Quy định về xử lý nhân viên tự ý nghỉ việc?

Chủ đề   RSS   
  • #542047 27/03/2020

    phungpham1973
    Top 150
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/01/2019
    Tổng số bài viết (452)
    Số điểm: 12700
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 132 lần


    Quy định về xử lý nhân viên tự ý nghỉ việc?

    công nhân nghỉ việc ngang đã quá 5 ngày không liên lạc báo lại, trường hợp như vậy bên mình có được sa thải hay không, và nhân viên đó có được lãnh lương những ngày làm việc không?

     
    3192 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #542053   27/03/2020

    minhpham1995
    minhpham1995
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:21/10/2017
    Tổng số bài viết (1157)
    Số điểm: 9154
    Cảm ơn: 9
    Được cảm ơn 176 lần


    1. Vấn đề ra quyết định sa thải:

    Để áp dụng hình thức sa thải thì cần phải đáp ứng đủ các điều kiện:

    - Người lao động vi phạm một trong các hành vi tại Điều 126 Bộ luật lao động 2012;

    - Trong nội quy của doanh nghiệp có quy định hành vi đó áp dụng hình thức kỷ luật sa thải;

    - Tuân thủ quy định xử lý kỷ luật lao động theo Điều 123 Bộ luật lao động và Khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP.

    Vi phạm một trong 3 điều trên thì quyết định sa thải sẽ không đúng quy định pháp luật, nếu có tranh chấp thì pháp luật cũng sẽ không công nhận.

    Theo đó, tại Khoản 3 Điều 126 Bộ luật lao động 2012 và khoản 2 Điều 31 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Khoản 13 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP:

    "Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

    Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

    ...

    3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

    ...

    Điều 31. Kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc

    ...

    2. Người lao động nghỉ việc có lý do chính đáng trong các trường hợp sau:

    a) Do thiên tai, hỏa hoạn;

    b) Bản thân, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố vợ, mẹ vợ, bố chồng, mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp bị ốm có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

    c) Các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

    => Như vậy, căn cứ các quy định trên nếu trong nội quy công ty có quy định về hành vi tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc cộng dồn trong vòng 01 tháng không có lý do chính đáng sẽ áp dụng biện pháp sa thải kết hợp cùng Khoản 13 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP thì doanh nghiệp có quyền áp dụng hình thức kỷ luật là sa thải.

    2. Về phần tiền lương chưa nhận: Công ty có trách nhiệm chi trả tiền lương cho những ngày công nhân đó đã làm việc, và thông báo cho công nhân đó tới nhận.

     
    Báo quản trị |  
  • #542075   27/03/2020

    lananh8998
    lananh8998
    Top 150
    Female
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/11/2019
    Tổng số bài viết (432)
    Số điểm: 2957
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 66 lần


    Về vấn đề thắc mắc của bạn, theo quan điểm cá nhân của mình thì:

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động 2012:

    "Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

    Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

    3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

    Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

    Như vậy, nếu không có lý do chính đáng thì người sử dụng lao động có thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động nêu trên. 

    Khi đó, người lao động sẽ bị chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 8 Điều 36 Bộ luật Lao động 2012. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động là trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

     
    Báo quản trị |  
  • #542149   29/03/2020

    Theo quy định tại khoản 3 Điều 126 Bộ luật lao động 2012 thì người lao động bị áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trong các trường hợp sau đây:

    -  Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

    - Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

    Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

    - Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

    => Như vậy, đối với trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng thì được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải.

    Tuy nhiên, chị cần lưu ý trường hợp trong nội quy lao động không quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng thì không được áp dụng hình thức kỷ luật này theo quy định tại Điều 128 Bộ luật lao động 2012:

    “Điều 128. Những quy định cấm khi xử lý kỷ luật lao động

    3. Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động.”

    Người lao động vẫn có nghĩa vụ phải thanh toán tiền lương cho người lao động những ngày làm việc.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #558510   24/09/2020

    Caothikimdung1001
    Caothikimdung1001
    Top 500


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/08/2020
    Tổng số bài viết (305)
    Số điểm: 1625
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 13 lần


    Đối với những hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hợp pháp có thời hạn mà hai bên đã kí kết, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp dồng lao động đó trước thời hạn nếu trong quá trình làm việc, người lao động bị gặp phải những trường hợp quy định tại Điều 37 BLLĐ 2012.

    Ngoài đáp ứng một trong những điều kiện trên, người lao động phải đảm bảo về mặt thời gian báo trước cho người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, cụ thể như sau:

    – Người lao động làm việc theo hình thức hợp đồng lao động xác định thời hạn thì có nghĩa vụ phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất là 30 ngày; đối với hợp đồng theo mùa vụ hoặc hợp đồng lao động theo một công việc cụ thể dưới 12 tháng nếu người lao động và gia đình gặp khó khăn hoặc người lao động được đảm nhiệm chức vụ trong cơ quan nhà nước; Ít nhất 45 ngày nếu là HĐLĐ không xác định thời hạn mà không cần phải có lí do và những trường hợp khác được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 37 BLLĐ 2012.

    Từ những điều kiện trên, có thể thấy người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu đáp ứng đủ điều kiện về mặt nội dung lí do nghỉ việc và không vi phạm về thời hạn báo trước. Như vậy, có thể hiểu, khi người lao động đang tham gia trong quan hệ lao động mà tự ý nghỉ việc mà không đảm bảo những điều kiện trên thì đặt ra vấn đề ở đây là người lao động đang đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và đương nhiên người lao động sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi này của mình. 

    Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người lao động sẽ không được đảm bảo quyền lợi như đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, cụ thể là tại Điều 43:

    – Người lao động khi nghỉ việc sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc từ phía người sử dụng lao động, thậm chí còn phải bồi thường số tiền tương đương với nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động đã giao kết;

    – Nếu không đảm bảo thời hạn báo trước thì người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động bồi thường một số tiền tương ứng với tiền lương, tiền công của người đó trong những ngày nghỉ không báo trước;

    – Ngoài ra, nếu trong quá trình làm việc, người lao động được người sử dụng lao động hỗ trợ cho đi đào tạo và cung cấp chi phí cho thời gian theo học đào tạo thì khi nghỉ việc trái pháp luật, người lao động còn phải hoàn trả lại khoản chi phí đào tạo hợp lí cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

    • Do đó trong trường hợp này NLĐ tự đơn phương chấm dứt trái pháp luật nên không cần phải sa thải và NSDLĐ vẫn phải trả lương cho NLĐ hay không.
     
    Báo quản trị |