DanLuat 2015

Quán có góc hè phố

Chủ đề   RSS   
  • #202688 22/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    Quán có góc hè phố

    Quán của tôi buôn - tám chuyện trên trời. Rất mong các thành viên tham gia góp ý! Trước khi tham gia post bài, mong các thành viên đọc quy định của diễn đàn, tuyệt đối không bình loạn.

    Bô lô ba la

     
    2963 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #202690   22/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    Sự kiên pháp lý thứ 001:

    Ngày 20/12/1995, bà A cho bà B vay số tiền 10 tỷ đồng (không ghi mục đích vay), giấy vay nợ ghi nhận quá trình trả nợ chia làm 03 lần, nhưng phải trả hết trong năm 1996.

    Ngày 12/4/1996 bà B trả được 500 triệu, sau đó thì không trả nữa và hai bên không có thỏa thuận gì khác. Cho đến năm 2002, bà A khởi kiện yêu cầu bà B trả đủ cả gốc lẫn lãi.

    - Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết, ngày 15/9/2002 tuyên xử căn cứ theo pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, điều 56 khoản 1, bản án số 111 xác định hết quyền khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án. Vì mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà B không phải có nghĩa vụ thanh toán.

    - Ngày 20/9/2002, Bà A kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 222 xác định: Căn cứ điểm a, khoản 3, Nghị quyết quốc hội khóa IX xác định bà A không bị hạn chế thời hiệu, buộc bà B phải trả đủ tiền gốc và lãi cho bà A.

    Theo các bạn, các Tòa tuyên như vậy hợp lý chưa? Căn cứ pháp lý và lập luận?

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #202748   22/07/2012

    nguyenlehoang
    nguyenlehoang
    Top 500


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:28/07/2011
    Tổng số bài viết (132)
    Số điểm: 1950
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 39 lần


    Quán hè góc phố này hay đây Chinh ui....! Chắc chắn sẽ mua may bán đất roài..."

    Để ACE ngâm cứu cái đã...hic

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguyenlehoang vì bài viết hữu ích
    nguyenkhanhchinh (22/07/2012)
  • #202756   22/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    Vâng, các anh chị em cứ nghiên cứu, đây là vụ án có thực và em đưa ra để trao đổi. Ít bữa em gửi tiếp những vụ án khác.

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #202992   23/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    Sự kiện pháp lý thứ 002:

    Bà A là chủ ghe tàu số A1, bà thuê ông B làm tài công thường đánh bắt hải sản cách bờ biển Nhật Lệ (Đồng Hới-Quảng Bình) 20 tiếng đồng hồ. Từ khi tiếp nhận ghe tàu A1, ông B làm cây chà đánh dấu điểm đánh bắt ngoài khơi (sau đây gọi là cây chà 20 tiếng). Sau khi ông B nghỉ việc, bà A thuê ông C làm tài công và tiếp tục khai thác cây chà 20 tiếng.

    Sau vài tháng, bà A phát hiện ông C đã cho ông D cây chà 20 tiếng, bà A đã khởi kiện đề nghị Tòa án yêu cầu ông D trả lại cây chà 20 tiếng.

    Bản án sơ thẩm xác định: Vì ông C đã có điểm đánh bắt mới nên nhường điểm đánh bắt cây chà 20 tiếng lại cho ông D. Bác yêu cầu của bà A và tuyên ông D được quyền ưu tiên đánh bắt hải sản tại cây chà 20 tiếng.

    Bà A kháng cáo, bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm: Ông D phải giao trả cho bà A cây chà 20 tiếng, bà A được quyền sử dụng điểm đánh bắt của mình.

    Hai bản án tuyên trái ngược nhau. Các thành viên có ý kiến gì về vấn đề này?

    Cập nhật bởi nguyenkhanhchinh ngày 23/07/2012 11:54:14 CH

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #203748   26/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    Sự kiện pháp lý thứ 003: Hủy hợp đồng tặng cho nhà đất đã được công chứng.

    Bà Nguyễn Thị Chính có thửa đất và nhà tại địa chỉ 231/1D đường Hoàng Diêu quận 4 TpX. Do mối thâm tình nên bà quyết định tặng cho ông Trần Quang Hà căn nhà và đất địa chỉ trên.

    Ngày 29/11/1996, hai bên đến Phòng Công chứng nhà nước số 2 xác lập hợp đồng số 8283 và việc tặng cho không kèm thêm điều kiện gì. Hợp đồng được công chứng.

    Ông Hà vào ở từ thời điểm đó, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, xác lập quyền sở hữu.

    Năn 2005, trong một ngày xấu trời bà Chính không muốn tặng cho ông Hà nhà và đất nêu trên nữa. Bà gửi đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận 4 Tp.X hủy hợp đồng tặng cho số 8283 được công chứng ngày 29/11/1996. Tòa án thụ lý.

    Ngày 14/7/2005 vụ án đưa ra xét xử. Bản án số 1428/2005/DSST đã căn cứ điều 463 khoản 2 của BLDS "Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng ký..". Xét sau thời điểm lập hợp đồng, căn nhà vẫn chưa được sang tên, đăng ký quyền sở hữu bất động sản cho ông Hà tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên hợp đồng tặng cho nhà chưa có hiệu lực pháp luật. Nay bà Chính yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, nên chấp nhận.

