quy địn hủy hợp đồng ủy quyền sử dụng đất

Chủ đề   RSS   
  • #214190 17/09/2012

    suongmai0905

    Female
    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:25/03/2012
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 300
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    quy địn hủy hợp đồng ủy quyền sử dụng đất

    lúc trước mẹ tôi có ủy quyền quyền sử dụng đất nhà cho tôi để làm thủ tục thế chấp nhà, do mẹ tôi già đi lại không tiện.hợp đồng làm 2 bản .H mẹ tôi muốn hủy hợp đồng ủy quyền đó . Nhưng bên phòng công chứng yêu cầu có 2 bản hợp đồng ủy quyền mới hủy được, tôi đã làm thất lạc mất một bản .Vậy phòng công chứng yêu cầu vậy có đúng ko??tôi phải làm thế nào. Mong các anh tư vấn dùm

     
    7993 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #214448   18/09/2012

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1974 lần


    Thân chào bạn!

    Theo quy đinh tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành thì bạn và mẹ có quyền yêu cầu Tòa án quận/huyện nơi mình cư trú, làm việc hủy hợp đồng ủy quyền trên.

    Theo quy định tại điều 44 Luật Công chứng năm 2006 thì nơi đã công chứng hợp đồng ủy quyền trên, có quyền hủy bỏ hợp đồng do mình đã công chứng khi có sự thỏa thuận thống nhất hủy bỏ hợp đồng ủy quyền này của bên ủy quyền và bên được ủy quyền, mà không quy định rằng phải có 2 bản hợp đồng ủy quyền kia thì mới được nơi đã công chứng hủy bỏ hợp đồng công chứng.

    Trân trọng!

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
  • #214452   18/09/2012

    leanhthu
    leanhthu
    Top 50
    Male
    Lớp 12

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/11/2008
    Tổng số bài viết (1840)
    Số điểm: 18030
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 1144 lần


    Chào bạn! Trường hợp của bạn mời bạn tham khảo ý kiến của các thành viên trên. Trong trường hợp này của bạn tôi tư vấn như sau:

    Tôi có thời gian làm ở Văn phòng công chứng cũng đã xử lý trường hợp như của bạn. Do vậy khi bạn làm mất Hợp đồng ủy quyền trên thì bạn ra Công an xã phường nơi bạn làm mất, hoặc không biết nơi mất thì bạn ra Công an xã phường niêm yết về việc mất hợp đồng ủy quyền trên. Và làm đơn xin xác nhận về việc mất Hợp đồng ủy quyền trên.

    Sau đó thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, hoặc đăng báo về việc mất Hợp đồng ủy quyền trên.

    Khi bạn làm song thì bạn cầm những bản Hợp đồng ủy quyền còn lại và xác nhận mất Hợp đồng ủy quyền, và số báo bạn đăng, ra Văn phòng công chứng nơi bạn làm Hợp đồng ủy quyền ký cam kết là xác thực việc mất Hợp đồng ủy quyền trên là có thực và cam kết không sử dụng Hợp đồng ủy quyền trên vào mục đích phí pháp.

    Khi đó bạn yêu câu Văn phòng công chứng tiến hành thủ tục công chức Văn bản hủy Hợp đồng ủy quyền trên nhé.

    Chúc bạn thành công!

    Để được giải đáp mọi thắc mắc vui lòng liên hệ, LS. Lê Văn Thư - SĐT: 0977184216 ; Công ty Luật TNHH Thành Thái

    Trụ sở: Tổ 13, Phường Yên Nghĩa, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

    Tel: SĐT 0977184216, Email: luatthanhthai@gmail.com; facebook: https://www.facebook.com/luatthanhthai.vn/; skype: leanhthu307

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn leanhthu vì bài viết hữu ích
    garan (18/09/2012)
  • #214462   18/09/2012

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1974 lần


    Thân chào Anh Thư!

    Xin được trao đổi với Anh Thư trong trường hợp trên.

    Theo quy định tại Điều 44 Luật Công chứng năm 2006:

     

    Điều 44. Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch

    1. Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được công chứng.

    2. Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.

    3. Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện theo thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương IV của Luật này.

    Như vậy, Luật và văn bản hướng dẫn không quy định rằng người yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền phải nộp đầy đủ 2 bản (01 bản của ngưởi ủy quyền và 01 bản của của người được ủy quyền).

