DanLuat 2015

Pháp lý của hợp đồng thế chấp

Chủ đề   RSS   
  • #278082 28/07/2013

    Toanpv7900

    Sơ sinh

    Sơn La, Việt Nam
    Tham gia:27/07/2013
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 160
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Pháp lý của hợp đồng thế chấp

    Xin chào luật sư! Cho mình hỏi : một DNTN A dùng Tài sản đảm bảo là bìa đỏ mang tên anh B để vay vốn Ngân hàng( B là chủ DNTN A). Ngân hàng lập hợp đồng thế chấp trong đó bên thế chấp là anh B bên được thế chấp là DNTN A; như vậy có trái với quy định tại điều 144 luật dân sự không?
     
    7709 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #278093   28/07/2013

    ntdieu
    ntdieu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:11/02/2009
    Tổng số bài viết (12972)
    Số điểm: 89694
    Cảm ơn: 2926
    Được cảm ơn 4544 lần
    SMod

    Tài sản của anh B thì cũng là tài sản của DNTN A mà thôi. Có nghĩa là anh này thế chấp cho chính mình

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ntdieu vì bài viết hữu ích
    Agribanksonla (28/07/2013)
  • #278103   28/07/2013

    Agribanksonla
    Agribanksonla

    Sơ sinh

    Sơn La, Việt Nam
    Tham gia:27/07/2013
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Pháp lý của hợp đồng thế chấp

    Nhưng đây là hợp đồng bảo lãnh mà bạn
     
    Báo quản trị |  
  • #278109   28/07/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (734)
    Số điểm: 8995
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 755 lần
    Moderator

    Chào bạn,

    Mình cũng làm trong ngành ngân hàng, trường hợp như trên là 1 mình anh A ký kết hợp đồng thế chấp với 02 tư cách (1 tư cách là chủ DNTN bên vay vốn, 1 tư cách là bên thế chấp tài sản). Ký 1 hợp đồng với 02 tư cách như vậy thường Phòng Công chứng sẽ không đồng ý công chứng hợp đồng vì không phù hợp với quy định của luật dân sự. 

    Thường trong trường hợp này, sẽ phải điều chỉnh chút ít bằng việc ủy quyền. Anh B có thể ủy quyền cho người khác hoặc là đại diện cho DNTN A để ký vào bên vay vốn trong hợp đồng thế chấp hoặc là đại diện cho anh B để ký vào bên thế chấp trong hợp đồng thế chấp. Như thế sẽ lách được cùng 1 người mà ký hợp đồng với 02 tư cách và Công chứng sẽ đồng ý công chứng. 

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Khongtheyeuemhon vì bài viết hữu ích
    ngocloan1990 (28/07/2013)
  • #278110   28/07/2013

    ntdieu
    ntdieu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:11/02/2009
    Tổng số bài viết (12972)
    Số điểm: 89694
    Cảm ơn: 2926
    Được cảm ơn 4544 lần
    SMod

    Agribanksonla viết:
    Nhưng đây là hợp đồng bảo lãnh mà bạn

    Bạn nói rõ hơn được không ? hợp đồng bảo lãnh nào vậy ?

     
    Báo quản trị |  
  • #278113   28/07/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 100
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 224 lần


    Khongtheyeuemhon viết:

    Chào bạn,

    Mình cũng làm trong ngành ngân hàng, trường hợp như trên là 1 mình anh A ký kết hợp đồng thế chấp với 02 tư cách (1 tư cách là chủ DNTN bên vay vốn, 1 tư cách là bên thế chấp tài sản). Ký 1 hợp đồng với 02 tư cách như vậy thường Phòng Công chứng sẽ không đồng ý công chứng hợp đồng vì không phù hợp với quy định của luật dân sự. 

