Pháp luật Việt Nam-Lỗ hổng và thách thức!

Chủ đề   RSS   
  • #10836 29/07/2008

    bluesea
    Top 500
    Chồi

    Quảng Trị, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2008
    Tổng số bài viết (113)
    Số điểm: 1520
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 8 lần


    Pháp luật Việt Nam-Lỗ hổng và thách thức!

    Cải cách giáo dục,những bất cập!

    Gần đây, sau một thời gian cải cách giáo dục từ chương trình học đến chương trình của sách giáo khoa, thì Bộ Giáo dục đưa ra một chương trình cải cách nữa  là thi tốt nghiệp  và thi tuyển sinh đại học vào một kỳ thi!

    Tính ra chưa đầy nửa năm, Bộ GDĐT ban hành quy chế thi tốt nghiệp phổ thông và bổ túc trung học phổ thông. Học sinh chưa kịp nắm hết, Bộ lại thực hiện sửa đổi quy chế.

    Hiện tại, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD-ĐT) vừa gửi Dự thảo đổi mới thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và trung cấp tới các ban, ngành liên quan đóng góp ý kiến.

    Theo đó, kỳ thi sẽ gồm sáu môn, ba môn bắt buộc là: toán, văn, ngoại ngữ, một môn do Bộ quy định riêng từng năm và hai môn do thí sinh tự chọn. Nếu thể thức thi này “vận hành” ổn thì từ năm 2010 hoặc 2011, thí sinh sẽ được tự chọn luôn cả ba môn ngoài môn bắt buộc.

    Cũng theo bản dự thảo này, chỉ cần 3 điểm/môn thì có thể đậu tốt nghiệp. Và để thi sẽ gồm hai mức độ câu hỏi: 60% (sáu điểm) nằm trong chương trình phổ thông, với độ khó trung bình để xét tốt nghiệp; 40% (bốn điểm) còn lại sẽ nâng cao để chọn thí sinh vào đại học. Do đó thí sinh chỉ cần làm đúng 50% của phần đề chương trình phổ thông (ba điểm) là đạt yêu cầu, tương đương 18 điểm cho cả kỳ thi. Thí sinh từ mức điểm này đến 32 điểm sẽ được công nhận tốt nghiệp trung bình, 32 đến 46 điểm sẽ đạt loại khá và trên 46 điểm đạt loại giỏi. Từ mức điểm này, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp sẽ đưa ra mức điểm sàn để xét tuyển.

    Theo Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng, trong vài năm tới, ngành giáo dục chưa thể thực hiện việc công nhận tốt nghiệp cho người học mà không tổ chức kỳ thi đánh giá có tính chất quốc gia. Nếu bỏ thi tốt nghiệp THPT sẽ khiến trong suốt những năm học phổ thông, người học chỉ tập trung vào những môn sẽ thi tuyển đầu vào ĐH, CĐ dẫn đến sự thiếu kiến thức phổ thông toàn diện khi bước vào đời, lập thân, lập nghiệp.

    Thật sự rất đơn giản! Nhưng theo tôi, nếu chỉ cần điểm 3 cho một môn thì không cần phải học và Bộ cũng không cần phải “mất công” cải cách chương trình giáo dục làm gì?!

     

     

    Cập nhật bởi LawSoft03 ngày 26/03/2010 11:52:20 AM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 15/03/2010 06:38:28 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 15/03/2010 06:22:19 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 13/03/2010 06:17:51 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 09/03/2010 07:20:56 PM Cập nhật bởi LawSoft01 ngày 09/03/2010 06:25:25 PM
     
    269375 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn bluesea vì bài viết hữu ích
    deezay_tammao (11/12/2014)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

29 Trang «<18192021222324>»
Thảo luận
  • #10477   14/01/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Trở lại vấn đề 2

    Trở lại vấn đề 2: Tỉ lệ đa số phiếu cần thiết ( 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông theo cam kết gia nhập WTO có được áp dụng hay không ? Nếu có thì theo văn bản nào ? đã được chính phủ  hướng dẫn cụ thể chưa? Doanh nghiệp có thể tự sửa đổi đưa vào điều lệ được không ?

    Cám ơn Bác PhanAnhCuong đã chuyển topic này về đây để anh em ta rộng đường tranh luận.

    Nội dung cam kết gia nhập WTO (Đọan 501, 502, 503 Báo cáo của Ban công tác):

    Các đối tác tham gia đàm phán đã bày tỏ lo ngại sâu sắc về quy định của Luật DN 2005 về quyền quyết định của cổ đông đa số sở hữu ít nhất 51% nhưng không quá 65% hoặc 75% để quyết định trong việc kiểm soát đầu tư và đưa ra những quyết định cơ bản về họat động doanh nghiệp.

    Việt Nam cam kết kể từ thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam bảo đảm các nhà đầu tư thiết lập hiện diện thương mại dưới hình thức liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam sẽ có quyền xác định trong Điều lệ tỉ lệ đa số đơn giản là 51%. Việt Nam cũng lưu ý Điều 3.3 Luật DN 2005 quy định các điều ước sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác biệt. Và theo Điều 6.3 Luật Điều ước Việt Nam  xác định sự tồn tại của những khác biệt đó và quyết định chúng sẽ được giải quyết thông qua việc áp dụng trực tiếp điều ước hay thông qua việc sửa luật. Đối với các nhà đầu tư đã  thành lập doanh nghiệp trước đó trong vòng 2 năm kể từ ngày Luật DN 2005 có hiệu lực nếu có mong muốn sẽ được phép sửa đổi điều lệ

    Nghị quyết số 71 /2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006

    Tính pháp lý chính của Nghị quyết 71 là phê chuẩn điều ước và kèm theo đó là quyết định áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được đã quy định đủ rõ trong Báo cáo của Ban công tác được ghi tại phụ lục đính kèm.

     

     Như vậy Nghị quyết số 71 không sửa Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ công nhận và cho áp dụng trực tiếp (không phải ban hành Luật mới) việc cho các nhà đầu tư thiết lập hiện diện thương mại dưới hình thức liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam sẽ có quyền xác định trong Điều lệ tỉ lệ đa số đơn giản là 51%.

    Như vậy nếu không là hình thức liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ thì tất cả các doanh nghiệp đều phải tuân thủ quy định của Luật DN 2005.

    Nhiều người cho rằng có sự không đồng bộ, không đầy đủ và xung đột giữa cam kết WTO, Nghị quyết 71 và Luật Doanh Nghiệp. Riêng tôi với những dẫn chứng và căn cứ pháp lý nêu trên, tôi chẳng thấy sự xung đột nào ở đây cả và như tôi đã nói: “đây là một kỹ thuật cam kết tuyệt vời trong đàm phán và xây dựng pháp luật gia nhập WTO” nó đã bảo vệ được ý chí của nhà làm Luật Doanh nghiệp 2005 là bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số.

    Trong hội nhập nền kinh tế thế giới điểm yếu của Việt Nam là vốn và công nghệ. Nếu chúng ta không bảo vệ cổ đông thiểu số ít vốn (tức là bảo vệ Bên Việt Nam) thì chúng ta bảo vệ cái gì ?

