Pháp luật Việt Nam-Lỗ hổng và thách thức!

Chủ đề   RSS   
  • #10836 29/07/2008

    bluesea
    Top 500
    Chồi

    Quảng Trị, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2008
    Tổng số bài viết (113)
    Số điểm: 1520
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 8 lần


    Pháp luật Việt Nam-Lỗ hổng và thách thức!

    Cải cách giáo dục,những bất cập!

    Gần đây, sau một thời gian cải cách giáo dục từ chương trình học đến chương trình của sách giáo khoa, thì Bộ Giáo dục đưa ra một chương trình cải cách nữa  là thi tốt nghiệp  và thi tuyển sinh đại học vào một kỳ thi!

    Tính ra chưa đầy nửa năm, Bộ GDĐT ban hành quy chế thi tốt nghiệp phổ thông và bổ túc trung học phổ thông. Học sinh chưa kịp nắm hết, Bộ lại thực hiện sửa đổi quy chế.

    Hiện tại, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD-ĐT) vừa gửi Dự thảo đổi mới thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và trung cấp tới các ban, ngành liên quan đóng góp ý kiến.

    Theo đó, kỳ thi sẽ gồm sáu môn, ba môn bắt buộc là: toán, văn, ngoại ngữ, một môn do Bộ quy định riêng từng năm và hai môn do thí sinh tự chọn. Nếu thể thức thi này “vận hành” ổn thì từ năm 2010 hoặc 2011, thí sinh sẽ được tự chọn luôn cả ba môn ngoài môn bắt buộc.

    Cũng theo bản dự thảo này, chỉ cần 3 điểm/môn thì có thể đậu tốt nghiệp. Và để thi sẽ gồm hai mức độ câu hỏi: 60% (sáu điểm) nằm trong chương trình phổ thông, với độ khó trung bình để xét tốt nghiệp; 40% (bốn điểm) còn lại sẽ nâng cao để chọn thí sinh vào đại học. Do đó thí sinh chỉ cần làm đúng 50% của phần đề chương trình phổ thông (ba điểm) là đạt yêu cầu, tương đương 18 điểm cho cả kỳ thi. Thí sinh từ mức điểm này đến 32 điểm sẽ được công nhận tốt nghiệp trung bình, 32 đến 46 điểm sẽ đạt loại khá và trên 46 điểm đạt loại giỏi. Từ mức điểm này, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp sẽ đưa ra mức điểm sàn để xét tuyển.

    Theo Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng, trong vài năm tới, ngành giáo dục chưa thể thực hiện việc công nhận tốt nghiệp cho người học mà không tổ chức kỳ thi đánh giá có tính chất quốc gia. Nếu bỏ thi tốt nghiệp THPT sẽ khiến trong suốt những năm học phổ thông, người học chỉ tập trung vào những môn sẽ thi tuyển đầu vào ĐH, CĐ dẫn đến sự thiếu kiến thức phổ thông toàn diện khi bước vào đời, lập thân, lập nghiệp.

    Thật sự rất đơn giản! Nhưng theo tôi, nếu chỉ cần điểm 3 cho một môn thì không cần phải học và Bộ cũng không cần phải “mất công” cải cách chương trình giáo dục làm gì?!

     

     

    Cập nhật bởi LawSoft03 ngày 26/03/2010 11:52:20 AM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 15/03/2010 06:38:28 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 15/03/2010 06:22:19 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 13/03/2010 06:17:51 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 09/03/2010 07:20:56 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 09/03/2010 06:25:25 PM
     
    269377 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn bluesea vì bài viết hữu ích
    deezay_tammao (11/12/2014)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

29 Trang «<22232425262728>»
Thảo luận
  • #11336   07/10/2008

    hangtr
    hangtr

    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2008
    Tổng số bài viết (19)
    Số điểm: 1035
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Người lao động không nên ' tiếp tay' cho doanh nghiệp

    Trước đây tôi đã từng làm việc cho công ty tư nhân, mức đóng BHXH rất thấp so với lương thực lĩnh, điều này rất thiệt thòi cho người lao động khi được hưởng các khoản trợ cấp từ BHXH, sau khi chuyển sang làm việc ở các công ty khác trong đàm phán về benefit bao giờ tôi cũng yêu cầu đóng BHXH theo lương thực lĩnh, nếu công ty nào không đồng ý thì tôi cũng không nuối tiếc gì vì họ đã thể hiện chính sách của họ đối với người lao động không thực sự tốt, công ty họ không minh bạch, tôi nghĩ chính những người lao động có kinh nghiệm cần phải tiên phong đấu tranh về vấn đề này, vì cũng cần thông cảm cho các em mới tốt nghiệp, đôi khi vẫn bị doanh nghiệp ép vì đang cần việc làm
     
    Báo quản trị |  
  • #11337   07/10/2008

    hanoithu66
    hanoithu66
    Top 150
    Lớp 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:01/07/2008
    Tổng số bài viết (528)
    Số điểm: 2620
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 52 lần


    Người lao động phải tự bảo về quyền lợi cho bản thân

    Chào các bạn, 
    Đúng như các các bạn đã nói thì trước hết để chấm dứt tình trạng này thì bản thân người lao động phải tự đấu tranh để bảo về quyền lợi của mình. Họ phải thoả thuận với chủ lao động là được đóng bảo hiểm xã hội theo đúng mức lương thực lĩnh.
    Nhưng vấn đề ở đây là hiện nay vẫn còn rất nhiều lao động không hiểu hay không thể đàm phàn với người sử dụng lao động để yêu cầu được đóng BHXH theo lương thực lĩnh. Họ cần một công việc để mưu sinh nên nhiều khi phải bắt buộc làm việc mặc dù biết là như vậy không đảm bảo quyền lợi của bản thân.
    Như vậy rất cần phải có một quy định cụ thể của Nhà nước về tình trạng này.
     
    Báo quản trị |  
  • #11338   21/01/2009

    thu10106
    thu10106

    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:25/11/2008
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thay đổi cách tính lương để giảm tiền BHXH công ty phải đóng cho nhân viên có đúng không?

    Tôi hiện nay đang làm việc cho 1 công ty CP. Hợp đồng của tôi là HĐ lao động có thời hạn và sẽ kết thúc vào tháng 4/2009. Theo như HĐ đã ký kết tôi được hưởng mức lương là 2.500.000 đ/ tháng (không ghi rõ là lương cơ bản hay thế nào) và được đóng BHXH theo đúng mức lương này. Nay công ty có quyết định mới là từ ngày 01/01/2009 mức lương nhận được của tôi tuy vẫn được giữ nguyên nhưng mức đóng BHXH của tôi chỉ còn là 50 % mức lương mà tôi được nhận vì công ty áp dụng cách tính lương mới là lương cơ bản chiếm 50% lương + 50% là các phụ cấp khác.
    Vậy tôi xin hỏi công ty tôi làm như vậy có đúng không? Rất mong nhận được ý kiến của các luật gia.
    Tôi xin chân thành cảm ơn!
     
