DanLuat 2015

Quá hạn fe credit

Chủ đề   RSS   
  • #494834 22/06/2018

    VanDatBun

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2018
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Quá hạn fe credit

    Vào tháng 11-2017 e có mua điện thoại trả góp thiếu tiền và được bên fe hỗ trợ làm hợp đồng vay trả góp trong 6 tháng.mỗi tháng đóng 3.200.000.e đóng đc 2 tháng và do hoàn cảnh công việc nên e ko đủ khả năng đóng tiếp.e ngắt liên lạc thì sẽ bị xử lý như thế nào
     
    358 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #494858   22/06/2018

    DT_DA
    DT_DA
    Top 100
    Male
    Lớp 9

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/06/2017
    Tổng số bài viết (525)
    Số điểm: 12251
    Cảm ơn: 259
    Được cảm ơn 257 lần


    Trong tình huống của bạn có thể xảy ra hai trường hợp:

    Trường hợp 1: Xử lý theo trình tự, thủ tục của pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản

    Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự 2015:

    "Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

    Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

    Hợp đồng giữa bạn và ngân hàng được coi là hợp đồng vay tài sản trong quan hệ dân sự. Vì "bạn có vay vốn trả góp tại Công ty tài chính FE credit (Công ty con của ngân hàng VP bank) mỗi tháng góp là 3,2 triệu đồng, góp đựợc 2 tháng nhưng công việc của bạn không ổn định nên đã định ngắt liên lạc.

    Vì vậy, có thể xem việc bạn không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn không hoàn toàn do lỗi của bạn. Mặc dù vậy, bạn vẫn phải trả nợ cho ngân hàng theo đúng hợp đồng đã kí kết giữa các bên. Bạn có thể thỏa thuận với ngân hàng gia hạn hợp đồng để bạn có thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình hoặc thỏa thuận về việc trả góp khoản nợ thay vì trả một lần khi có yêu cầu của ngân hàng. Trong trường hợp bạn đã cố gắng trả nợ nhưng vẫn không có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ này, ngân hàng chỉ có thể gửi đơn khiếu nại lên Tòa án khi hai bên xảy ra tranh chấp về hợp đồng dân sự.

    Trường hợp 2: Xử lý theo trình tự, thủ tục của pháp luật hình sự

    Ở đây, ngân hàng phải có đủ bằng chứng về các dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự mới có thể kiện bạn theo pháp luật hình sự, cụ thể là:
    - Về mặt khách quan, phải có đủ hành vi dùng thủ đoạn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp của bạn, bạn có ý định ngắt liên lạc để trốn tránh thì bên công ty sẽ viết thư gửi cho địa chỉ nhà bạn kêu bạn thanh toán hết hợp đồng, không dùng các biện pháp khắc phục hậu quả như thỏa thuận việc gia hạn hợp đồng hay trả dần khoản nợ của mình thì công ty có căn cứ để kiện bạn ra tòa hình sự.
    - Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý hoặc vô ý.
    - Về khách thể, quyền lợi hợp pháp của bên kia bị xâm phạm. Ở đây là quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng bị xâm phạm khi không thể thu hồi vốn vay.
    - Về chủ thể, người vi phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 12 nhưng không thuộc Điều 21 Bộ luật hình sự 2015.
    Khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bạn có đầy đủ những dấu hiệu trên, ngân hàng có thể kiện bạn về tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015:
    "Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
     
    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 
     
    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; 

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. 

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: 

    a) Có tổ chức; 

    b) Có tính chất chuyên nghiệp; 

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; 

    d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; 

    đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; 

    e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 

    g) Tái phạm nguy hiểm. 

    3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. 

    4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
     
    Vì số tiền bạn không trả có thể là 4 triệu đến dưới 50 triệu nên bạn có thể phải chịu án phạt tù từ sáu tháng đến ba năm hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm tùy theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
     
    Báo quản trị |  
  • #505139   18/10/2018

    Trường hợp vay công ty tài chính nhưng không đủ khả năng thanh toán và trốn nợ thì xử lý theo pháp luật dân sự, căn cứ vào điều Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

    "1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

    3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

    5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

    a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

    b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

    Còn về tội phạm hình sự thì không thể phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định. 

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-