    Anh Thư có thể trích dẫn quy định của pháp luật quy định vấn đề này không?

    Chúc Anh Thư sức khỏe và thành đạt!

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
  • #214472   18/09/2012
    Được đánh dấu trả lời

    leanhthu
    leanhthu
    Top 50
    Male
    Lớp 12

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/11/2008
    Tổng số bài viết (1840)
    Số điểm: 18030
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 1144 lần


    Chào KhacDuy25 nếu về Điều luật trên bạn trích dẫn thì là về mặt lý thuyết là như vậy nhưng xét về mặt thực tế tôi trao đổi với bạn như sau:

    Thứ nhất: Khi đến Văn phòng công chứng thì người yêu cầu công chứng có thể yêu cầu Công chứng viên soạn thảo mấy bản Hợp đồng ủy quyền tùy theo công việc. Nhưng Hợp đồng ủy quyền thường được các văn phòng lập thành 4 bản Bên ủy quyền giữ 1 bản, Bên nhận ủy quyền giữ 02 bản, lưu tại Văn phòng công chứng 01 bản.

    Thứ hai: Khi hủy Hợp đồng ủy quyền thì ngoài cam kết của tất cả người tham gia ký kết Hợp đồng ủy quyền trên thì Văn phòng công chứng phải thu hồi lại 03 hoặc các bản Hợp đồng ủy quyền đã ban hành ra thì mới tiến hành việc công chứng hủy bỏ Hợp đồng trên vì:

    + Trong trường hợp của bạn, nếu việc mất Hợp đồng ủy quyền trên là đúng sự thật thì vấn đề là bình thường. Tuy nhiên có người không mất mà lại bảo là mất sau đó cầm Hợp đồng ủy quyền trên (mà trong Hợp đồng ủy quyền trên có nội dung được quyền bán, chuyển nhương, tặng cho, cho thuê, thế chấp) đi vay vốn ngân hàng hoặc bán cho người khác theo hình thức bán theo ủy quyền sau đó bỏ trốn để ôm số tiền đó "cao chạy, xa bay" thì khi đó người ủy quyền sẽ bị mất đi quyền lợi, thậm chí là ngôi nhà mình đang sinh sống lại bị bán cho người khác.

    + Như vậy, là công chứng trên đã không xác thực được tính hợp pháp, tính có căn cứ khi tiến hành việc xác nhận hủy bỏ Hợp đồng ủy quyền trên thì đây là một lỗi rất nghiêm trọng Công chứng viên có thể bị Truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc tự bỏ tài sản của mình ra để bồi thường cho người ủy quyền trên.

    Thứ ba: Trong hồ sơ lưu của Văn phòng công chứng thì điều kiện rất quan trọng là có đầy đủ các ) Hợp đồng ủy quyền trên thường là 04 bản) và 01 bản sao chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu, phiếu yêu cầu công chứng và 01 Văn bản hủy hợp đồng ủy quyền trên để lưu hồ sơ công chứng. Khi có đoàn thanh tra của Sở tư pháp hoặc Bộ tư pháp là việc hủy hợp đồng ủy quyền trên là tuân thủ đầy đủ các quy định.

    Thứ tư: Khi bị khởi kiện ra tòa, hoặc tố cáo ra Cơ quan điều tra Công an quận huyện thì Văn phòng công chứng phải xuất trình được hồ sơ lưu trên là đầy đủ thủ tục pháp lý thực hiện đúng việc công chứng hủy bỏ Hợp đồng ủy quyền trên.

    Cho nên khi bạn làm thủ tục hủy Hợp đồng ủy quyền mà bạn đã mất 01 bản thì bạn nên làm các thủ tục như tôi tư vấn hoặc bạn khởi kiện ra tòa yêu cầu tòa tuyên hủy hợp đồng trên do thỏa thuận của các bên.