    Báo quản trị |  
  • #11339   21/01/2009

    bazensolo
    bazensolo

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/12/2008
    Tổng số bài viết (13)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    hanoithu66 viết:
    Chào các bạn, 
    Đúng như các các bạn đã nói thì trước hết để chấm dứt tình trạng này thì bản thân người lao động phải tự đấu tranh để bảo về quyền lợi của mình. Họ phải thoả thuận với chủ lao động là được đóng bảo hiểm xã hội theo đúng mức lương thực lĩnh.
    Nhưng vấn đề ở đây là hiện nay vẫn còn rất nhiều lao động không hiểu hay không thể đàm phàn với người sử dụng lao động để yêu cầu được đóng BHXH theo lương thực lĩnh. Họ cần một công việc để mưu sinh nên nhiều khi phải bắt buộc làm việc mặc dù biết là như vậy không đảm bảo quyền lợi của bản thân.
    Như vậy rất cần phải có một quy định cụ thể của Nhà nước về tình trạng này.


    Tình trạng này đã có từ lâu rồi, chấm dứt được hay không là do anh Quản lý lao động địa phương ấy. Các ngài trên ấy biết nhưng mà không làm thôi. Ở địa phương tôi, họ làm ráo riết nên việc thực hiện BH khá tốt.

     

    Công đoàn cơ sở cũng cần tham gia vào vụ này. Rõ ràng là DN trốn BH mà không đứng ra bảo vệ người lao động thì phải “xử” anh Công đoàn trước. Người lao động muốn đấu tranh cái gì cũng phải qua Công đoàn để đấu tranh.

     
    Báo quản trị |  
  • #11439   31/10/2008

    phongdatdai
    phongdatdai
    Top 500
    Chồi

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:16/07/2008
    Tổng số bài viết (260)
    Số điểm: 1230
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Tuổi để được đứng tên trên giấy đỏ?

    Pháp luật về đất đai hiện nay chưa quy định về độ tuổi để đứng tên trên giấy đỏ. Căn cứ theo quy định tại Điều 20 Luật Dân sự tôi mạo muội có phát biểu như sau: "Để đứng tên trên giấy đỏ thì người sử dụng đất phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, tức là người đủ 18 tuổi trở lên". Theo các anh/chị phát biểu trên đúng hay sai? Căn cứ vào đâu?
     
    Báo quản trị |  
  • #11440   21/10/2008

    hanoithu66
    hanoithu66
    Top 150
    Lớp 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:01/07/2008
    Tổng số bài viết (528)
    Số điểm: 2620
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 52 lần


    Đứng tên trên sổ đỏ

    Chào bạn,
    Câu hỏi của bạn rất thú vị. Theo như quy định của Điều 3 Luật Đất đai: Việc quản lý và sử dụng đất đai phải tuân theo quy định của Luật này. Trường hợp luật không quy định thì áp dụng các quy định khác của Pháp luật liên quan. Trong nội dung Luật đất đai chưa có quy định về độ tuổi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ta hoàn toàn có thể áp dụng theo quy định của Luật Dân sự. Và theo quy định tại các điều 14,15,16,17,18, 18 và 20 của Bộ luật Dân sư thì người đủ 18 tuổi là người thành niên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
     
    Báo quản trị |  
  • #11441   22/10/2008

    phongdatdai
    phongdatdai
    Top 500
    Chồi

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:16/07/2008
    Tổng số bài viết (260)
    Số điểm: 1230
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Tuy nhiên, pháp luật đất đai và pháp luật dân sự vẫn cho phép người chưa đủ năng lực hành vi dân sự được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (đương nhiên phải có người giám hộ). Như vậy không lẽ nhận chuyển nhượng đất rồi phải đợi đủ 18 tuổi mới được đứng tên trên giấy đỏ. Điều này không hợp lý cho lắm.
     
    Báo quản trị |  
  • #11442   23/10/2008

    Lucy_3112
    Lucy_3112
    Top 500
    Mầm

    Vĩnh Phúc, Việt Nam
    Tham gia:19/09/2008
    Tổng số bài viết (253)
    Số điểm: 807
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 11 lần


    Theo tôi đợi đủ 18 tuổi mới được đứng tên trên Giấy đỏ cũng hợp lý lắm!

    Vì khi mình dưới 18 tuổi - tức là chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mình có đứng tên trên Giấy đỏ cũng không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác, nhưng mình vẫn có quyền được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (trong nhiều trường hợp người sắp chết hoặc chuyển đi định cư ở nước ngoài nhượng lại cho con, cháu,...).

    Tôi chỉ thấy không hợp lý ở chỗ, có những trường hợp chưa đủ 18 tuổi vẫn được đứng tên trong hồ sơ xin đất và được cấp đất ở một số địa phương.
     
    Báo quản trị |  
  • #11443   31/10/2008

    cuimia_09
    cuimia_09

    Sơ sinh

    Hậu Giang, Việt Nam
    Tham gia:31/10/2008
    Tổng số bài viết (13)
    Số điểm: 55
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    cái vụ này hay à nha!

     Câu hỏi của bạn thật thú vị; tuy nhiên, theo tôi câu trả lời trong trường hợp này thì chắc còn phải đợi luật đất đai hoặc các luật có liên quan quy định. Thực tế vẫn có người chưa thành niên đừng tên trên giấy đỏ, chuyện này không hiếm. Nếu bạn viết câu hỏi này và vô bao thư, gửi văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, phòng tài nguyên môi trường hoặc sở tài nguyên & Môi trường, tui nghĩ các vị đầu ngành ấy cũng pí tay thui.
     