    Tòa án chấp nhận quyền yêu cầu của nguyên đơn, hủy hợp đồng tặng cho số 8283 ngày 29/11/1996.

     

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #203751   26/07/2012

    PhapLuat247.com
    PhapLuat247.com
    Top 500
    Male
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (86)
    Số điểm: 673
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 44 lần


    02/2004/NQ-HĐTP viết:

    2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15-10-1993
    a. Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    Theo quy định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:
    a.1. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;
    a.2. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;
    a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
    a.4. Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;
    a.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật;
    a.6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. 
    b. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này.
    b.1. Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01-7-2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01-7-2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

     

    Bác KhanhChinh đọc điều khoản trên sẽ tìm được câu trả lời.

    http://phapluat247.com - PHÁP LUẬT CHO MỌI NGƯỜI

     
    Báo quản trị |  
  • #203754   26/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    PhapLuat247.com viết:

     

    02/2004/NQ-HĐTP viết:

     

    2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15-10-1993
    a. Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    Theo quy định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:
    a.1. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;
    a.2. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;
    a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
    a.4. Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;
    a.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật;
    a.6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. 
    b. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này.
    b.1. Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01-7-2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01-7-2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

     

     

     

    Bác KhanhChinh đọc điều khoản trên sẽ tìm được câu trả lời.

    Hoan nghênh hoan nghênh bạn tham gia, nhưng bạn đọc lại Bản án tôi trích ở trên và đối chiếu căn cứ mà bạn trích dẫn đi! Hơn nữa mục này để các thành viên thảo luận, không phải tôi hỏi. Ở đây họ không đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu, mà là hủy hợp đồng. Nếu tuyên vô hiệu thì còn thời hiệu hay không nữa cơ - nhưng vấn đề này không đặt ra. Bạn nghiên cứu tiếp nhé!

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #204084   28/07/2012

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6831)
    Số điểm: 76481
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3724 lần


    Sự kiện pháp lý thứ 004: L/C hủy ngang

    Ngày 13/7/1995, Công ty Vivasit (Công ty của Việt Nam tại Thành phố H) ký hợp đồng với Công ty Trunghoaqua (Công ty của Trung Quốc, tại Bắc Kinh) (hợp đồng số 01/95), theo đó Công ty Trunghoaqua sẽ bán dây chuyền và công nghệ sản xuất Gạch không nung cao cấp với giá 1.270.000 USD.  

    Ngày 15/7/1995, Công ty Vivasit có đơn xin bảo lãnh và mở yêu cầu thư tín dụng L/C. Sau khi nhận được đơn và yêu cầu mở thư tín dụng (không hủy ngang), ngày 25/7/1995 Ngân hàng X chi nhánh Thành phố H đã ký văn bản chấp thuận bão lãnh số tiền mua bán của hợp đồng số 01/95 và mở thư L/C cùng ngày. Tuy nhiên trong thời gian này Công ty Vivasit chưa có giấy phép nhập khẩu lô hàng cũng như chưa có tiền ký quỹ.

    Ngày 4/8/1995, ngân hàng ChinaVit (Bắc Kinh-TQ) phát hành hối phiếu trị giá 1.270.000 USD gửi cho Ngân hàng X chi nhánh Tp H cùng với toàn bộ chứng từ cho bên mua hàng là Cty Vivasit xem xét đối chiếu. Ngày 10/8/1995 Giám đốc Cty Vivasit ký vào sau hối phiếu. Sau khi nhận được hồ sơ chứng từ, phía Ngân hàng X chi nhánh TpH đã chuyển số tiền 1.000.000 USD đến tài khoản của Cty Trunghoaqua tại Ngân hàng Chinavit.

    Ngày 14/4/1996, Công ty Vivasit tự ý trả lại hàng cho Công ty Chinavit và ngày 15/4/1996 hai Công ty này thỏa thuận hủy L/C. Ngày 23/4/1996, Công ty Vivasit thông báo cho Ngân hàng X chi nhánh TpH biết việc hủy L/C và được sự đồng ý của Ngân hàng.

    Sự việc vỡ lỡ khi Công ty Vivasit không trả lại cho Ngân hàng X chi nhánh TpH số tiền đã chuyển ra nước ngoài là 1.000.000 USD. Vì cho rằng đã thông báo và được Ngân hàng chấp nhận hủy L/C nên không có trách nhiệm thanh toán lại số tiền này.  Từ đó cho đến năm 2005 các bên không có thỏa thuận gì khác.

    Tháng 6/2005, Ngân hàng X TpH khởi kiện Công ty Vivasit phải hoàn trả số tiền 1.000.000 USD. Ngày 22/8/2005 Tòa án xét xử và ban hành bản án số 1122/DSST chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng X Tp.H, buộc Công ty Vivasit phải trả cho Ngân hàng X TpH số tiền 1.000.000 USD. Vì ngân hàng không yêu cầu về lãi suất nên TA không xem xét. Ngoài ra TA còn tuyên Án phí.

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-