1986 người ở đậu có viết tờ cam kết với gia đình tôi cho sửa nhà trên phần đất ở đậu ( giấy chỉ một mình người ở đậu ký, không xác nhận địa phương) người cam kết đã chết, con họ tiếp tục sử dụng đến nay. Khi gia đình tôi đưa ra giấy cam kết các người con phủ nhận việc cha họ ký cam kết. vậy tờ cam kết này có giá trị để tôi đòi lại đất không.

     Cám ơn.  

     
    Báo quản trị |