    Báo quản trị |  
  • #9699   19/10/2009

    khaiphong
    khaiphong

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:15/11/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Mời thảo luận chủ đề: "Pháp luật về M&A tại Việt Nam"

    Luật sư Phạm Chí Công

    KHAIPHONG Business Law

    Sáp nhập và mua lại (Mergers & Acquisitions - M&A) trải qua năm 2007 đánh dấu sự bùng nổ của một hình thức đầu tư quan trọng và phổ biến trên thế giới, theo số liệu thống kê sơ bộ của hãng thông tin tài chính Thomson Financial có trụ sở tại Mỹ cho thấy, năm 2007, tổng trị giá của các vụ M&A đạt 4.400 tỷ USD, tăng 21% so với mức 3.600 tỷ USD vào năm 2006. Những ngày đầu năm 2008 giới truyền thông toàn cầu dõi theo Thương vụ M&A mở hàng của Tập đoàn Xuất bản và Truyền thông hàng đầu thế giới Thomson Corporation (Canađa) có trụ sở tại Mỹ đang hoàn tất các thủ tục để mua lại 53% cổ phần của Hãng truyền thông Reuters Group PLC lớn nhất thế giới của Anh với giá 17,2 tỷ USD. Với tên mới Thomson-Reuters sẽ trở thành tập đoàn cung cấp dữ liệu và tin tức tài chính lớn nhất thế giới cho các ngân hàng, các tập đoàn đầu tư và các công ty dịch vụ tài chính, vượt qua cả đối thủ hiện nay là hãng tin kinh tế, tài chính tư nhân Bloomberg. Tín hiệu đầu tiến đánh dấu sự bùng nổ của xu thế “toàn cầu hoá Công ty” trong năm 2008.

    Thực tiễn phát triển tại Việt Nam cho thấy, theo tư duy ăn chắc mặc bền, sự phát triển Doanh nghiệp trong nước thường gắn với việc Doanh nghiệp tự tổ chức triển khai hoạt động đầu tư, kinh doanh từ nhỏ đến vừa rồi lớn. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế nguồn cung hàng hoá trên thị trường M&A. Trước khi gia nhập WTO, các chuyên gia kinh tế đã cho rằng các Doanh nghiệp trong nước có thể bị thôn tính bởi các Doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên hơn một năm từ khi Việt Nam gia nhập WTO dự báo này vẫn chưa diễn ra thực sự rõ nét. Điều này một phần do lộ trình hạn chế tiếp cận thị trường trong Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam. Theo lộ trình này đến năm 2009 rất nhiều các hạn chế “dưới 51%” áp dụng với hình thức đầu tư “hiện diện thương mại” hết cam kết, tỷ lệ nắm giữ “dưới 49%” trên thị trường chứng khoán, các tỷ lệ hạn chế trong các lĩnh vực tài chính khác, ngân hàng, bảo hiểm đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ được điều chỉnh, chúng tôi cho rằng bắt đầu từ năm 2009, sẽ là thời điểm bùng nổ của M&A trong nước. Trước thời điểm bùng nổ đó các Doanh nghiệp trong nước cần “M&A nội bộ” trước, tạo dựng các lợi thế, tăng nội lực để rồi có bị mua thì đó cũng là một giao dịch M&A bình đẳng.

     Nhìn vào thành công của các giao dịch “M&A” diễn ra trong nước thời gian qua, có thể thấy quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005 về “sáp nhập và mua lại” đang phát huy tác dụng nhất định đối với thị trường M&A. Để hoàn tất một giao dịch M&A các Bên giao dịch phải thực hiện một trình tự nhiều bước song cơ bản phải giải quyết ba nội dung chính: (i) Xác định giá trị mua bán (giá trị các Doanh nghiệp M&A), sau đó (ii) lựa chọn hình thức Pháp lý để thực hiện và (iii) thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước từ hoạt động M&A. Trong phạm vi bài viết này, xin đi vào phân tích và đánh giá “các giải pháp Pháp lý” cụ thể thực hiện một giao dịch M&A theo quy định của Luật Đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005. Có thể khẳng định hành lang Pháp lý cho hoạt động M&A của Việt Nam cũng đã cơ bản được hình thành, tuy nhiên thực tiễn áp dụng luật cũng cho thấy những bất cập nhất định, chưa thực sự là động lực thúc đẩy các giao dịch M&A. Vấn đề vẫn là sự linh hoạt cần thiết, chuyên môn sâu của các cơ quan quản lý, cơ quan thuế, Đăng ký kinh doanh và giới tư vấn, quản trị Công ty.

    Cũng giống các mỹ từ mang nghĩa quản trị khác như “tái cơ cấu”, “tái cấu trúc”, “thôn tính”...thì “sáp nhập và mua lại – M&A” cũng không phải là một khái niệm pháp lý mà là một hình thức đầu tư. Điều 21 Luật đầu tư 2005 ghi nhận quyền của Nhà đầu tư được thực hiện hai hình thức đầu tư “sáp nhập và mua lại” như là các hình thức đầu tư trực tiếp. Các hình thức này khi đặt dưới sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2005 các bên “sáp nhập và mua lại” phải xác định các cách thức linh hoạt và có lợi nhất để áp dụng vào việc thực hiện giao dịch “M&A” và đảm bảo tuân thủ Luật cạnh tranh. Tính linh hoạt sẽ được xác định trên cơ sở chiến lược đầu tư, về lĩnh vực cần mở rộng, sự chi phối các phân khúc thị trường, tương ứng với chiến lược đó sẽ thực hiện giao dịch “sáp nhập” hoặc “mua lại”.

    SÁP NHẬP

    Bản chất của việc “sáp nhập” là tập hợp các Công ty về dưới một “ngọn cờ” để mạnh hơn, vững vàng hơn và theo đó việc tập hợp sẽ được thực hiện theo các cách thức khác nhau. Trong khi Luật Đầu tư 2005, Điều 21 chỉ quy định một hình thức “sáp nhập” thì Luật Doanh nghiệp 2005, các Điều 152 về “Hợp nhất Doanh nghiệp và ”Điều 153 về “Sáp nhập Doanh nghiệp” quy định các cách thức này.

    Điểm khác nhau giữa hai hình thức này là tư cách Pháp lý của các Công ty sau giao dịch “M&A”, việc “hợp nhất” sẽ dẫn đến việc chấm dứt tư cách của tất cả các Công ty bị hợp nhất, còn “sáp nhập” chỉ dẫn đến việc chấm dứt tư cách của Công ty bị sáp nhập, tư cách của Công ty nhận sáp nhập vẫn tồn tại. Như vậy việc tách ra hai hình thức thực hiện theo Luật Doanh nghiệp hiện nay là không thực tế. Sẽ thực tế, dễ hiểu, dễ áp dụng và minh bạch khi chỉ cần để tồn tại hình thức “sáp nhập” thống nhất với Luật Đầu tư, việc bên nào chấm dứt tư cách sẽ do các Bên thoả thuận mà không cần phải có sự điều chỉnh của Luật.