    Bạn #33cccc">thang_43 cho rằng đây là sự bất bình đẳng trong  đối xử. Còn tôi cho rằng đây là sự hạn chế cần thiết.

     
    Báo quản trị |  
  • #10478   14/01/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Để rộng đường dư luận tôi post lên đây những ý kiến trái chiều với tôi để các bạn tham khảo
    Nguồn : www.baomoi.com/Home/KinhTe/2008/4/1552286.epi?refer=www.vietstock.com.vn%2Ftianyon%2FIndex.aspx%3FArticleID%3D69097%26ChannelID%3D113

     

    Thứ Bảy, 19/04/200816:23

    Lúng túng tỷ lệ biểu quyết

    Hệ thống pháp luật Việt Nam đã nhận được rất nhiều phàn nàn từ dân chúng về sự không đồng bộ, không đầy đủ và xung đột. Một lĩnh vực pháp luật tương đối mới là pháp luật chứng khoán cũng không nằm ngoài đặc điểm đáng buồn này. Chỉ riêng câu chuyện về tỷ lệ biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) cũng đã làm cho các doanh nghiệp và các luật sư lúng túng.

    Tại Điều 104, Luật Doanh nghiệp quy định, các quyết định của ĐHCĐ được thông qua khi có "đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp. Đối với một số trường hợp như sửa đổi điều lệ, giải thể, tổ chức lại, quyết định về loại cổ phần… thì phải đạt ít nhất 75%". Để đảm bảo tính thống nhất của Luật, Quyết định 15/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ban hành điều lệ mẫu của các công ty niêm yết cũng yêu cầu các công ty niêm yết khi thông qua các nghị quyết của ĐHCĐ cũng phải đạt ít nhất các tỷ lệ 65% hoặc 75% như trên.

    Tuy nhiên, Nghị quyết 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội, cũng như Nghị định thư về việc gia nhập WTO của Việt Nam lại đã cam kết rằng: "Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, ĐHCĐ".

    Cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, Việt Nam thừa nhận ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế và khi có sự mâu thuẫn giữa các điều ước quốc tế và các văn bản pháp luật trong nước thì các điều ước quốc tế được mặc nhiên áp dụng, cụ thể tại Luật Doanh nghiệp có ghi: "Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế".

    Điều rắc rối bắt đầu khi ban lãnh đạo của Ngân hàng A (chuẩn bị niêm yết) lo ngại sẽ không đạt được tỷ lệ biểu quyết như Luật Doanh nghiệp yêu cầu nên muốn áp dụng Nghị quyết 71/2006/QH11 của Quốc hội.

    Chiếu theo quy định này, yêu cầu của ban lãnh đạo Ngân hàng A hoàn toàn có thể thực hiện được. Tuy nhiên, điều lo lắng là, nếu ngân hàng này quy định tỷ lệ 51% như trên thì có khả năng bị UBCK coi là vi phạm Luật Doanh nghiệp hoặc khi Ngân hàng lên niêm yết và nghị quyết ĐHCĐ thường niên có tỷ lệ 60% số cổ phần có quyền biểu quyết thông qua thì sẽ bị coi là không hợp lệ. Thực tế, UBCK cũng đã có Công văn số 304/UBCKNN-QLPH ngày 26/02/2008 nhắc nhở các công ty chứng khoán tư vấn các công ty niêm yết phải sửa đổi điều lệ theo Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ban hành điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết và các công ty đại chúng phải sửa đổi theo Luật Doanh nghiệp.

    Thôi thì "nước xa không cứu được lửa gần", một giải pháp an toàn mà các đơn vị tư vấn lựa chọn là đề nghị Ngân hàng A áp dụng theo Công văn hướng dẫn số 304 nêu trên. Luật sư hiểu được phần nào thông lệ pháp luật này ở Việt Nam hiện nay, nhưng doanh nghiệp thì có thể nghĩ: "Lần sau, có khi mời tư vấn từ chính các quan chức xét duyệt hồ sơ thì hơn".

    Chẳng lẽ, thực tiễn pháp lý Việt Nam trong thời kỳ đã gia nhập WTO vẫn xảy ra tình trạng như thế này? 

     
    Báo quản trị |  
  • #10479   15/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Tôi rất vui vì tham gia cuộc thảo luận tại đây đã có thêm anh anh_tuan351 - một người mà tôi đã được "quen biết" ở 1 vài chủ đề khác của LawSoft và là người tôi ngưỡng mộ!

    Thưa các anh, tôi muốn hỏi anh anh_tuan351,  ngoài cái bài viết của tác giả NGUYỄN XUÂN CÔNG mà anh đã dẫn về trên kia, anh còn tài liệu nào khác liên quan về vấn đề này không? Anh đã đọc cái văn bản của Tổ công tác thi hành doanh nghiệp và Luật Đầu tư mà bài viết của tác giả NGUYỄN XUÂN CÔNG đã nói đến trong đoạn trích "Để làm rõ vấn đề này, Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau về quan hệ giữa Luật Doanh nghiệp và Nghị quyết số 71/2006/QH11"?

    Tôi cảm ơn chủ topic này đã nêu vấn đề này ra để anh em mình thảo luận vì bản thân tôi cũng đang có 1 việc liên quan đến vấn đề này nên tôi cũng đã và đang tìm hiểu. Do vậy, nếu bạn thang_43 không nêu thì tôi cũng xin nêu chủ đề này tại LawSoft để xin ý kiến thảo luận của thành viên.

    Bây giờ tôi chưa đủ dữ kiện để đưa ra khẳng định cho bản thân nhưng tôi xin các anh hãy lưu ý:

    1. Cái quan điểm của Tổ công tác thể hiện trong bài viết của tác giả  NGUYỄN XUÂN CÔNG chính là cái Công văn 771/BKH-TCT ngày 26/12/2007 của Tổ công tác thi hành luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư gửi Công ty Cổ phần Hà Phong về việc “áp dụng Nghị quyết 71/2006/QH11” do ông Tổ phó thường trực kiêm Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương ký và đóng dấu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.

    Do vậy, các bạn phải thấy rằng, cái Công văn trên không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Tổ công tác không phải là cơ quan có thẩm quyền giải thích luật. Quan điểm của Tổ công tác không phải là quan điểm chính thức của Nhà nước VN nói chung hay của Bộ KH& ĐT nói riêng về vấn đề này mà chỉ là 1 quan điểm nghiên cứu có giá trị tham khảo.

    2. Các bạn ở TP Hồ Chí Minh hẳn phải biết 1 vụ lùm xùm ở Cty GISH vào năm 2006- 2007. Vấn đề lùm xùm này liên quan trực tiếp đến vấn đề mà anh Nguyentrilac  đang cho rằng “đây là một kỹ thuật cam kết tuyệt vời trong đàm phán và xây dựng pháp luật gia nhập WTO” ! Cty GISH sở hữu khách sạn Park Hyatt tại TPHCM, được thành lập vào năm 1994 gồm ba đối tác: RIL của Malaysia (góp 51% vốn), Tổng công ty Xây dựng Sài Gòn (SGC) của Việt Nam (30%) và UCI của Hồng Kông (19%). Trong thời gian này, ông Nguyễn Văn Hảo, đại diện UCI được bầu làm Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị GISH. Tuy nhiên, đến tháng 8-2006, đối tác RIL, được sự chấp thuận của SGC, đã ban hành ba nghị quyết cử người khác thay thế các chức danh nói trên của ông Hảo. Phía UCI không đồng ý và tranh chấp từ đó đã nổ ra.