     

    Cập nhật bởi leanhthu ngày 18/09/2012 11:40:11 CH

    Để được giải đáp mọi thắc mắc vui lòng liên hệ, LS. Lê Văn Thư - SĐT: 0977184216 ; Công ty Luật TNHH Thành Thái

    Trụ sở: Tổ 13, Phường Yên Nghĩa, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

    Tel: SĐT 0977184216, Email: luatthanhthai@gmail.com; facebook: https://www.facebook.com/luatthanhthai.vn/; skype: leanhthu307

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn leanhthu vì bài viết hữu ích
    garan (18/09/2012) ntdieu (19/09/2012)
  • #214476   18/09/2012

    garan
    garan
    Top 50
    Male
    Lớp 10

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/08/2011
    Tổng số bài viết (1473)
    Số điểm: 12551
    Cảm ơn: 682
    Được cảm ơn 858 lần
    Moderator

    khaduy25 viết:

    Như vậy, Luật và văn bản hướng dẫn không quy định rằng người yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền phải nộp đầy đủ 2 bản (01 bản của ngưởi ủy quyền và 01 bản của của người được ủy quyền)

    Lỡ như người ta lấy bản còn lại đi ra ngân hàng thế chấp vay tiền, lúc đó lại có cả công chứng nữa.

    sau này văn phòng công chứng đó "hốt" ah anh khacduy.

    Công chứng viên phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành vi công chứng của mình mà.

    thân ái!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn garan vì bài viết hữu ích
    leanhthu (19/09/2012)
  • #214720   19/09/2012

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1974 lần


    Thân chào Anh Thư và Gà Rán!

    Rất vui được trao đổi với hai bạn, bài viết khá đầy đủ nhưng chưa có căn cứ, chưa thuyết phục.

    Bởi lẽ:

    1/ Pháp luật không quy định rằng khi Công chứng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền thì người được ủy, người ủy quyền phải nộp lại văn bản ủy quyền đã được công chứng. 

     Việc lưu lại một văn bản đã công chứng cho các bên có nhu cầu công chứng, đã minh chứng cho giao dịch của họ có công chứng là có căn cứ.

    2/ Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền (được công chứng) được thực hiện khi có sự thỏa thuận, thống nhất, cam kết bằng văn bản giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền về việc hủy bỏ hợp đồng ủy quyền. Khi đó Công chứng viên tiến hành việc công chứng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền này. Lúc này, Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền được công chứng này có giá trị pháp lý, là căn cứ cho rằng hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền và bên được quyển quyền hết hiệu lực.

    Kể từ khi Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền trên có hiệu lực, thì những giao dịch sau đó (sau khi liên quan đến hợp đồng ủy quyền được hủy bỏ  nếu có giao dịch, thực hiện với cá nhân pháp nhân khác đều không có hiệu lực pháp luật. Nếu một trong các bên đã tham gia giao dịch này yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu, thì giao dịch này vô hiêu, căn cứ là hợp đồng ủy quyền này đã hết hiệu lực, bị hủy bỏ bởi hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền. kết quả là các bên trao trả cho nhau những gì đã nhận.

    Tóm lại, khi có Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền có hiệu lực, thì hợp đồng được hủy bỏ không có giá trị pháp lý, những giao dịch liên quan đến hợp đông được hủy bỏ không có giá trị pháp lý.

    Vì thế, những trách nhiệm về sau, những giao dịch về sau phát sinh liên quan đến bên ủy quyền, bên được ủy quyền về hợp đồng ủy quyền đều không có giá trị, bởi lẽ, công chứng viên đã công chứng theo đúng quy định về việc hủy bỏ hợp đồng ủy quyền. Cần căn cứ vào hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền này.

    Mong được trao đổi thêm!

    Trân trọng!

     

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn KhacDuy25 vì bài viết hữu ích
    garan (19/09/2012)
  • #214730   19/09/2012

    leanhthu
    leanhthu
    Top 50
    Male
    Lớp 12

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/11/2008
    Tổng số bài viết (1840)
    Số điểm: 18030
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 1144 lần


    Chào Khắc Duy tôi đồng ý với quan điểm của bạn về mặt luật học như vậy. Bài tư vấn của bạn rất có khía cạnh pháp lý và phân tích rất hay tuy nhiên nếu người muốn hủy hợp đồng ủy quyền trên mà đi tới văn phòng công chứng ký hủy thì Văn phòng công chứng sẽ cần thủ tục như tôi đã tư vấn hai bài trên.

    Con nếu bên nào mất Hợp đồng ủy quyền không thực hiện đầy đủ các trình tự các bước trên thì văn phòng công chứng cũng sẽ không công chứng việc hủy hợp đồng trên. Nếu bạn có khởi kiện việc tuyên hủy hợp đồng ủy quyền trên ra tòa thì tòa án cũng cho bạn một khoản thời gian để hai bên ra Văn phòng công chứng hủy hợp đồng ủy quyền thì mất thời gian và tòa án cũng phải điều tra xác minh xem có hay không có việc mất Hợp đồng ủy quyền trên.