    “M&A” được thực hiện thông qua “hợp nhất” hoặc “sáp nhập” Doanh nghiệp thực chất là giao dịch để hai hay nhiều Doanh nghiệp tập hợp lại bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền nghĩa vụ vào một một Doanh nghiệp khác. Các bên thông qua hợp đồng hợp nhất hoặc sáp nhập để phải xác định các điều kiện hợp nhất, sáp nhập, phương án sử dụng lao động, thời hạn thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của Công ty bị hợp nhất, sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của Công ty hợp nhất, sáp nhập. Sau đó các bên thông qua Điều lệ Công ty, tiến hành thủ tục đăng ký cấp “Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh” (GCNĐKKD) theo Luật Doanh nghiệp hoặc đăng ký cấp “Giấy Chứng nhận đầu tư đồng thời là Chứng nhận Đăng ký kinh doanh” (GCNĐT) theo Luật Đầu tư cho doanh nghiệp mới. Quy trình M&A hoàn tất. Tuy nhiên do việc xuất hiện hai loại giấy khai sinh cho Công ty theo Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư nên trong quá trình thực hiện giao dịch chắc chắn sẽ xuất hiện các tình huống.

    Thứ nhất là trường hợp các Công ty giao dịch cùng được cấp GCNĐKKD hoặc cùng được cấp GCNĐT hoặc được cấp GCNĐKKD và GCNĐT nằm trên cùng một địa bàn tỉnh, thành phố thì việc thực hiện sẽ đơn giản, các bên giao dịch chỉ cần hoàn tất văn kiện pháp lý sáp nhập gửi đến Sở Kế hoạch và Đầu tư. Các công ty giao dịch có thể tự lựa chọn hình thức thực hiện để cấp GCNĐKKD hoặc GCNĐT.

    Thứ hai là trường hợp các công ty trong giao dịch sáp nhập đã được cấp GCNĐKKD hoặc GCNĐT có trụ sở khác tỉnh, thành phố trong khi cùng có Dự án đầu tư kể cả thuộc diện thẩm tra hoặc thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. Trong trường hợp này việc xác định thẩm quyền và trình tự pháp lý vẫn thực hiện được dù chưa có hướng dẫn cụ thể, các bên sáp nhập sẽ lựa chọn một địa phương đặt trụ sở chính để thực hiện các thủ tục pháp lý sáp nhập bình thường tại địa phương đó cho Công ty mới sau đó sẽ điều chỉnh GCNĐT của các bên trước khi sáp nhập đang thực hiện ở các địa phương khác.

    Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định “Doanh nghiệp nhận sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại (Điều 10, Nghị định 108/2006/NĐ-CP). Tuy nhiên trên thực tế chúng tôi nhận định rằng trong mọi trường hợp, kể cả trường hợp các bên sáp nhập đều được cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD thì các bên vẫn nên tiến hành thủ tục theo quy định Đăng ký kinh doanh sau đó Công ty sáp nhập chỉ cần điều chỉnh nội dung về Chủ đầu tư” trong giấy CNĐT của các Dự án.

    Một trong những quy định của Luật về công ty “hợp nhất” hoặc “sáp nhập” phải cùng loại đang hạn chế các giao dịch M&A. Có thể lý giải như sau:

    Trong trường hợp các Công ty tiến hành “hợp nhất” hoặc “sáp nhập” cùng là Công ty TNHH thì giá trị của Công ty được thành lập do “hợp nhất” hoặc “sáp nhập” chính là tổng vốn góp của các thành viên hai Công ty. Như vậy để “hợp nhất” hay “sáp nhập” thì phải định giá lại giá trị phần vốn góp của tất cả các thành viên, sau đó khi chuyển vào “Công ty hợp nhất” hay “Công ty sáp nhập”. Công ty mới nắm giữ 100% vốn góp sẽ phân chia tỷ lệ vốn góp trong vốn Điều lệ cho tất cả thành viên mới trên cơ sở thoả thuận tại “Hợp đồng hợp nhất” hoặc “Hợp đồng sáp nhập”  được các Bên chấp thuận.

    Trong trường hợp các Công ty tiến hành “hợp nhất” hay “sáp nhập” cùng là Công ty cổ phần thì giá trị của của Công ty được thành lập do “hợp nhất” hoặc “sáp nhập” chính là toàn bộ cổ phần nắm giữ của tất cả Cổ đông. Như vậy để “hợp nhất” hay “sáp nhập” thì phải định giá lại cổ phần của các Công ty, sau đó khi chuyển vào Công ty Hợp nhất hay Công ty nhận sáp nhập. Công ty mới nắm giữ 100%  cổ phần sẽ phân chia tỷ lệ cổ phần trong vốn Điều lệ cho các Cổ đông trong Công ty mới trên cơ sở thoả thuận tại “Hợp đồng hợp nhất” hoặc “Hợp đồng sáp nhập” được các Bên chấp thuận.

                Như vậy trong mọi trường hợp nhất hoặc sáp nhập đều phát sinh yêu cầu xác định giá trị của “phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu và các quyền tài sản khác...” để chuyển vào Công ty hợp nhất, sáp nhập. Phần giá trị chuyển vào đó không thể xác định theo “lô”, “mớ” mà buộc phải xác định được một tỷ lệ phần trăm cụ thể trong giá trị 100% vốn Điều lệ mới. Điều lệ mới sẽ được thành viên, cổ đông Công ty hợp nhất hoặc Công ty nhận sáp nhập thông qua, như vậy nếu là các công ty khác loại thì “vốn góp” và “cổ phần” vẫn phải xác định và định giá thành tổng giá trị “hợp nhất” hay “sáp nhập” để các bên đồng ý một tỷ lệ sẽ nắm giữ trong Pháp nhân cuối cùng. Qua đó thấy rằng quy định các Công ty hợp nhất hoặc sáp nhập phải cùng loại gây cản trở “mối duyên” của các Công ty khác loại.

                Bên cạnh đó giao dịch “sáp nhập” theo quy định tại Điều 56, Nghị định 108/2006/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài là không thực tế bởi một Công ty ở nước ngoài không thể sáp nhập với một doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa còn hạn chế Doanh nghiệp Việt Nam sáp nhập theo Luật đầu tư.