    Các anh đã biết vụ này chưa? 

     

     
    Báo quản trị |  
  • #10480   15/01/2009

    thang_43
    thang_43

    Sơ sinh

    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:26/12/2008
    Tổng số bài viết (18)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bạn anh_tuan351 viết : Phân biệt đối xử thế nào hả bạn?

    Vậy theo Bạn sẽ có sự bình đẳng khi các loại hình doanh nghiệp khác nhau hoạt động trên cùng một vùng lãnh thổ lại sử dụng các điều luật khác nhau ?

    Bạn Nguyentrilac viết :

    Trong hội nhập nền kinh tế thế giới điểm yếu của Việt Nam là vốn và công nghệ. Nếu chúng ta không bảo vệ cổ đông thiểu số ít vốn (tức là bảo vệ Bên Việt Nam) thì chúng ta bảo vệ cái gì ?

    Bạn thang_43 cho rằng đây là sự bất bình đẳng trong  đối xử. Còn tôi cho rằng đây là sự hạn chế cần thiết.

        Có gì mâu thuẫn ở đây không bạn ? Nếu muốn hạn chế cổ đông lớn hoặc bảo vệ cổ đông thiểu số thì phải nâng tỷ lệ biểu quyết lên chứ ! 65% , 75% hoặc cao hơn nữa ! Vậy tỷ lệ 51% trong NQ71 là một bước cải lùi của các nhà làm luật trong việc bảo vệ các cổ đông nhỏ à ?

     
    Báo quản trị |  
  • #10481   15/01/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    thang_43 viết:

        Có gì mâu thuẫn ở đây không bạn ? Nếu muốn hạn chế cổ đông lớn hoặc bảo vệ cổ đông thiểu số thì phải nâng tỷ lệ biểu quyết lên chứ ! 65% , 75% hoặc cao hơn nữa ! Vậy tỷ lệ 51% trong NQ71 là một bước cải lùi của các nhà làm luật trong việc bảo vệ các cổ đông nhỏ à ?


    Tôi trình bày đơn giản hơn để bạn hiểu nhé:
    1. Trong đàm phán các đối tác muốn ta sửa luật DN từ 65%, 75% xuống còn 51%;
    2. Ta không đồng ý và vẫn giữ nguyên tỉ lệ này, nếu cứ khăng khăng giữ tỉ lệ này thì làm sao vào được WTO. Thế nên phải nhượng bộ một phần là chấp nhận tỉ lệ 51% cho các Doanh nghiệp có liên doanh với các đối tác  là thành viên của WTO theo các cam kết trong biểu cam kết dịch vụ (trên thực tế chỉ là một số ít). NQ 71 chấp nhận sự nhượng bộ này và công nhận nó vì không thể đòi hơn được nữa.
    Vậy bạn nói NQ 71 cải lùi là gì ? tôi không hiểu. Phải nói rằng các nhà đàm phán đã cố gắng để đạt được cái tốt nhất có thể.

     
    Báo quản trị |  
  • #10482   07/02/2009

    hongnamng
    hongnamng

    Sơ sinh

    Khánh Hoà, Việt Nam
    Tham gia:07/02/2009
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Tôi cũng đang thắc mắc về việc tỷ lệ biểu quyết. Nếu quyết định thông qua tại Đại hội Cổ đông phải ít nhất 65% thì gặp trường hợp sau sẽ không thể đi đến kết luận được. Chẳng hạn Hội đồng quản trị đưa ra 2 phương án phân phối lợi nhuận trình ĐHCĐ, đến khi lấy biểu quyết không phương án nào đạt được tỷ lệ >=65% thì không lẽ lợi nhuận không được phân phối và cổ tức cũng sẽ không được chia sao?
     
    Báo quản trị |  
  • #10483   08/02/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    #ccc" align="left">Đúng vậy bạn hongnamng, nếu không đạt được tỉ lệ tối thiểu 65% thì không có một Nghị quyết nào của ĐHCĐ được thông qua. Như vậy thì Hội đồng quản trị bắt buộc phải trình lại các phương án khác sao cho lợi ích của số đông được đảm bảo. Đây chính là mục đích của nhà làm luật.
    Bạn thử nghĩ xem nếu những cổ đông lớn (có tiềm lực ) nắm tới 51% cổ phần muốn đầu tư cho lâu dài quyết định không chia cổ tức hoặc quyết định đầu tư cho thương hiệu, thị truờng chấp nhận chịu lỗ nhiều năm liền. Số còn lại là những cổ đông nhỏ (không có tiềm lực đầu tư lâu dài) trong đó có cả những người lao động trong doanh nghiệp muốn được chia cổ tức kiếm thêm chút tiền còm hoặc muốn bảo tòan vốn. Nếu không có quy định trên làm sao cổ đông nhỏ bảo vệ được mình.
    Bạn không thấy Coca cola trong thời gian 1995 đến 1998 chỉ nắm 60% cổ phần thông qua chính sách kinh doanh lỗ đã nuốt chửng Chương Dương đó sao ? Rồi Colgate đã nuốt Dạ Lan .v.v.. 

     
    Báo quản trị |  
  • #10484   09/02/2009

    thang_43
    thang_43

    Sơ sinh

    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:26/12/2008
    Tổng số bài viết (18)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


            +Việc áp dụng tỷ lệ 65% hoặc 75% trong biểu quyết tại  các Công ty ở VN không phù hợp với thông lệ quốc tế . Mục đích theo như lý luận của các nhà làm luật là nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông thiểu số . Đó chỉ là ngụy biện cho những yếu kém trong công tác làm luật . Luật doanh nghiệp 2005 chỉ rõ : mọi cổ phần đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau . Vì vậy pháp luật cần phải có những quy định cụ thể để sao cho các cổ đông lớn không thể tùy tiện thu vén lợi ích cho riêng mình . Ví dụ như thông qua các mức lương thưởng cao ngất ngưởng cho Hội đồng quản trị , Ban tổng giám đốc , thông qua các hợp đồng nội gián thiếu tính minh bạch , dân chủ , thông qua chính sách kinh doanh lỗ , thông qua các phương án bán cổ phiếu phát hành thêm mà ưu đãi thường dành cho các cổ đông lớn là những người chủ chốt quản lý Doanh nghiệp vv.....và vv....
    +Lợi ích bao gồm cả lợi ích trước mắt và lâu dài , vì vậy nhà đầu tư phải chấp nhận cuộc chơi chung . Nếu "cổ đông nhỏ" muốn bảo vệ chút "tiền còm" của minh như Bạn Nguyentrilac  viết thì không nên đầu tư vào các Công ty cổ phần .
    +Tóm lại nếu cần phải bảo vệ cổ đông nhỏ thì thực sự Luật DN chưa có những quy định hữu hiệu . Tỷ lệ 65% hay 75% có khi lại còn là rào cản để triển khai các chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp.
     