    Mời bạn tham khảo ý kiến của thành viên trên, và rất vui khi được các luật sư. luật gia tham gia bàn thảo chủ đề này vì đây cũng là chủ đề tương đối hay.

    Để được giải đáp mọi thắc mắc vui lòng liên hệ, LS. Lê Văn Thư - SĐT: 0977184216 ; Công ty Luật TNHH Thành Thái

    Trụ sở: Tổ 13, Phường Yên Nghĩa, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

    Tel: SĐT 0977184216, Email: luatthanhthai@gmail.com; facebook: https://www.facebook.com/luatthanhthai.vn/; skype: leanhthu307

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn leanhthu vì bài viết hữu ích
    garan (19/09/2012) KhacDuy25 (20/09/2012)
  • #214735   19/09/2012

    garan
    garan
    Top 50
    Male
    Lớp 10

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/08/2011
    Tổng số bài viết (1473)
    Số điểm: 12551
    Cảm ơn: 682
    Được cảm ơn 858 lần
    Moderator

    Rất vui được trao đổi với anh Khacduy25!

    Hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất (HDUQQSDD) cần phải được công chứng mới có giá trị pháp lý. (1)

    HDUQQSDD có thể được lập thành nhiều bản và tất cả các bản có giá trị pháp lý như nhau. (2).

    Công chứng viên ở phòng công chứng hay văn phòng công chứng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm pháp lý về tất cả những hợp đồng giao dịch...mà mình đã công chứng. (3).

    Đồng ý với khacsuy ở điểm này: Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền (được công chứng) được thực hiện khi có sự thỏa thuận, thống nhất, cam kết bằng văn bản giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền về việc hủy bỏ hợp đồng ủy quyền. Khi đó Công )viên tiến hành việc công chứng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền này

    Nhưng việc các bên thỏa thuận, thống nhất cam kết bằng văn bản về hủy bỏ HDUQQSDD mới là điều kiện cần để công chứng viên có thể tiến hành được cong việc là hủy bỏ cái HDUQQSDD đó còn điều kiện đủ là phải tu hồi lại tất cả những HDUQQSDD đã công chứng trước đó cộng với (1) + (2) + (3) ta có nếu không "thu hồi" lại được tất cả những HDUQQSDD mà công chứng viên đã công chứng trước đó thì sẽ không thể tiến hành được việc tiếp theo là hủy bỏ cái HDUQQSDD đó.

    đây liên quan đến trình tự thủ tục để lập hay hủy bỏ một HDUQQUDD chứ không phải liện quan đến mặt nội dụng của bản thân quy định đó.

    ps: Bản thân Garan cũng khá hiểu nhưng vốn từ vững pháp lý còn thiếu nên trình bày còn khá lủng củng.

    rất mong nhận được ý kiến trao đổi của anh khacduy và các thành viên.

    thân ái!

     

     

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn garan vì bài viết hữu ích
    leanhthu (19/09/2012) KhacDuy25 (20/09/2012)
  • #215001   20/09/2012

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1974 lần


    Rất vui được trao đổi cùng Anh Thư và Garan!

    @ Anh Thư: Thiết nghĩ những quy định thu hổi văn bản do mình đã công chứng, rồi mới tiền hành công chứng việc hủy những hợp đồng đó là không cần thiết, luật không quy định phải thu hổi. Như đã trao đổi với bạn trong bài viết trên chỉ cần tuân thủ điều 44 Luật Công chứng năm 2006 là Công chứng viên có thể thực hiện việc công chứng hủy bỏ hợp đồng này.

    Tại phòng Công chứng cần lưu 1 bản hợp đồng ủy quyền trên và 1 hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền. Các hợp đồng ủy quyền được hủy bỏ dù có tồn tại, có giao dịch thì cũng không có giá trị pháp lý. Nếu có xảy ra tranh chấp trong quá trình giao dịch liên quan đến hợp đồng ủy quyền được hủy bỏ, thì trách nhiệm không thuộc về Công chứng viên - Phòng công chứng, mà chỉ liên quan đến các bên thực hiện việc giao dịch này.(hợp đồng ủy quyền đã được hủy bỏ dù còn hay mất do các bên khai nhận thì nó cũng không còn giá trị pháp lý sau khi hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền này có hiệu lực).