    Trên thực tế, hoạt động “sáp nhập” diễn ra rất đa dạng, có thể giữa các Công ty có quy mô ngang tầm, mục đích “thôn tính” thấp hơn. Trường hợp khác, công ty nhỏ chấp nhận mất tư cách khi sáp nhập vào Công ty lớn với kỳ vọng tăng giá trị phần tài sản của mình sau sáp nhập, yếu tố thôn tính rõ hơn. “Sáp nhập” hàm chứa một hình tượng “góp gạo thổi cơm chung”, các bên phải thoả thuận trước khi góp về tỷ lệ gạo trước khi góp để được phần cơm tương ứng, khi đã góp rồi thì không thể xác định được gạo của ai. Nồi cơm do các bên cùng nấu với kỳ vọng có nồi cơm to mà lại tốn ít củi lửa. Nhưng sẽ chẳng có nồi cơm Thạch Sanh, do đó trước khi góp gạo phải cân đong đo đếm kỹ lưỡng để khỏi dẫn đến tình trạng bát đầy bát vơi, ăn bớt hay ăn vụng!

    & MUA LẠI

    Xét đến cùng thì bản chất của “M&A” vẫn là quyền sở hữu Công ty, trong giao dịch M&A, nếu “sáp nhập” buộc các bên vào một giao dịch bình đẳng” thì “mua lại” sẽ khó có sự “bình đẳng” thường mang mục đích thôn tính kiểu “cá lớn nuốt cá bé”.

    Theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư 2005 thì nhà đầu có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Như vậy trong giao dịch “M&A”, ngoài việc sáp nhập như đã trao đổi ở phần trên, nhà đầu tư có thể thực hiện theo hình thức mua lại” theo hai cách thức (i) nhận chuyển nhượng vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần; và (ii) mua lại Doanh nghiệp. Với cách thứ nhất, bên mua sẽ nhận chuyển nhượng vốnmua lại phần vốn góp (trong Công ty TNHH) hoặc mua cổ phần (trong Công ty Cổ phần) đã đảm bảo được mục đích nắm giữ quyền sở hữu Công ty bị mua. Trong khi cách thứ hai, bên mua muốn mua lại Doanh nghiệp” của bên bán thì với các quy định của Luật đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn đang thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện.

    Thứ nhất, theo hình thức “nhận chuyển nhượng vốn” “mua lại phần vốn góp (trong Công ty TNHH) hoặc mua cổ phần (trong Công ty Cổ phần) về bản chất thì vẫn là giao dịch chuyển nhượng vốn đã được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005. Tuỳ theo điều kiện và mức độ cần thiết của việc chi phối Công ty, bên mua có thể nhận chuyển nhượng đa số hoặc toàn bộ phần vốn góp hoặc cổ phần trong Công ty bị mua lại.

                Điều 65, Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định : Tổ chức kinh tế có quyền chuyển nhượng vốn của mình trong doanh nghiệp sau đó thực hiện thủ tục đăng ký thành viên, đăng ký cổ đông trong sổ đăng ký thành viên, sổ đăng ký cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp”. Với việc ban hành Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, việc “mua lại Công ty” được thực hiện bởi quyền mua lại phần vốn góp, mua cổ phần được quy định và hướng dẫn áp dụng kể cả đối với nhà đầu tư nước ngoài, chúng tôi cho rằng đây là chế định quan trọng nhất thúc đẩy và tạo ra hành lang thuận lợi cho các giao dịch M&A hiện nay. Theo khoản 1, Điều 10, Nghị định 139/2007/NĐ-CP: “Tất cả các tổ chức là pháp nhân, gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân, không phân biệt quốc tịch và nơi cư trú đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp...”. Như vậy, để “mua lại” bên mua chỉ cần đạt được thoả thuận với từng thành viên hoặc cổ đông và với quy định mức không hạn chế bên mua sẽ nắm quyền sở hữu Công ty tương ứng với tỷ lệ nắm giữ đến 100% vốn Điều lệ Công ty trừ trường hợp thuộc các quy định hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài dưới đây:

                (i) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán; (ii) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các trường hợp đặc thù áp dụng quy định của các luật chuyên nghành như hàng không, tín dụng, ngân hàng, dầu khí, bảo hiểm, chứng khoán, luật sư, báo chí, xuất bản...(iii) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cổ phần hoá hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo pháp luật về cổ phần hoá và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và (iv) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (Phụ lục Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam).

              Để thực hiện giao dịch “mua lại” Công ty, bên mua sẽ thực hiện “quyền mua với mức không hạn chế” tương ứng với quy định của Luật Doanh nghiệp. Đối với việc mua lại Công ty TNHH được thực hiện theo quy định tại Điều 44, Luật Doanh nghiệp 2005. Theo quy định này cho phép các thành viên Công ty TNHH có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác”. Trong giao dịch mua lại, tuỳ vào tỷ lệ nắm giữ quyền sở hữu Công ty muốn mua, bên mua chỉ cần đạt được thoả thuận nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp (thông qua hợp đồng chuyển nhượng vốn góp với các thành viên) trên cơ sở sự chấp thuận của Hội đồng thành viên các bên hoàn tất việc Đăng ký kinh doanh theo quy định.

       Tương tự như vậy đối với việc mua lại Công ty Cổ phần được thực hiện theo hình thức nhận chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông theo quy định tại Điều 87, Luật Doanh nghiệp kể cả cổ phần của cổ đông sáng lập, chỉ có hạn chế đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết. Theo quy định này bên mua cần đạt được thoả thuận với đa số hoặc toàn bộ cổ đông (thông qua hợp đồng chuyển nhượng cổ phần) cùng với sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông các bên hoàn tất việc Đăng ký kinh doanh hoặc Đăng ký cổ đông theo quy định.

       Trong cả hai trường hợp trên, việc mua lại toàn bộ Công ty” sẽ gặp khó khăn khi một hoặc một số thành viên hoặc cổ đông không chấp thuận việc chuyển nhượng hoặc không đạt được thoả thuận về giá đối với phần vốn góp hoặc cổ phần thành viên hoặc cổ đông đó nắm giữ. Trong giao dịch “M&A”, tình huống này không hiếm và bên mua cần phải có những giải pháp pháp lý phù hợp để “thôn tính” nốt phần thiểu số còn lại. Các giao dịch chuyển nhượng vốn đang là hình thức ưa thích của các nhà đầu tư trên thế giới, giao dịch được thực hiện bí mật hoặc công khai, có những thương vụ các tập đoàn ngã ngửa khi biết công ty con hoặc công ty đối tác đã bị đối thủ cạnh tranh trực tiếp thôn tính. Đó là cạnh tranh và yêu cầu đặt ra chỉ là sự tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh, trong khi thị trường “M&A” trong nước còn sơ khai, thiếu minh bạch thì các Doanh nghiệp trong nước cần luôn đề phòng dạng cạnh tranh này.  