    Báo quản trị |  
  • #10485   09/02/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Luật doanh nghiệp năm 1999 đã từng cho phép áp dụng tỉ lệ 51% hoặc 65% để thông qua quyết định của ĐHCĐ nhưng do trong quá trình thực hiện các cổ đông thiểu số (bên Việt Nam) đã bị thiệt hại quá nhiều nên Luật Doanh nghiệp 2005 đã phải nâng tỉ lệ này lên.

    Về việc tỉ lệ biểu quyết 65% hoặc 75% tôi đồng ý với bạn thang_43 ở 3 điểm:
    1. Việc áp dụng tỉ lệ này không phù hợp với thông lệ quốc tế.
    2. Việc áp dụng tỉ lệ này có thể là rào cản triển khai các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
    3. Pháp luật của chúng ta còn yếu kém và chưa hoàn thiện.

    Chắc bạn cũng đồng ý với tôi một thực tế là trình độ hiểu biết pháp luật để có thể tự bảo vệ mình của của các nhà đầu tư nhỏ lẻ còn rất yếu, trong khi nhà đầu tư lớn lại am tường. Tôi lấy một ví dụ : Luật đã quy định phải công khai báo cáo tài chính theo quy định nếu làm đúng thì HĐQT phải cho công khai báo cáo tài chính đầy đủ theo biểu mẫu của Bộ Tài Chính, thế nhưng đa số các công ty cổ phần chỉ công bố báo cáo tài chính rút gọn trong đó nhìn thì thấy lợi nhuận một đống tiền nhưng không có thông tin chi tiết như báo cáo tài chính đầy đủ nên không thể đánh giá được lợi nhuận này từ đâu mà có, có phải là lợi nhuận thực sự không ? hay chỉ là đánh giá lại tài sản (chứng khoán, bất động sản)? hay chưa trích lập dự phòng ? không có đủ thông tin nên không có quyết định đúng dẫn đến gây thiệt hại cho mình. Do đó khi các cổ đông nhỏ chưa tự bảo vệ được mình thì nhà nước cần phải can thiệp.

    Khi nào trình độ dân trí được nâng lên đủ để có thể tự bảo vệ mình lúc đó tôi sẽ đứng về phía bạn thang_43 để đòi tỉ lệ biểu quyết 51%

     
    Báo quản trị |  
  • #10486   14/02/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Anh Nguyentrilac có biết vụ lùm xùm ở Cty GISH (TP HCM) vào năm 2006- 2007?

    "Nhất trí" hay "đa số"

    Vụ tranh chấp nội bộ trong Công ty liên doanh Khách sạn Grand Imperial Saigon (GISH) có thể được xem như một tranh chấp điển hình liên quan tới nguyên tắc nhất trí (100%).

    Tuy nhiên, cách giải quyết vụ việc với hai kết quả hoàn toàn trái ngược ngay trong cùng hệ thống tòa án đang gây bối rối cho giới đầu tư vì những cách hiểu và vận dụng luật khác nhau.

    Tranh chấp

    Công ty GISH, sở hữu khách sạn Park Hyatt tại TPHCM, được thành lập vào năm 1994 gồm ba đối tác: RIL của Malaysia (góp 51% vốn), Tổng công ty Xây dựng Sài Gòn (SGC) của Việt Nam (30%) và UCI của Hồng Kông (19%). Trong thời gian này, ông Nguyễn Văn Hảo, đại diện UCI được bầu làm Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị GISH. Tuy nhiên, đến tháng 8-2006, đối tác RIL, được sự chấp thuận của SGC, đã ban hành ba nghị quyết cử người khác thay thế các chức danh nói trên của ông Hảo. Phía UCI không đồng ý và tranh chấp từ đó đã nổ ra.

    Sự việc phải nhờ đến công lý. Tháng 4-2007, Tòa Kinh tế Tòa án Nhân dân TPHCM đã xét xử sơ thẩm vụ kiện với bên nguyên đơn là UCI và bị đơn là RIL. Kết quả, án sơ thẩm đã bác yêu cầu của nguyên đơn, thừa nhận giá trị pháp lý của các nghị quyết do RIL ban hành, đồng thời tuyên buộc ông Hảo phải bàn giao con dấu và chức vụ cho những người đã được đại diện đa số vốn chấp thuận chỉ định (tức RIL và SGC, chiếm 81%).

    Thế nhưng, bản án này không đứng vững được lâu sau khi UCI chống án. Bốn tháng sau đó, vào ngày 28-8-2007, Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại TPHCM đã gây bất ngờ với phán quyết không công nhận giá trị pháp lý các nghị quyết do RIL ban hành, đồng thời giữ nguyên các chức vụ Tổng giám đốc và Chủ tịch Hội đồng quản trị cho đại diện UCI, tức ông Nguyễn Văn Hảo.

    Cách hiểu thứ nhất

    Vụ việc về mặt tình tiết không đến nỗi quá phức tạp. Vấn đề mấu chốt nằm ở chỗ: việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị GISH trong trường hợp nói trên phải áp dụng theo nguyên tắc nào, vẫn bắt buộc theo nguyên tắc nhất trí hay có thể theo nguyên tắc đa số như ba nghị quyết của RIL?

    Muốn trả lời câu hỏi này, trước hết phải xem xét về mặt điều lệ của GISH. Điều lệ của GISH được lập vào năm 1994 và tất nhiên phải áp dụng nguyên tắc nhất trí, có nghĩa mọi việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh chủ chốt đều phải được tất cả thành viên hội đồng quản trị nhất trí 100%. Thế nhưng, điểm lý thú, đồng thời gây tranh cãi nhiều nhất là điều lệ GISH còn “thòng” thêm một điều khoản, đại ý: trong tương lai nếu có sự thay đổi của pháp luật cho phép áp dụng nguyên tắc đa số thì thực hiện theo nguyên tắc đa số.

    Nguyên văn của điều khoản này như sau: “Mọi sự thay đổi nào về luật có liên quan đến quyền hạn của hội đồng quản trị theo đó cho phép lấy quyết định đa số trong tương lai sẽ thay thế các điều khoản nói trên”. Bên bị đơn dựa vào đây để lập luận rằng pháp luật hiện hành đã thay đổi, cụ thể Luật Doanh nghiệp năm 2005 và sau này là Nghị quyết 71/2006/QH11 của Quốc hội đã bỏ nguyên tắc nhất trí, cho phép áp dụng nguyên tắc đa số nên ba nghị quyết được chấp thuận bởi đa số 81% (RIL 51% và SGC 30%) đương nhiên có giá trị thi hành. Tòa sơ thẩm đã nghiêng về lập luận này.

    Lại cách hiểu khác

    Với phiên tòa phúc thẩm thì việc diễn giải vấn đề lại rẽ quặt sang một hướng khác. Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị quyết 71/2006/QH11 đúng là cho phép áp dụng nguyên tắc đa số nhưng điều đó không có nghĩa nguyên tắc đa số được đương nhiên áp dụng. “Luật chỉ bãi bỏ bắt buộc nguyên tắc nhất trí chứ không bỏ nguyên tắc nhất trí” - đại diện của bên nguyên đơn giải thích.