    @ Garan: Sao Luật lại quy định điều kiện cần và đủ như em đã phân tích chứ? Em rất nhiệt tình, nhưng phân tích của em chưa logic và không có căn cứ.

    Công chứng viên chịu trách nhiệm với những vấn đề do mình thực hiện, tuy nhiên Công chứng viên sẽ chịu trách nhiệm khi vi phạm Điều 12 Luật Công chứng năm 2006. Và nguyên tắc là Công chứng viên phải thực hiện Điều 5 Luật này:

    Lời chứng của công chứng viên phải ghi rõ thời gian, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật, chữ ký trong hợp đồng, giao dịch là đúng chữ ký của người tham gia hợp đồng, giao dịch; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

    Công chứng viên chỉ cần tuân thủ Luật Công chứng và các văn bản pháp luật liên quan thì có thể Công chứng theo yêu cầu của các bên liên quan theo đúng quy định của pháp luật, và như những phân tích ở những bài viết trên thì hà cớ chi Công chứng viên phải làm khó người cần công chứng? (Phải cung cấp cho bằng được văn bản ủy quyền trong khi tại văn phòng của mình đã lưu 1 bản có giá trị pháp lý như nhau. Trong khi Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng có giá trị pháp lý thì hợp đồng ủy quyền lưu tại VP công chứng cũng không còn giá trị pháp lý, thì hà cớ chi phải thu hết những văn bản không có giá trị pháp lý lại nhỉ?), Trong khi Pháp luật không quy định như vậy? Mà quy định rằng đủ điều kiện như điều 44 luật này, thì Công chứng viên tiến hành công chứng cho các bên đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

    Thân!

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn KhacDuy25 vì bài viết hữu ích
    leanhthu (23/09/2012)
  • #215526   22/09/2012

    suongmai0905
    suongmai0905

    Female
    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:25/03/2012
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 300
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    cảm ơn tất cả mọi người đã cho tôi lời khuyên và giải đáp tôi xin cảm ơn ,nhân tiện cho tôi hỏi thêm một câu nữa là: hiện tại mẹ tôi đang có nhu cầu bán căn nhà đã được  ủy quyền cho tôi nhưng người mua yêu cầu chính chủ tức là mẹ tôi.Hiện giờ tôi không thể hủy hợp đồng ủy quyền thì mẹ tôi đứng ra bán nhà mà không cần hủy hợp đồng ủy quyền sử dụng đất có đươc hay ko?? có vi phạm gì về mặt pháp lý không??

     
    Báo quản trị |  
  • #215544   22/09/2012

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1974 lần


    suongmai0905 viết:

    cảm ơn tất cả mọi người đã cho tôi lời khuyên và giải đáp tôi xin cảm ơn ,nhân tiện cho tôi hỏi thêm một câu nữa là: hiện tại mẹ tôi đang có nhu cầu bán căn nhà đã được  ủy quyền cho tôi nhưng người mua yêu cầu chính chủ tức là mẹ tôi.Hiện giờ tôi không thể hủy hợp đồng ủy quyền thì mẹ tôi đứng ra bán nhà mà không cần hủy hợp đồng ủy quyền sử dụng đất có đươc hay ko?? có vi phạm gì về mặt pháp lý không??

    Thân chào bạn!

    Hợp đồng ủy quyền giữa mẹ bạn và bạn có thể chấm dứt trong các trường hợp sau:

    1/ Nếu hợp đồng ủy quyền giữa mẹ bạn và bạn không thỏa thuận thời hiệu hết hợp đồng là ngày, tháng, năm hoặc một sự kiện pháp lý nào thì thời hạn ủy quyền trong trường hợp này là 1 năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền theo quy định tại Điều 582 Bộ luật Dân sự năm 2005.

    2/  Hợp đồng ủy quyền được đơn phương chấm dứt theo điều 588 Bộ luật này.

    3/ Công việc được ủy quyền đã hoàn thành.

    ...

    Như vậy, nếu trường hợp của bạn rơi vào những trường hợp trên thì hợp đồng ủy quyền giữa mẹ bạn và bạn  chấm dứt mà không cần phải công chứng hủy hợp đồng ủy quyền.