       Thứ hai, hình thức mua lại Doanh nghiệp”, có thể hiểu đây là hình thức “mua lại” bằng một “Hợp đồng mua bán” và Doanh nghiệp là thành một “hàng hoá”. Tuy nhiên trên thực tế giao dịch này không thực hiện được bởi Luật vẫn còn những khoảng trống Pháp lý.

    Điều 10, Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định quyền mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp” quy định này quá chung chung, trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn không có quy định nào để thực hiện việc “bán Doanh nghiệp” trừ quy định về bán doanh nghiệp tư nhân (Điều 145). Như vậy việc mua bán doanh nghiệp không có cơ sở pháp lý để thực hiện theo Luật Doanh nghiệp.

    Khoản 4, Điều 56, Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục đầu tư theo hình thức mua lại chỉ áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể trường hợp nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam thì thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp GCNĐT theo quy định tại Nghị định này”. Quy định này gần như không thể thực hiện được trên thực tế bởi cho đến thời điểm này, trên 90% doanh nghiệp Việt Nam hoạt động theo thủ tục ĐKKD. Mỗi doanh nghiệp chỉ có một GCNĐKKD nhưng có thể có nhiều GCNĐT do có nhiều Dự án, bên cạnh đó còn có rất nhiều mảng kinh doanh khác không phải thực hiện thủ tục ĐKĐT. Nhà đầu tư mua lại Doanh nghiệp sẽ phải gắn với thủ tục ĐKKD chứ không “mua lại Dự án” để “thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp GCNĐT theo quy định tại Nghị định này”.

    Thứ ba, cũng với quy định trên, chỉ áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài, vậy giao dịch mua lại của các doanh nghiệp trong nước cũng không có cơ sở pháp lý để thực hiện.

    Để khắc phục những vướng mắc này các bên trở lại áp dụng hình thức mua lại phần vốn góp, cổ phần như đã phân tích ở trên. Từ các phân tích ở trên thì các giao dịch M&A vẫn đang thực hiện được theo các cách thức khác nhau, tuy nhiên để thực sự M&A trở thành một hình thức đầu tư quan trọng, phù hợp với thông lệ quốc tế, chúng ta cần có một Nghị định quy định chi tiết về hoạt động “sáp nhập” và “mua lại” với những hướng dẫn cụ thể về nội dung, hình thức và trình tự thủ tục thực hiện. Về mặt quản lý Nhà nước sẽ thuận lợi trong việc kiểm soát các giao dịch M&A theo đúng các cam kết tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường; tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điều kiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện và tránh thất thu thuế chuyển nhượng vốn.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn khaiphong vì bài viết hữu ích
    ninh2407 (28/12/2017)
  • #9700   24/12/2008

    lethigam_ms
    lethigam_ms
    Top 200
    Lớp 1

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:03/04/2008
    Tổng số bài viết (423)
    Số điểm: 2783
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 82 lần


    Chào Ls!

    Thực tình tôi rất thích chủ đề của Luật sư đưa ra và bản thân tôi cũng rất quan tâm đến vấn đề này.
    Hiện nay, vấn đề này ở VN không phải hiếm và không mới. Nhưng nó được gọi bằng những tên gọi khác nhau: chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập...Trường hợp mua bán, có chăng chỉ là DNTN và DN NN. Nhưng Ls cũng thấy đấy, các văn bản quy định đối với các vấn đề này thực sự chưa minh bạch.
    Trường hợp mua bán DN, cũng đã có 1 chủ đề được đưa lên ở Càfe quán, không biết Ls có quan tâm?
    http://danluat.thuvienphapluat.vn/forums/?ct=TVQD&id=1106
    Có lẽ cuối năm, ai cũng bận bịu công việc, cho nên chưa quan tâm nhiều đến lĩnh vực này chăng?
     
    Báo quản trị |  
  • #9701   05/03/2009

    luatsudongnama_com
    luatsudongnama_com

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Mua bán công ty

    Xin chào Quý Luật sư !

    Hiện tôi muốn mua lại toàn bộ cổ phần của một đối tác là Doanh nghiệp trong nước.  Vậy xin Quý Luật sư cho tôi hỏi: Tôi cần phải hiểu rõ những vấn đề gì trước khi làm thủ tục mua bán? Và trình tự mua bán  được thực hiện như thế nào?

    Trân trọng cảm ơn !

     
    Báo quản trị |  
  • #9702   15/03/2009

    ladycat87
    ladycat87

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Những khó khăn nào doanh nghiệp mắc phải về vấn đề pháp lý trong quá trình sáp nhập?

    Do sự chưa hoàn chỉnh của pháp luật mà doanh nghiệp khi chọn phương án sáp nhập sẽ gặp một số khó khăn về thủ tục,... hoặc khó khăn về tình huống thực tế phát sinh do sự thiếu hoàn chỉnh đó. Những khó khăn đó là gì? biện pháp nào đưa ra cho doanh nghiệp?
     
    Báo quản trị |  
  • #9703   22/05/2009

    Nganhangtienphong
    Nganhangtienphong

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Mua bán công ty

    Đọc bài của các "Luật sư" mới thấy nói chung các luật sư của chúng ta quá mơ hồ về M&A. Nếu M&A chỉ đơn thuần là mấy cái quy định trong Luật DN, Luật đầu tư như luật sư hiểu thì VN chúng ta khó có ngành "công nghiệp" M&A đúng nghĩa của chuẩn quốc tế. Thế nào là Mergers, Acquitions, takeover, buyout,...????
    Mời cả nhà tham khảo một vài nét nhé, còn chỉ riêng các khía cạch pháp lý của M&A đã có thể chỉ ra hàng chục ngành luật điều chỉnh roài:
    http://en.wikipedia.org/wiki/M%26A
    Cập nhật bởi tienphongbank vào lúc 22/05/2009 11:35:24
     
    Báo quản trị |  
  • #9704   19/10/2009

    thanhcws
    thanhcws

    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:16/12/2008
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 15
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Áp dụng M&A vào thực tiễn của tôi

    Chào Luật sư Công, và các bạn
    Công ty tôi (cổ phần trong nước) và công ty TNHH A, Việt Nam dự kiến cùng mua lại 100% vốn góp của một công ty TNHH 01 thành viên, 100% vốn nước ngoài, đang hoạt động tại Việt Nam. Xin hỏi cách thức và quy trình (bao gồm thông tin pháp luật chi phối của Việt nam) được thực hiện như thế nào? Nếu không tiện trwo đổi trên diễn đàn thì tôi xin pháp được trao đổi riêng (email hoặc điện thoại). Trân trọng cảm ơn.
     