    Thường trong trường hợp này, sẽ phải điều chỉnh chút ít bằng việc ủy quyền. Anh B có thể ủy quyền cho người khác hoặc là đại diện cho DNTN A để ký vào bên vay vốn trong hợp đồng thế chấp hoặc là đại diện cho anh B để ký vào bên thế chấp trong hợp đồng thế chấp. Như thế sẽ lách được cùng 1 người mà ký hợp đồng với 02 tư cách và Công chứng sẽ đồng ý công chứng. 

    Chào bạn khongtheyeuemhon !

    Doanh nhiệp TN không phải là pháp nhân. Vì sao các ngân hàng không cho cá nhân ông A ký HĐ tín dụng trực tiếp cho đơn giản vậy bạn ?

    Giấy phép KD, phương án KD .... của DNTN B do ông A là chủ chỉ xem là tài liệu chứng minh về mục đích sử dụng vốn và khả năng trả nợ được không ?

    Trân trọng.

     

     

     

     
    Báo quản trị |  
  • #278152   28/07/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (734)
    Số điểm: 8995
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 755 lần
    Moderator

    Chào bạn ngocloan1990,

    Nếu chỉ ông B đứng vay vốn thì sẽ tính là cá nhân vay vốn, còn nếu DNTN A vay vốn thì sẽ tính là doanh nghiệp vay vốn. Giữa vay vốn của cá nhân và vay vốn của doanh nghiệp có những khác biệt nhất định mà cụ thể nhất là số tiền vay. Doanh nghiệp thường vay được nhiều tiền hơn do phải kinh doanh, có những dự án lớn, hợp đồng lớn. Cá nhân cũng có thể vay kinh doanh nhưng khó chứng minh hơn doanh nghiệp. Thường khi bạn đi vay vốn, muốn vay một số tiền lớn nhân viên Ngân hàng sẽ khuyên bạn nên thành lập công ty để vay được dễ hơn.

    Cá nhân ông B mà ký hợp đồng vay vốn rồi đưa cho DNTN A sử dụng là không được bạn ạ. Vì như thế nó vi phạm quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước quy định, cụ thể là sai về mục đích sử dụng vốn. Ông B vay cho ông B sử dụng thì được, chứ ko được vay cho Doanh nghiệp của ông B, nếu Doanh nghiệp muốn vay thì doanh nghiệp phải tự đứng ra vay. Mặc dù suy cho cùng, giữa ông B và DNTN A vay chẳng có gì khác biệt vì đều là tài sản đảm bảo thuộc sở hữu của ông B. Tuy nhiên, sự khác biệt là vay cá nhân và vay doanh nghiệp như đã nêu ở trên.

    Thân,

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Khongtheyeuemhon vì bài viết hữu ích
    ngocloan1990 (28/07/2013)
  • #278939   01/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 100
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 224 lần


    Khongtheyeuemhon viết:

    Chào bạn ngocloan1990,

    Nếu chỉ ông B đứng vay vốn thì sẽ tính là cá nhân vay vốn, còn nếu DNTN A vay vốn thì sẽ tính là doanh nghiệp vay vốn. Giữa vay vốn của cá nhân và vay vốn của doanh nghiệp có những khác biệt nhất định mà cụ thể nhất là số tiền vay. Doanh nghiệp thường vay được nhiều tiền hơn do phải kinh doanh, có những dự án lớn, hợp đồng lớn. Cá nhân cũng có thể vay kinh doanh nhưng khó chứng minh hơn doanh nghiệp. Thường khi bạn đi vay vốn, muốn vay một số tiền lớn nhân viên Ngân hàng sẽ khuyên bạn nên thành lập công ty để vay được dễ hơn.