    Nói cách khác, bất cứ một tỷ lệ đa số nào được thỏa thuận nằm trong khung luật pháp cho phép (từ 51-100%) thì vẫn hợp pháp. Mặt khác, luật cho phép áp dụng nguyên tắc đa số nhưng tỷ lệ cụ thể phải do điều lệ quy định và theo quy định mọi thỏa thuận tương tự phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Trong khi đó, tỷ lệ cụ thể theo nguyên tắc đa số chưa được điều lệ của GISH quy định và đăng ký lại. Do đó, vẫn phải áp dụng nguyên tắc nhất trí hay nói cách khác ba nghị quyết của RIL dựa trên tỷ lệ đa số 81% là bất hợp pháp. Lập luận của bên nguyên đơn đã được tòa phúc thẩm chấp thuận.

    Như vậy, đã có hai cách hiểu và vận dụng hoàn toàn trái ngược nhau để giải quyết tranh chấp với cùng một vụ việc liên quan đến nguyên tắc nhất trí - một vấn đề có tính lịch sử và khá nhạy cảm trong các công ty liên doanh ở Việt Nam. Đây rõ ràng là một tiền lệ không tốt, tạo ra sự quan ngại cho các nhà đầu tư. Mặt khác, vụ việc cũng cho thấy phải chăng pháp luật chưa rõ ràng và chưa tiên liệu hết các tình huống có thể xảy ra trong giai đoạn “giao thời” giữa nguyên tắc nhất trí và nguyên tắc đa số?

    Ví dụ, trong trường hợp của GISH mặc dù điều lệ có thỏa thuận nguyên tắc đa số nhưng do không quy định cụ thể về tỷ lệ nên thỏa thuận đã không thể thực hiện được. Trường hợp của GISH đã khó như vậy thì những trường hợp khác liệu đến bao giờ có thể áp dụng nguyên tắc đa số như pháp luật đã cho phép (nếu chỉ cần một bên trong liên doanh không chịu)?

    Nguyên tắc nhất trí là lỗi thời 

    - Nguyên tắc nhất trí được quy định đầu tiên bởi Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam ban hành vào năm 1987. Theo đó, những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của xí nghiệp liên doanh như phương hướng hoạt động, kế hoạch kinh doanh và cán bộ chủ chốt phải được hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí, nghĩa là phải được 100% thành viên hội đồng quản trị (đại diện cho các bên trong liên doanh) đồng ý.

    - Theo Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi vào các năm 1996, 2000, nguyên tắc nhất trí được áp dụng đối với bổ nhiệm, miễn nhiệm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc thứ nhất, kế toán trưởng; sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp; duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình; vay vốn đầu tư.

    - Năm 2005, khi Luật Doanh nghiệp (chung) ra đời thống nhất áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì nguyên tắc nhất trí không còn bị bắt buộc áp dụng nữa. Cụ thể, theo điều 52, Luật Doanh nghiệp, việc bầu, miễn nhiệm, bãi miễn chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc, tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ; quyết định phương hướng phát triển công ty; thông qua báo cáo tài chính hàng năm; tổ chức lại hoặc giải thể doanh nghiệp chỉ cần đạt được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của thành viên dự họp chấp thuận (hoặc ít nhất 75% đối với trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản); tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định.

    - Đến ngày 29-11-2006, theo Nghị quyết 71/2006/QH11 của Quốc hội về việc phê chuẩn thỏa thuận gia nhập WTO, tỷ lệ nói trên giảm chỉ còn 51% và áp dụng cho mọi quyết định của công ty.

     



     
    Báo quản trị |  
  • #10487   14/02/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Anh PhanAnhCuong đã nêu vụ GISH thì tôi xin được trở lại. Vụ này thì ngày 28/08/2007, Tòa án Nhân dân Tối cao tại TP.HCM đã xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của  UCI  tuyên sửa án sơ thẩm bác bỏ và không công nhận các Nghị quyết của GISH

     

    Về tình tiết sự việc tôi không đi sâu vào nội dung xin tham khảo hai nguồn thông tin sau :

     

    -      Các bài báo trong lọat bài Dự án khách sạn Park Hyatt Saigon - hòn ngọc trong sóng gió của Nguyễn Công Thắng trên báo Thanh niên với quan điểm bảo vệ cho bên UCI của TS. Nguyễn Văn hảo :

    Kỳ 1: Những khó khăn chồng chất #053b7c">

    Kỳ 2: Một bản án đầy sai lầm và thiên lệch
    Kỳ 3: Nguy cơ từ bất đồng và tranh chấp quyền lực

    Từ vụ tranh chấp thành viên tại KS Park Hyatt Saigon: Luật Doanh nghiệp 2005 và môi trường đầu tư 

    Tòa phúc thẩm không công nhận giá trị pháp lý của các nghị quyết 

     

    -     Các bài viết của Nguyên Sa trên Vietnamnet với quan điểm bảo vệ cho RIL và SGC

    Vụ khách sạn Park Hyatt và bước tiến của luật Việt Nam.

    Park Hyatt bị xé ruột vì thủ đoạn và sự bội ước

    3 vụ kiện đòi 'xé ruột' khách sạn Park Hyatt

    Vụ khách sạn Park Hyatt: Sẽ tiếp tục ra toà!

     

    Về nội dung vụ việc tôi đồng ý với Anh PhanAnhCuong việc áp dụng nguyên tắc nhất trí là lỗi thời. Việc quyết định theo nguyên tắc nhất trí (100%) gây cản trở và hạn chế quyền của cổ đông đa số trong việc quyết định quan trọng và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp, không phù hợp với xu thế hội nhập. Tuy nhiên đây là vụ tranh chấp pháp lý, do đó căn cứ xử lý vụ án không thể nói là lỗi thời không phù hợp mà chỉ có thể căn cứ vào pháp luật để nói vấn đề này có hợp pháp hay không ? có hiệu lực thực hiện hay không có hiệu lực.

     

    Về vấn đề pháp lý không thể có 2 cách hiểu như Anh PhanAnhCuong nêu mà chỉ có một cách hiểu đúng nhất trong nhiều cách hiểu gần đúng liên quan đến vụ việc :

    -          Về nguyên tắc nhất trí tuy Luật Doanh nghiệp không quy định bắt buộc, tuy nhiên nếu các cổ đông chấp nhận sự hạn chế này bằng việc thông qua điều lệ hợp pháp thì bắt buộc phải thực hiện theo quy định của điều lệ nếu quy định của điều lệ không trái với quy định pháp luật.

    -          Điều lệ Liên Doanh của GISH đã được thông qua hợp pháp theo đó đối với việc sửa đổi điều lệ, miễu nhiệm, bổ nhiệm Tổng giám đốc, chủ tịch HĐQT được quyết định theo nguyên tắc nhất trí (100%). Việc quyết định theo nguyên tắc nhất trí này không trái với quy định của luật Doanh nghiệp bởi Luật Doanh nghiệp chỉ quy định túc số tối thiểu còn tỉ lệ cụ thể do điều lệ CTy quy định. Việc quyết định theo nguyên tắc nhất trí này cũng không trái với cam kết gia nhập WTO và Nghị quyết số 71 /2006/QH11 cam kết chỉ quy định túc số tối thiểu 51% còn tỉ lệ cụ thể do điều lệ CTy quy định.