    Báo quản trị |  
  • #12150   24/11/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Từ 1.1.2009 chính sách bảo hiểm thất nghiệp: ĐẾN PHÚT CHÓT VẪN NGƠ NGÁC?

    #ccc" align="center">

      Từ 1.1.2009 chính sách bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực: 

    ĐẾN PHÚT CHÓT VẪN NGƠ NGÁC? 

    Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã được quy định trong Luật số 71 về Bảo hiểm xã hội từ ngày 29 tháng 06 năm 2006. Vì đây là vấn đề mới nên chính sách này đã đựơc lùi thời điểm áp dụng sau hai năm rưỡi, tức vào ngày 1/1/2009. Vậy mà cho đến tận bây giờ, các doanh nghiệp, người lao động và thậm chí cả các cơ quan nhà nước  vẫn ngơ ngác bởi chưa có các văn bản hướng dẫn cần thiết... 

    Mù mờ về chính sách
    Suốt nhiều tháng nay, người lao động khắp trong Nam ngoài Bắc nháo nhác hỏi nhau về chính sách bảo hiểm thất nghiệp, không biết chính sách đó ra sao nhưng nghe nói quy định về trợ cấp thôi việc đã áp dụng bấy nay theo Điều 42 Bộ luật Lao động bị bãi bỏ! Trên báo chí, nhiều cán bộ có trách nhiệm trả lời cũng mỗi người một phách. Nhiều luật sư có uy tín cũng lên báo khẳng định chắc nịch: Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp không hề liên quan đến chế độ trợ cấp thôi việc! Trên mạng, ở hầu hết các diễn đàn liên quan đến lao động, việc làm; liên quan đến pháp luật đều có các câu hỏi, các bài thảo luận đối chọi nhau chan chát, người bảo bỏ chế độ trợ cấp thôi việc, người nói không! Luật pháp không rõ ràng khiến người lao động hoang mang. Lo sợ vì bỗng dưng bị mất một khoản tiền lớn, nhiều lao động làm việc lâu năm tại các doanh nghiệp đã tính tới việc xin thôi việc hàng loạt trước 1/1/2009 để đòi trợ cấp thôi việc theo qui định tại Bộ luật Lao động! 

    Mãi gần đây, ngày 12/12/2008, Chính phủ mới ban hành Nghị định 127 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp. Thế nhưng, ngay cả khi có Nghị định này thì chính sách bảo hiểm thất nghiệp vẫn chưa thể triển khai vì còn rất nhiều vấn đề chưa rõ ràng trong Nghị định, trong khi đến giờ, Thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội vẫn đang trong quá trình dự thảo, lấy ý kiến tham gia! 

    Luật pháp "đá" nhau 

    Theo quy định tại các điều 17, 42 của Bộ Luật Lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc cho người lao động làm việc thường xuyên từ 12 tháng trở lên. Các qui định này cho đến hiện nay vẫn còn hiệu lực nhưng trong chương trình xây dựng Luật của Quốc hội năm 2008, 2009 không có nội dung sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Trong khi đó, khoản 6 điều 139 Luật BHXH lại qui định: “Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, cán bộ công chức”.

    Vấn đề đặt ra là, sau thời điểm ngày 1/1/2009 sẽ song song tồn tại một vấn đề nhưng lại có hai cách giải quyết trái ngược nhau của cùng một cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Quốc hội).

    Khoản 6, điều 139 Luật BHXH đã phủ nhận quy định tại điều 17, điều 42 của Bộ luật Lao động. Như vậy, nếu không sửa đổi thì điều 17, điều 42 Bộ luật Lao động chỉ tồn tại về mặt hình thức mà không có giá trị thực hiện. Trong khi đó, hằng tháng, người lao động vẫn phải đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng có khi không được hưởng. Như vậy, vô hình trung, nghĩa vụ của người lao động đã tăng lên, trong khi quyền lợi lại bị giảm đi. Điều này không phù hợp với quy định của hiến pháp và pháp luật lao động Việt Nam là ưu tiên bảo vệ người lao động. Bởi lẽ, trong quan hệ lao động, người lao động luôn bị rơi vào thế yếu.

    Theo một số chuyên gia pháp lí thì trợ cấp thôi việc, mất việc là quan hệ “riêng” giữa người sử dụng và người được sử dụng. Bảo hiểm thất nghiệp là quan hệ “công” giữa Nhà nước và người lao động. Vì thế, không nên đánh đồng hai chính sách này và nên giữ chế độ trợ cấp thôi việc, mất việc ngay cả khi Bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng.

    Lẽ ra, khi ban hành quy định bỏ trợ cấp mất việc, thôi việc, Cơ quan soạn thảo phải nghiên cứu trình Quốc hội phương án bãi bỏ điều 17 và 42 của Bộ luật Lao động. Trong trường hợp chưa thể sửa đổi hoặc bổ sung ngay, phải xác định rõ trong Luật BHXH danh mục, điều khoản của Bộ luật lao động đã ban hành trái với quy định của Luật BHXH và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi luật này có hiệu lực. 

    Lỗi tại ai?

    Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được Chính phủ giao chủ trì soạn thảo Luật Bảo hiểm xã hội để Chính phủ trình ra kì họp thứ 9 Quốc hội khóa XI  vào tháng 6/2006; Bộ cũng là cơ quan được Chính phủ giao soạn thảo Nghị định hướng dẫn chế độ trợ cấp thất nghiệp. Hai năm rưỡi trôi qua nhưng đến cận kề ngày thực hiện, Nghị định 127 ngày 12/12/2008 mới được ban hành.   

    Nghị định 127 ngày 12/12/2008 có quy định chuyển tiếp, theo đó người lao động bị mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động thì được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với thời gian tham gia loại bảo hiểm này (sau ngày 1/1/2009), được hưởng trợ cấp thôi việc đối với thời gian đã làm việc cho doanh nghiệp trước ngày 1/1/2009.

    Trong cuộc họp báo mới đây để triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp, lãnh đạo Bộ Lao động Thương binh Xã hội khẳng định rằng, thực hiện chế độ Bảo hiểm thất nghiệp, cả giới chủ lẫn người lao động đều được lợi. Tuy nhiên, điều mà ai cũng nhìn thấy là khi triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp, người lao động phải bỏ ra thêm 1% lương để đóng vào quĩ này mà trước đây họ không phải đóng. Thời gian không còn để có thể tổ chức phổ biến, tuyên truyền, giải thích những qui định mới. Tại sao người lao động phải đóng thêm 1% lương vào quĩ bảo hiểm thất nghiệp để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thay cho chế độ trợ cấp thôi việc, trong khi theo Điều 17, Điều 42 Bộ luật Lao động (vẫn đang có hiệu lực) thì dù người lao động không phải đóng khoản tiền này mà họ vẫn được giới chủ trả trợ cấp thôi việc? Khi người lao động chưa có được câu trả lời rõ ràng, việc triển khai chắc chắn sẽ khó khăn! 