    Cá nhân ông B mà ký hợp đồng vay vốn rồi đưa cho DNTN A sử dụng là không được bạn ạ. Vì như thế nó vi phạm quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước quy định, cụ thể là sai về mục đích sử dụng vốn. Ông B vay cho ông B sử dụng thì được, chứ ko được vay cho Doanh nghiệp của ông B, nếu Doanh nghiệp muốn vay thì doanh nghiệp phải tự đứng ra vay. Mặc dù suy cho cùng, giữa ông B và DNTN A vay chẳng có gì khác biệt vì đều là tài sản đảm bảo thuộc sở hữu của ông B. Tuy nhiên, sự khác biệt là vay cá nhân và vay doanh nghiệp như đã nêu ở trên.

    Thân,

    Ý kiến bạn tôi hoàn toàn đồng ý. Tôi đã tìm hiểu về HĐ tín dụng về trường hợp chúng ta đang trao đổi.

    Thực tế thì hình như mỗi ngân hàng làm một cách nhưng nói chung là tương tự cách bạn nói.

    Tuy nhiên, tôi thấy có một trường hợp họ làm khá lạ (vì vậy mà tôi nghĩ là cách hay) : Nhập 2 chủ thể cá nhân và pháp nhân thành một. Ví dụ :

    Người vay :

    ông : Khongtheyeuemhơn

    địa chỉ : diễn đàn dân luật , phường     , quận   .

    là chủ sở hửu (không ghi giám đốc) DNTN A

    và thế chấp bằng tài sản của ông khongtheyeuemhon là căn nhà.

    như vậy có đúng hay không ?

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    Khongtheyeuemhon (06/08/2013)
  • #278973   01/08/2013

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6836)
    Số điểm: 76358
    Cảm ơn: 1954
    Được cảm ơn 3710 lần


    Trường hợp này người hỏi cho rằng đây là hợp đồng bảo lãnh là chưa đúng đâu anh ntdieu ạ :~. Căn cứ pháp lý là điều 361 BLDS:

    Ðiều 361. Bảo lãnh

    Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

    Đúng ra nó phải là hợp đồng thế chấp như các thành viên khongtheyeuemhon và ngocloan đã trao đổi. Xin xâm xê chuyện này chút, dù thực chất cũng mù mờ lắm, mong mọi người giơ cao đánh khẽ nếu có cái nhìn nào đó của tui mang tính phiến diện 

    Ðiều 342. Thế chấp tài sản

    1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

    Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

    2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

    3. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Ðiều 715 đến Ðiều 721 của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Câu hỏi của bạn này, mình xác định rằng có 2 quan hệ, tương ứng với 2 hợp đồng:

    - Hợp đồng vay vốn giữa DNTN A và ngân hàng cho vay, trong đó tư cách được xác định: bên vay là DNTN A và bên cho vay là Ngân hàng.

    - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng cho vay (đồng thời là bên nhận thế chấp) và anh B với tư cách là bên thế chấp; mục đích của hợp đồng thế chấp là bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho hợp đồng vay giữa ngân hàng và DNTN A. Hợp đồng này phải được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

    Quan điểm của tôi, quan hệ hợp đồng thế chấp này chỉ bao gồm 2 bên, bên thế chấp là anh B và bên nhận thế chấp là Ngân hàng. Việc DNTN ký vào hợp đồng thế chấp này không cần thiết, nếu DNTN A có ký vào hợp đồng thế chấp cũng không phát sinh giao dịch giữa anh B với DNTN A.

    Vì không phát sinh giao dịch giữa anh B và DNTN A nên hợp đồng thế chấp này không vi phạm điều 144 BLDS2005:

    Điều 144. Phạm vi đại diện

    1. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    2. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền.

    3. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

    4. Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi đại diện của mình.

    5. Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Tình huống chủ topic nêu tôi hiểu rằng quyền sử dụng đất của anh B (chủ DNTN A) này chưa đưa vào vốn đầu tư ban đầu của chủ DNTN theo quy định tại Điều 21 và Điều 142 của Luật Doanh nghiệp, hoặc đã đưa vào vốn đầu tư nhưng chưa sang tên. Đồng thời, quy định tại điều 141 nêu rõ:

    Điều 141. Doanh nghiệp tư nhân

    1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

    Về mặt chủ thể, anh B và DNTNA là 2, nhưng về tài sản, không có sự độc lập, minh bạch về trách nhiệm tài sản giữa chủ doanh nghiệp và DNTN. Về vấn đề thế chấp để bảo đảm giao dịch vay vốn giữa ngân hàng và DNTNA phù hợp với quy định về giao dịch bảo đảm hiện nay. 