    Theo tôi được biết thì pháp luật không quy định rằng: Người ủy quyền không có quyền thực hiện công việc được ủy quyền, không có quyền thực hiện các giao dịch khác liên quan đến tài sản - công việc được ủy quyền. Nên nếu tài sản - công việc được ủy quyền liên quan đến người thứ ba thì bên ủy quyền thông báo bằng văn bản với người thứ ba về việc chấm dứt việc ủy quyền (trước đó bên ủy quyền thông báo cho bên ủy quyền một thời gian hợp lý về việc chấm dứt hợp đồng ủy quyền - tuy nhiên là chỗ mẹ con nên vấn đề này chỉ cần làm văn bản thỏa thuận việc chấm dứt).

    Vì vậy, mẹ bạn có quyền đứng ra bán nhà mà không cần hủy hợp đồng ủy quyền đó theo phân tích trên.

    Trân trọng!

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
  • #222872   29/10/2012

    Ngoc_hlu2312
    Ngoc_hlu2312

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:30/11/2011
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    suongmai0905 viết:

    cảm ơn tất cả mọi người đã cho tôi lời khuyên và giải đáp tôi xin cảm ơn ,nhân tiện cho tôi hỏi thêm một câu nữa là: hiện tại mẹ tôi đang có nhu cầu bán căn nhà đã được  ủy quyền cho tôi nhưng người mua yêu cầu chính chủ tức là mẹ tôi.Hiện giờ tôi không thể hủy hợp đồng ủy quyền thì mẹ tôi đứng ra bán nhà mà không cần hủy hợp đồng ủy quyền sử dụng đất có đươc hay ko?? có vi phạm gì về mặt pháp lý không??

    Chào các bạn, theo mình trong trường hợp của bạn suongmai0905 thì việc hủy Hợp đồng ủy quyền giữa mẹ con bạn là không cần thiết.

    Nếu nhà đất của bạn có Giấy chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu nhà đất và mẹ bạn đang giữ giấy tờ này thì mẹ bạn hoàn toàn có thể tự mình đứng tên trong Hợp đồng bán nhà. Mẹ con bạn có thể thực hiện giao dịch tại một văn phòng công chứng khác văn phòng công chứng đã thực hiện việc ủy quyền ban đầu.

    Nếu thực hiện giao dịch tại chính văn phòng công chứng đã thực hiện Ủy quyền mà không hủy Ủy quyền được, theo mình Hợp đồng mua bán sẽ do hai mẹ con bạn đứng tên, căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền đã ký kết. Việc này vừa đáp ứng được đòi hỏi của người mua nhà là mẹ bạn phải đứng ra bán, vừa không phải hủy ủy quyền.

    Mong các bạn cho ý kiến.

     
    Báo quản trị |  
  • #215580   23/09/2012

    leanhthu
    leanhthu
    Top 50
    Male
    Lớp 12

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/11/2008
    Tổng số bài viết (1840)
    Số điểm: 18030
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 1144 lần


    Chào bạn   bạn có thể tùy lựa chọn theo cách các thành viên tư vấn nhưng nếu lựa chọn cách khacduy25 đưa ra thì thời hạn để tòa tuyên hủy hợp đồng ít nhất là 4 tháng. Còn việc bạn viện dân quy định văn bản quy phạm pháp luật để công chứng viên hủy Hợp đồng ủy quyền trên khi thiếu một trong các văn bản trên thì không bao giò công chứng viên công chứng văn bản hủy Hợp đồng ủy quyền cho bạn   và họ cũng không biết sẽ làm thếr nào để giải quyết trương hợp trên của bạn?

    Bạn có thể tham khảo 2 bài tư vấn của tôi ở trên vòn về mặt luật học và thực tế thì còn cách nhau một khoảng cách khá xa bạn đã đi rơi Văn phòng công chứng rùi bạn   và họ không chấp nhận vì lý do các bài trên tôi tư vấn tôi đã đưa ra. Bạn có thể lấy ý kiến của khacduy25 để đi tranh đấu giành lại quyền lợi cho mình và thực tế sẽ kiểm nghiệm.

    Để được giải đáp mọi thắc mắc vui lòng liên hệ, LS. Lê Văn Thư - SĐT: 0977184216 ; Công ty Luật TNHH Thành Thái

    Trụ sở: Tổ 13, Phường Yên Nghĩa, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

    Tel: SĐT 0977184216, Email: luatthanhthai@gmail.com; facebook: https://www.facebook.com/luatthanhthai.vn/; skype: leanhthu307

    Trân trọng!

     
    Báo quản trị |