    Ngoài ra, các cơ quan BHXH địa phương- đơn vị sẽ thu và chi trả chế độ bảo hiểm thất nghiệp đến bây giờ vẫn dài cổ ngóng trông thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về các thủ tục thu chi. Ngay đến biểu mẫu thu cũng chưa có nên chả biết thu thế nào! Hỏi ra mới biết, Bộ đang lấy ý kiến cho dự thảo thông tư hướng dẫn Nghị định 127CP! Và, đến giờ, nhiều địa phương, sở LĐ- TBXH cũng còn chưa nhận được dự thảo thông tư để góp ý! Có người gợi ý, các doanh nghiệp cứ  trích 1% lương của người lao động rồi tạm giữ, khi có thông tư hướng dẫn sẽ nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội để tránh trường hợp sau này phải truy thu dồn một lúc hai, ba tháng. Thế nhưng, vấn đề này lại phát sinh rắc rối mới: Nếu người lao động hằng tháng vẫn bị DN trừ 1% tiền lương, nhưng DN không tham gia BHTN thì người lao động có được hưởng BHTN không?  Ngoài ra, mọi người vẫn còn loay hoay với hàng loạt câu hỏi, ví dụ: Khi mất việc, chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc, người lao động đăng ký với cơ quan lao động nào (cấp huyện, cấp tỉnh hay phòng lao động của Ban Quản lý các KCX-KCN); Nên hiểu như thế nào về khái niệm “phù hợp” khi người lao động  thất nghiệp mà được cơ quan lao động tổ chức học nghề hoặc giới thiệu việc làm; Nội dung quy định tại khoản 3 điều 14 Nghị định 127/CP về trách nhiệm của BHXH VN là “chi trả” trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; tư vấn, giới thiệu việc làm hay phải “tổ chức” học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ bị thất nghiệp... 

    Hai năm rưỡi lẽ ra là thời gian quá đủ cho việc ban hành các văn bản hướng dẫn. Thế nhưng, thật khó hiểu là một chính sách quan trọng, liên quan đến cơm áo, gạo tiền của hàng triệu lao động đã không được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quan tâm đúng mức! 

    Phan Anh Cường

    Các bạn nghĩ sao?  

     
    Báo quản trị |  
  • #12151   31/12/2008

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Khiếp quá với cái anh chàng google!
    Bài này tôi vừa gửi lên LawSoft, chưa có thành viên nào phản hồi mà cái anh chàng google đã chộp được!

    Google

    Tìm kiếm Nâng cao
    Tuỳ chọn

    Tìm kiếm trên: web những trang viết bằng tiếng Việt những trang từ Việt Nam

    Bottom of Form

    Web

     Kết quả 1 - 10 trong khoảng 37.100 cho đến phút chót vẫn ngơ ngác?. (0,22 giây) 

    Kết quả Tìm kiếm

    1.                         Từ 1.1.2009 chính sách bảo hiểm thất nghiệp: ĐẾN PHÚT CHÓT VẪN NGƠ ...

    12 Tháng Mười Hai 2008 ... ĐẾN PHÚT CHÓT VẪN NGƠ NGÁC? Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã được quy định trong Luật số 71 về Bảo hiểm xã hội từ ngày 29 tháng 06 năm ...
    lawsoft.thuvienphapluat.com/?ct=TVQD&id=9771 - 13 giờ trước đây - Các trang tương tự

     
    Báo quản trị |  
  • #12152   31/12/2008

    uyennq1979
    uyennq1979

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/12/2008
    Tổng số bài viết (25)
    Số điểm: 160
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bác Cường nói nghe đúng quá, mình cũng nghĩ giống như vậy nhưng không biết cách diễn đạt!

    Bác Cường ơi Bác có vẻ tìm hiểu kỹ về BHTN quá, bác Cường có thể trả lời dùm mình câu hỏi này được không: vậy nếu DN ký hợp đồng 6tháng, rồi sau 6 tháng (do tình hình sx) ký hợp đồng 6 tháng nữa thì có phải tham gia BHTN không? Vì theo luật thì ký hợp đồng 12th trở lên mới tham gia BHTN. Và giáo viên thì có phải tham gia không? vì giáo viên là do Sở GD và Đào tạo đưa về trường nào thì dạy trường đó, làm sao mà thất nghiệp được??

    Cám ơn Bác nhiều!
     
    Báo quản trị |  
  • #12153   31/12/2008

    hanoithu66
    hanoithu66
    Top 150
    Lớp 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:01/07/2008
    Tổng số bài viết (528)
    Số điểm: 2620
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 52 lần


    Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bác Cường đưa ra. Thời điểm 1.1.2009 đã cận kề mà vẫn chưa có thông tư hướng dẫn của Bộ LĐTBXH về Bảo hiểm thất nghiệp.
    Các doanh nghiệp hiện nay vẫn ngơ ngác không biết thu hay không thu 1% quỹ lương để đóng BH thất nghiệp cho người lao động.
    Nhưng đúng là tôi cảm thấy người lao động sẽ rất thiệt thòi vì nếu theo quy định của Luật và NĐ 127/2008/NĐ-Cp thì người lao động sẽ không được trợ cấp thôi việc khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Trong khi đó lại có quá nhiều điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
    Gửi Uyennq1979: nếu DN ký hợp đồng 6tháng, rồi sau 6 tháng (do tình hình sx) ký hợp đồng 6 tháng nữa, theo tôi trường hợp này không tham gia BH thất nghiệp. 
    Và giáo viên thì vẫn là đối tượng phải tham gia BH thất nghiệp nếu ký hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoậc xác định thời hạn từđủ 12 tháng đến 36 tháng. Và dù giáo viên do Sở GD và ĐT đưa về các trường nhưng cũng có thể xảy ra trường hợp trường không hoạt động. Như vậy giáo viên sẽ thất nghiệp và họ được hưởng BH thất nghiệp là điều hoàn toàn hợp lý.

     
    Báo quản trị |  
  • #12154   02/01/2009

    uyennq1979
    uyennq1979

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/12/2008
    Tổng số bài viết (25)
    Số điểm: 160
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Cám ơn chị Thu66 nhiều
     
    Báo quản trị |