    1. Sửa đổi khoản 1 và khoản 9 Điều 3 như sau:

    1. Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp”. 

    Túm lại, với 2 mối quan hệ với 2 dạng giao dịch khác biệt; điểm đặc biệt là hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và anh B có mục đích là "bảo đảm thanh toán tiền vay" cho hợp đồng vay giữa Ngân hàng và DNTNA. Nếu nhìn vào trách nhiệm tài sản có thể nhầm lẫn giữa tài sản của DNTN và tài sản của B, từ đó nhầm lẫn về tư cách pháp lý giữa các hợp đồng, các giao dịch; mà cụ thể là tư cách pháp lý của B và DNTN A trong các giao dịch về vay vốn, thế chấp quyền sử dụng đất. Không cần phản ủy quyền (thực chất ủy quyền cũng chả làm mất tư cách của B trong việc bảo đảm bằng tài sản của mình). Tui thấy ở ngân hàng hiện nay cũng làm 2 hợp đồng:

    (1) Hợp đồng vay: Bên vay và bên cho vay.

    (2) Hợp đồng thế chấp bảo đảm tiền vay: bên thế chấp và bên nhận thế chấp; trong đó bên thế chấp có thể là bên vay, cũng có thể bên thứ 3 bất kỳ. Bởi mục đích của hợp đồng thế chấp đã nêu rõ là bảo đảm giao dịch vay (1), nội dung hợp đồng thế chấp được ngân hàng nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật cũng như quy chế thế chấp, cầm cố, bảo lãnh...

     

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn nguyenkhanhchinh vì bài viết hữu ích
    Khongtheyeuemhon (06/08/2013) ngocloan1990 (02/08/2013)
  • #279658   06/08/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (734)
    Số điểm: 8995
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 755 lần
    Moderator

    Hi ngocloan1990

    Mấy bữa nay ốm đau nên vắng bóng, 

    Trường hợp như bạn đưa ra thì vẫn là vay cá nhân thôi, dù có thêm thông tin là chủ sở hữu hay chủ doanh nghiệp tư nhân ABC... Vì người vay: ông Khongtheyeuemhon.... thế là đủ xác định rồi. Nếu muốn đưa vốn vào doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty thì có thể sử dụng = cách: vay vốn vì mục đích kinh doanh (bổ sung vốn, góp vốn vào doanh nghiệp, công ty....). 

    Cũng cần lưu ý là chủ doanh nghiệp tư nhân chưa hẳn là giám đốc doanh nghiệp, vì doanh nghiệp tư nhân cũng có thể thuê giám đốc để điều hành doanh nghiệp mà.

    Thân,  

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Khongtheyeuemhon vì bài viết hữu ích
    ngocloan1990 (06/08/2013)
  • #279660   06/08/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (734)
    Số điểm: 8995
    Cảm ơn: 654
    Được cảm ơn 755 lần
    Moderator

    Chắc là bạn đó nhầm lẫn đó bác ntdieu! Trường hợp này là hợp đồng thế chấp chứ không phải bảo lãnh.  

    Cái vụ lùm xùm giữa "hợp đồng thế chấp" hay "hợp đồng bảo lãnh" quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng "vô hiệu" hay "đúng quy định của pháp luật" Hiệp hội ngân hàng đã có rất nhiều văn bản kiến nghị lên Bộ Tư pháp và Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao rồi nhưng chưa có câu trả lời. Hiện nay vấn đề này đang rất "nóng" trong lĩnh vực ngân hàng.  

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-