    -          Theo quy định của Nghị định 101/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của  các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai  theo quy định của Luật doanh nghiệp và luật đầu tư thì : Liên Doanh GISH chưa đăng ký lại điều lệ sửa đổi, do đó đối với những Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai không đăng ký lại thì vẫn được tiếp tục  họat động theo giấy phép đầu tư đã cấp và  điều lệ doanh nghiệp cũ. 

    -      Do đó Ba Nghị quyết ngày 10/08/2006 về việc sửa đổi Điều lệ , thay đổi Chủ tịch HĐQT và thay đổi Tổng Giám đốc đương nhiệm của GISH do RIL đưa ra (chiếm 51%) và SGC (chiếm 30%)  tán thành sau đó không đạt được nhất trí 100% theo quy định của điều lệ cũ đang có hiệu lực, vì vậy 3 nghị quyết này không có giá trị pháp lý.

    -      Điểm  gây nhiều tranh cãi ở đây là tại điều 8.3 (2) Điều lệ GISH (tương tự điều 14.2.2 Hợp đồng liên doanh) có dự liệu trường hợp luật thay đổi : "Tất cả các quyết định khác của HĐQT sẽ thực hiện theo biểu quyết đa số 2/3 của các thành viên tham dự phù hợp với luật pháp Việt Nam. Mọi sự thay đổi nào về luật liên quan đến quyền hạn của HĐQT theo đó cho phép lấy quyết định đa số trong tương lai sẽ thay thế các điều khoản nói trên". Điều khỏan này mơ hồ và không rõ ràng ở các điểm sau :

    a)    Thay thế các điều khỏan nói trên là thay thế cho điều khỏan nào ? Thay thế cho điều khỏan 8.3(2) về các quyết định khác của HĐQT ? hay cho đều khỏan 8.3(1) các quyết định quan trọng của HĐQT  được thông qua nguyên tắc nhất trí ?

    b)   Cho phép lấy quyết định đa số trong tương lai là bao nhiêu : 51% hay 65% hay 75% hay 100% ?

    Tòa sơ thẩm đã vận dụng và tự giải thích điều 8.3(2) Điều lệ GISH không  rõ ràng này để cho rằng các 3  nghị quyết của GISH có hiệu lực khi đạt được túc số 75% theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên tòa phúc thẩm đã bác bỏ với lý do các Bên liên doanh muốn sửa đổi hoặc bổ sung điều khoản này phải thỏa thuận và đăng ký với cơ quan cấp phép là Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) như quy định tại Điều 21 Điều lệ liên doanh GISH.

     

    Trở lại vấn đề tôi cho rằng đây là một kỹ thuật cam kết tuyệt vời trong đàm phán và xây dựng pháp luật gia nhập WTO. Mặc dù cam kết gia nhập WTO và Nghị quyết số 71 /2006/QH11  cho phép các Liên doanh đã  thành lập doanh nghiệp trước đó trong vòng 2 năm kể từ ngày Luật DN 2005 có hiệu lực nếu có mong muốn sẽ được phép sửa đổi điều lệ đưa tỉ lệ biểu quyết xuống 51%. Nhưng điều này rất khó thực hiện trên thực tế vì để sửa điều lệ ngòai quy định của Luật còn phải tuân thủ quy định của điều lệ của Doanh nghiệp trước đó , thường thì các cổ đông thiểu số không muốn giảm tỉ lệ này vì giảm tỉ lệ này là tự tước bỏ quyền quyết định quan trọng của mình (Tôi cũng không hiểu tại sao SGC trong vụ việc GISH nêu trên lại quyết định thiếu sáng suốt như vậy). Do đó không đạt được tỉ lệ cần thiết theo điều lệ cũ thì các Liên doanh cũng không thể nào sửa đổi điều lệ để giảm tỉ lệ biểu quyết được.

     
    Báo quản trị |  
  • #10488   26/02/2009

    thang_43
    thang_43

    Sơ sinh

    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:26/12/2008
    Tổng số bài viết (18)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đối với các doanh nghiệp thành lập trước đây theo luật DN 1999 thì tỷ lệ biểu quyết  51% được áp dụng trong hầu hết các điều lệ lúc đó . Vậy hiện nay các doanh nghiệp đó có phải biểu quyết lại theo tỷ lệ 65% hay 75% của luật DN 2005 hay vẫn sử dụng tỷ lệ 51% theo điều lệ  . Muốn thay đổi tỷ lệ thì phải đưa ra Đại hội đồng cổ đông để sửa điều lệ . Vấn đề này đôi khi là bất khả thi . Vậy xử lý thế nào ?
     
    Báo quản trị |  
  • #10489   26/02/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    Nếu điều lệ của DN được thông qua hợp pháp theo quy định của Luật DN 1999 theo đó có tỉ lệ biểu quyết thấp hơn tỉ lệ quy định của Luật DN 2005 thì tỉ lệ thấp hơn này vẫn có hiệu lực áp dụng bởi các căn cứ sau :
    - Nguyên tắc bất hồi tố của Pháp luật (Điều 76 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật)
    - Tại điều 170 Luật DN 2005 quy định về việc áp dụng đối với các doanh nghiệp được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực chỉ quy định : "Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh đã thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999 không phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh lại" và không có điều khỏan nào quy định bắt buộc phải sửa điều lệ cho phù hợp với quy định của Luật DN 2005.

    Mặt khác Điều lệ là sự thỏa thuận của các thành viên góp vốn để thành lập pháp nhân sự thỏa thuận này phải tôn trọng nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận theo quy định tại điều 4 Luật Dân Sự 2005 : "Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng."

    Như vậy tại thời điểm trước khi Luật DN 2005 có hiệu lực thì tỉ lệ biểu quyết 51% được thông qua trong điều lệ là hợp pháp. Nếu hiện nay điều lệ này chưa sửa đổi tỉ lệ biểu quyết đúng theo thủ tục quy định tại điều lệ thì tỉ lệ 51% vẫn có giá trị áp dụng.

     
    Báo quản trị |  
  • #10490   27/02/2009

    thang_43
    thang_43

    Sơ sinh

    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:26/12/2008
    Tổng số bài viết (18)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Cám ơn bạn Nguyentrilac . Phân tích của bạn thật đầy đủ và chí lý quá .
     
