DanLuat 2015

Quyền đối với tài sản trên đất cho thuê

Chủ đề   RSS   
  • #522645 03/07/2019

    Quyền đối với tài sản trên đất cho thuê

    Tôi là chủ 1 lô đất cho thuê.

    1. Từ 01/5/2011 đến 01/5/2016: Tôi cho chị A thuê mặt bằng đất ( Hợp đồng có công chứng), tôi ký đơn xác nhận cho chị A cùng em trai là anh B xây dưng nhà xưởng trên mặt bằng ( Đơn này không được công chứng). Trong Hợp đồng thuê mặt bằng có điều khoản ghi: Tháo dỡ tài sản và trả lại nguyên trạng sau khi hết hợp đồng 1 tháng. Nhưng khi hết hạn Hợp đồng thuê mặt bằng đất chị A không cho tháo dỡ.
    2. Từ 01/6/2016 đến 01/06/2018: Chị A và anh B xin gia hạn Hợp đồng thuê mặt bằng đất thêm 02 năm để bù vào chi phí xây dựng nhà xưởng trước đó và được sự đồng ý của tôi bằng Hợp đồng cho thuê mặt bằng đất ( Hợp đồng không công chứng), trong bản Hợp đồng này có ghi rõ chị A và anh B là chủ của tài sản trên đất của tôi và cũng có điều khoản: Trả lại đất đúng tình trạng như khi nhận sau khi hết thời hạn thuê, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Sau khi hết hạn Hợp đồng tôi đã yêu cầu chị A và anh B tháo dỡ nhà xưởng, sau đó 2 bên thống nhât quan điểm với nhau là không dỡ nhà xưởng ( Thống nhất bằng miệng và ko có văn bản).
    3. Từ 11/6/2019 đến 11/6/2022: Tôi cho anh C thuê mặt bằng đất ( trên đất có nhà xưởng do chị A và anh B xây dựng), sau đó anh C xin phép xây dựng thêm và tôi đã đồng ý, hiện tại anh C đang sử dụng để kinh doanh.

    Nhưng đến thời điểm hiện tại khi tôi đang thực thi Hợp đồng cho thuê đất với anh C và cho anh C xây dựng thêm thì chị A và anh B liên hệ nhắn tin đòi tháo dỡ nhà xưởng mà họ xây dựng từ thời điểm hợp đồng 01/5/2011 đến 01/5/2016 với nội dung uy hiếp muốn tôi phải hợp tác trong việc chia phí cho anh C thuê đất. Kính mong Thư viện pháp luật tư vấn giúp tôi cách giải quyết và trình tự hợp pháp để giải quyết vấn đề này. Xin trân thành cảm ơn! ( Mong nhận được sự tư vấn sớm nhất)

     

     
    482 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phanquy0602 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (10/07/2019)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #522984   09/07/2019

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1408)
    Số điểm: 7951
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 487 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 105 và Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

    “Điều 105. Tài sản

    1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

    2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

    Điều 106. Đăng ký tài sản

    1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.

    2. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.

    3. Việc đăng ký tài sản phải được công khai”

    Và Khoản 15, 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:

    “...15. Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính.

    16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất...”

    Như vậy, theo quy định pháp luật nêu trên thì đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì buộc phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xác định một cá nhân, đơn vị nào đó là người có quyền thì họ sẽ căn cứ vào giấy chứng nhận đầu tiên. Do đó, với thông tin bạn đưa ra thì quyền sử dụng mảnh đất này là của bạn. Người khác, tạm gọi là A và B là người có thuê quyền sử dụng xây dưng nhà xưởng trên mảnh đất này.

    Cũng theo thông tin bạn đưa ra thì khi hết hạn hợp đồng thuê đất A và B phải tháo dỡ tài sản và trả lại nguyên trạng sau khi hết hợp đồng 1 tháng. Nhưng khi hết hạn Hợp đồng thuê mặt bằng đất chị A không cho tháo dỡ,  trong khi đó bạn lại tiếp cho anh C thuê mặt bằng đất( trên đất có nhà xưởng do chị A và anh B xây dựng), sau đó anh C xin phép xây dựng thêm và tôi đã đồng ý, hiện tại anh C đang sử dụng để kinh doanh. Có nghĩa, nhà xưởn này là của đất A và B đã xây dựng trước đó, hiện C đã sửa chữa, cải tạo hoặc xây dựng mới nhà xưởng này? Nếu đúng như vậy thì khi C có nhu cầu xây dựng, sửa chữa, cải tạo căn nhà này buộc bạn, gia đình bạn sẽ xin phép A, nếu A không đồng ý thì việc bạn hay gia đình bạn làm gì trên mảnh đất này đều được coi là xâm phạm quyền sử dụng của Bạn, cụ thể Điều 190 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

    "Điều 190. Quyền sử dụng của chủ sở hữu

    Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác."

    Tuy nhiên bạn và gia đình bạn cũng có thể xem xét thêm mình có quyền được cải tạo, sửa chữa, xây dựng nhà và việc A, B có thể lấy lại tài sản trên đất khi dựa vào các thỏa thuận, giấy tờ mà gia đình bạn ký với A, bởi Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về các thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

    Như vậy, trong trường hợp này, ai là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể thương lượng để giải quyết. Trong trường hợp hòa giải không thành, gia đình bạn có thể nộp đơn lên Tòa án cấp huyện nơi có mảnh đất đó để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (10/07/2019)

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.