    Báo quản trị |  
  • #10491   03/03/2009

    viid08
    viid08

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/02/2009
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 199
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Về việc áp dụng điều 51. 52 LDN

    Tôi là một thành viên mới và rất vui khi được đọc ý kiến của các bạn liên quan đến hiệu lực của điều 51 và 52 của LDN trong tương quan với NQ 71 và Báo cáo của Ban công tác (Cam kết). Hiện tôi chỉ đặt ra một số  câu hỏi sau:
    - Công văn của Tổ công tác, như đã có thành viên nêu ra, không phải là văn bản pháp qui, có thể nói là chỉ nêu ra một cách hiểu của cơ quan quản lý NN. Các cơ quan NN nói chung là bao giờ cũng muốn qui định, hiểu theo hướng có lợi cho họ!. Còn nhiệm vụ của Luật sư là dựa trên 3 văn bản pháp lý trên (hoặc VB khác) để đưa ra ý kiến, qui định nào có hiệu lực pháp luật. Toà án cũng vậy thôi, toà án phải dựa vào pháp luật, có thể xét xử cả đối với quyết định của cơ quan quản lý. Đã có nhiều tranh chấp kiện tụng mà thậm chí NN VN cũng chỉ là một bên đương sự (tất nhiên hiện chỉ tại các tổ chức tài phán quốc tế)
    - Nghị quyết của Quốc hội tôi chưa kiểm tra lại nhưng theo tôi nhớ thì cũng là 1 loại VB qui phạm pháp luật. Trong NQ 71 cũng nêu rõ là nếu các qui định của pháp luật trong nước không phù hợp với các Cam kết thì áp dụng cam kết, nội dung này cũng phù hợp với các nguyên tắc chung hiện nay về việc áp dụng pháp luật nước ngoài của VN.
    - Vấn đề là nội dung của Nghị quyết cho phép áp dụng trực tiếp các qui định của Cam kết, cụ thể là các điều 51, 52, các tỷ lệ có thể thay đổi, khác với Luật DN. Vậy thì qui định tại Nghị quyết có phải là mở rộng hơn so với Cam kết hay chỉ mang tính chỉ dẫn, nếu Không phù hợp thì lại quay lại áp dụng Cam kết!?
    - Theo quan điểm cá nhân tôi, Nghị quyết đã mở rộng hơn các Cam kết, điều đó là thực tế vì Nghị quyết đã ghi rõ, không hạn chế về đối tượng và phạm vi áp dụng, và hoàn toàn hợp hiến. Tôi không nghĩ rằng khi Quốc hội đã mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng các Cam kết quốc tế mà lại chỉ áp dụng theo Cam kết quốc tế, không áp dụng các qui định mở rộng nữa. Đó là lý do tại sao nhiều quốc gia không cho phép áp dụng trực tiếp cam kết quốc tế (như ở nước ta) mà lại qui định phải có thủ tục nội địa hoá các cam kết quốc tế để thống nhất pháp luật.
    Quay lại Công văn của tổ công tác, tôi đưa ra một ví dụ khác về việc tại sao nói đó chỉ là ý kiến mang tính chất 1 nguồn để tham khảo. Trong 1 tài liệu khác, cuốn Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập tổ chức TMTG của VN, do Bộ thương mại chủ biên xuất bản năm 2007, trang 303 nêu rõ phạm vi cam kết được mở rộng tất cả mọi DN và ngành nghề!. 
    Mong tiếp tục nhận được ý kiến bình luận thêm vấn đề này.
    TDT
     
    Báo quản trị |  
  • #10492   04/03/2009

    Nguyentrilac
    Nguyentrilac
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (288)
    Số điểm: 1370
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 12 lần


    viid08 viết:

     - Nghị quyết của Quốc hội tôi chưa kiểm tra lại nhưng theo tôi nhớ thì cũng là 1 loại VB qui phạm pháp luật. Trong NQ 71 cũng nêu rõ là nếu các qui định của pháp luật trong nước không phù hợp với các Cam kết thì áp dụng cam kết, nội dung này cũng phù hợp với các nguyên tắc chung hiện nay về việc áp dụng pháp luật nước ngoài của VN.
    - ...
    - Theo quan điểm cá nhân tôi, Nghị quyết đã mở rộng hơn các Cam kết, điều đó là thực tế vì Nghị quyết đã ghi rõ, không hạn chế về đối tượng và phạm vi áp dụng, và hoàn toàn hợp hiến. Tôi không nghĩ rằng khi Quốc hội đã mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng các Cam kết quốc tế mà lại chỉ áp dụng theo Cam kết quốc tế, không áp dụng các qui định mở rộng nữa. Đó là lý do tại sao nhiều quốc gia không cho phép áp dụng trực tiếp cam kết quốc tế (như ở nước ta) mà lại qui định phải có thủ tục nội địa hoá các cam kết quốc tế để thống nhất pháp luật.
    TDT

    Bạn chưa kiểm tra lại NQ 71 sao bạn đã khẳng định nghị quyết đã mở rộng hơn các cam kết. Tôi khẳng định lại Nghị quyết 71 chỉ phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO và cho phép áp dụng trực tiêp các cam kết được ghi tại phụ lục đính kèm. Tôi trích dẫn nghị quyết để bạn tham khảo :

    1. Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ký ngày 07 tháng 11 năm 2006 tại Giơ-ne-vơ, Thuỵ Sĩ (sau đây gọi là Nghị định thư).

    2. Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới.

    Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm.

    PHỤ LỤC

    NỘI DUNG ÁP DỤNG TRỰC TIẾP CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM
    (Kèm theo Nghị quyết số 71 /2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006)

     

    TT

    #ece9d8; WIDTH: 198pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="264">

    Tên văn bản

    #ece9d8; WIDTH: 174pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="232">

    Cam kết WTO

    #ece9d8; WIDTH: 324pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="432">

    Nội dung áp dụng

    #ece9d8; PADDING-LEFT: 5.4pt; PADDING-BOTTOM: 0cm; BORDER-LEFT: windowtext 1pt solid; WIDTH: 42pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="56">

    1.

    #ece9d8; PADDING-LEFT: 5.4pt; PADDING-BOTTOM: 0cm; BORDER-LEFT: #ece9d8; WIDTH: 198pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="264">

    Luật số 60/2005/QH11 Luật doanh nghiệp

    Các điều 51, 52, 103, 104

    #ece9d8; PADDING-LEFT: 5.4pt; PADDING-BOTTOM: 0cm; BORDER-LEFT: #ece9d8; WIDTH: 174pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="232">

    Đoạn 503 và Đoạn 504 trong Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (sau đây gọi là Ban công tác)

    #ece9d8; PADDING-LEFT: 5.4pt; PADDING-BOTTOM: 0cm; BORDER-LEFT: #ece9d8; WIDTH: 324pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 1pt solid; BACKGROUND-COLOR: transparent" valign="top" width="432">

    Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:

    1. Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

    2. Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

    3. Tỉ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

     
    Báo quản trị |  
  • #10493   04/03/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Lâu lâu tôi chưa có ý kiến mới tham gia tại đây chỉ bởi vì tôi muốn chờ anh em thành viên khác tham gia ý kiến. Anh Nguyntrilac bảo đây là "nghệ thuật tuyệt vời" trong đàm phán. Còn tôi cho rằng vấn đề này là khiếm khuyết rất lớn trong xây dựng văn bản QPPL của Nhà nước ta. Hai anh em tôi có 2 quan điểm trái ngược nhau. Tôi muốn anh em thành viên khác phát biểu xem sao!
    Tôi rất mừng là hôm nay có thêm bạn viid08 ý kiến! Theo tôi, bạn đã đúng khi cho rằng NQ 71 của QH đã mở rộng phạm vi cam kết quốc tế khi quy định rõ ràng trong Nghị quyết như anh Nguyentrilac đã trích đẫn trên kia:

    "2. Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới."

    Đây là 1 quy phạm pháp luật được ban hành trong 1 văn bản quy phạm pháp luật. Tại Phụ lục đính kèm như anh Nguyentrilac đã trích dẫn, Phần Nội dung đã ghi rõ ràng những quy phạm được áp dụng trực tiếp. Tại đây không hề nêu 1 hạn chế nào tức là ta phải hiểu quy định đó áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp chứ không phải chỉ có DN liên doanh. 

    Hơn nữa, như vụ Cty GISH (TP HCM) mà tôi đã dẫn về: Một quy phạm pháp luật mà các chuyên gia luật pháp ở hai cấp Toà (chứ không riêng anh em thành viên LawSoft chúng ta) hiểu và áp dụng trong xét xử khác nhau cho thấy vấn đề này vẫn còn lỗ hổng, vẫn còn khiếm khuyết. Cái Công văn của Tổ Công tác gửi 1 doanh nghiệp đương nhiên không thể gọi là văn bản QPPL. Cái quan điểm thể hiện trong công văn đó không thể cho là 1 qui phạm pháp luật. Hơn nữa về nội dung, cái quan điểm của Tổ Công tác đó, tôi cùng nhiều người không đồng tình và cho rằng Tổ Công tác đã hiểu sai, diễn giải sai tinh thần NQ 71 của QH.

    Tôi rất mong anh em khác tham gia ý kiến tại chủ đề này! Cảm ơn!
     
    Báo quản trị |  
  • #10494   05/03/2009

    viid08
    viid08

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/02/2009
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 199
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Ý kiến tiếp về hiệu lực áp dụng của điều 51, 52 LDN

    Tôi xin bổ sung 1 số điểm sau để nghĩ rằng đây là 1 qui định mở rộng phạm vi cam kết:
    1. Tại điều 2 của Nghị quyết nêu rõ: "Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác". Như vậy, nguồn áp dụng là 3 nguồn: 1) Phụ lục, 2) Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm (Nghị định thư) và 3) Báo cáo của Ban công tác.

    2. Phụ lục gồm 3 cột ngoài stt: 1) Cột Tên VB  (Vb gốc của Vn), 2) Cột Cam kết WTO và 3 ) Nội dung áp dụng. Nếu chỉ là chỉ dẫn, tôi nghĩ chỉ cần cột 1 và 2, ko cần cột 3 nữa.

    3. Cũng có thể có ý kiến cho rằng cột 3 là thể hiện rõ, hay tóm tắt ý tưởng cột 2 thì fải xem lại các nội dung khác từ các điểm 2 trở đi, xem là cột 3 tóm tắt hay là mở rộng nội dung dẫn chiếu của cột 2 (Ai đó có thời gian rà soát Cam kết WTO hết giùm). Tôi thấy điểm 4 trong Phụ lục, ở cột 3 không có nội dung gì (để trống). 
    Vậy mọi người tiếp tục cho ý kiến nhé, luật sư là nghề tự do tư tưởng mà, còn thuyết phục thế nào để ra toà như Mỹ có 9 ông, 5 ông ko ok, 4 ông ok, và fải theo, là vấn đề khác!
    Trân trọng, TDT
     
    Báo quản trị |  
  • #11008   16/08/2008

    NguyenHoangHai_VKSNQ
    NguyenHoangHai_VKSNQ

    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:10/08/2008
    Tổng số bài viết (28)
    Số điểm: 160
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    Vấn đề cướp "tiền ảo" có tội hay không có tội???

    Vụ án: một nhóm vị thành niên, bỏ nhà lang thang, tụ tập lại với nhau thuê nhà sống chung, do không có tiền ăn tiêu... bàn nhau đi cướp "tiền ảo" trong game Võ Lâm Truyền Kỳ. Phân công 1 ng hàng ngày lên mạng chơi game, tìm người rao bán "tiền vạn" thì đặt vđề mua và hẹn địa điểm giao dịch. Sau đó về nhà báo. Tên cầm đầu chuẩn bị phương tiện (2-3xe máy, 2 dao bài dài 50cm), sắp xếp 4-6 tên đi, trong đó 2 tên vào giao dịch cầm theo1 ví trong đựng 200.000đ để cho ng bán tin và chuyển "tiền vạn" vào tk mà tên ở nhà nhận, khi chuyển "tiền vạn" xong, 1trong 2 tên sẽ giả vờ nói là không đủ tiền, đề nghị mọi ng ra ngoài quán Net lấy. 4 tên ở ngoài quán Net có nvụ khi nào thấy có ng đi cùng đồng bọn ra thì 2 tên sẽ cầm dao, kiếm xông đến doạ chém để ng bán sợ bỏ chạy, cả bọn lên xe máy bỏ chạy, sẽ không phải trả tiền thật nữa. Số "tiền vạn" sau đó đem bán được tiền thật để chi tiêu chung sinh hoạt hàng ngày cho cả bọn.
    1.000 "tiền vạn" bán được 23.000đ VND, mỗi lần cướp "tiền vạn" bán được từ 600.000đ VND - 1.200.000đ VND. Thực hiện được 6 lần, đến lần thứ 6 thì không đạt do ng bị hại đã nhận dạng được và sắp xếp ng phục kích đánh trả lại, bắt vào cq Công an.
    Câu hỏi của tôi: "Tiền vạn" có được coi là tài sản hay không? khách thể xâm hại ở đây là "tiền ảo"-tài sản ảo hay tiền thật (số tiền phải thanh toán sau khi giao dịch)? nhóm vị thành niên trên 16 tuổi kia có phạm tội Cướp ts hay là tội nào khác (lừa đảo), hay là không phạm tội? Rất mong sự tranh luận nghiêm túc, khoa học. Many thanks!
     
    Báo quản trị |  
  • #11009   10/08/2008

    concobebe
    concobebe

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:10/08/2008
    Tổng số bài viết (26)
    Số điểm: 70
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Vụ này mình nghe cũng nhiều

    Có một thời gian mình cũng chơi game VLTK, cũng nghe đồn là có một bang có tên là Bang ăn cướp, bang này chuyên thực hiện hành vi như bạn kể, mình có một người bạn chơi chung bị cướp như thế, tổng giá trị hơn 2 triệu đồng, bạn mình bị cướp không phải là tiền vạn trong game, mà là các vật dụng rất VIP, xong về bạn mình chỉ biết buồn và kể cho mình nghe, chẳng biết kiện cáo hay tố tụng nơi đâu, từ đó về sau bạn mình rút kinh nghiệm trong các lần mua bán vật dụng ảo, nên không bị nữa, giờ có kẻ bị bắt, có ai biết cách xử lý như thế nào không? Mà từ khi game online ra đời và du nhập vào VN thì có điều luật nào quy định chi tiết về tài sản, vật dụng trong game không nhỉ, ui, nhức đầu wá đi. Mà theo mình biết, việc mua bán, trao đổi các vật phẩm trong game là không hợp pháp, chỉ có các cá nhân có nhu cầu tự trao đổi với nhau thì phải, nên bị lừa ráng chịu, heheheh.
     
    Báo quản trị |