DanLuat 2015

phân chia tài sản sau ly hôn

Chủ đề   RSS   
  • #406416 13/11/2015

    phân chia tài sản sau ly hôn

    Tùng và Trinh đã kết hôn được một năm, chưa có con, cuộc sống thì luôn xảy ra gây gổ và xíc mích với nhau nên hai người quyết định ly hôn và chia tài sản

    Số tài sản bao gồm:

    Thứ nhất : một căn nhà do bố anh Tùng để lại cho anh khi chưa lấy vợ

    Thứ 2 : của hồi môn của chị Trinh là do bố mẹ chị để lại cho chị

    Thứ 3 : trong thời gian sinh sống thì hai người gom góp được 200 triệu đồng

    trong trường hợp này nên phân chia như thế nào hả chị

     
    2112 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #406682   16/11/2015

    phamanh1993
    phamanh1993
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/09/2015
    Tổng số bài viết (99)
    Số điểm: 1140
    Cảm ơn: 16
    Được cảm ơn 29 lần


    TS Thứ nhất: bạn phải nói rõ căn nhà đó có đc đưa vào sử dụng chung hay không, nếu k thi là ts riêng của anh tùng

    ts thứ 2:đây là một bài báo đã đề cập đến vấn đề này

     Của hồi môn là tài sản chung hay riêng?


    Theo phong tục xưa nay tại Việt Nam, đa phần mọi người cho rằng, khi cô dâu mới về nhà chồng cần có một ít tài sản gọi là của hồi môn, vừa dành để tiết kiệm chi tiêu sau này, đồng thời để nhà chồng coi trọng. Do đó nhiều gia đình nhà gái vì muốn con gái “có giá” trong mắt nhà trai nên phải lo liệu nhiều món đồ giá trị như tiền bạc, vàng, trang sức để dành tặng cô dâu làm của hồi môn. Trong lễ cưới cô dâu, chú rể được gia đình 2 hai bên tặng cho vàng hay tiền làm của hồi môn. Vậy các tài sản có giá trị này là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản sau ly hônnhư thế nào? Pháp luật Việt Nam có điều chỉnh về của hồi môn là tài sản chung hay riêng?



    [​IMG]


    Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ) tại Điều 33 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hay được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hay chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hay có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

    Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    Với trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang xảy ra tranh chấp là tài sản riêng của từng bên thì tài sản đó được xem là tài sản chung.

    Do đó trong đám cưới gia đình 2 bên trao quà cho vợ, chồng thường nói: “tặng cho 2 đứa” cũng có khi chỉ trao quà vào tay, chứ không nói gì. Bởi vậy, khi kết hôn chẳng ai nghĩ sẽ ly hôn, nên các quà tặng ngầm cho riêng thường được nhập luôn vào tài sản chung. Hay các tài sản cho chung lại trở thành tài sản riêng. Pháp luật quy định trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của từng bên thì tài sản đó được xem là tài sản chung.

    Ví dụ gia đình cho nữ trang là vàng, thường cô dâu là người cất giữ và sử dụng. Mặc dù, cho chung tuy nhiên sau khi ly hôn thì cô dâu thường nghĩ tặng cho trang sức là cho riêng mình và mặc nhiên không chia. Mặc dù vậy cũng có trường hợp khi ra Tòa tranh chấp người vợ chứng minh bằng việc “đây là tài sản riêng, vì khi tặng cho mọi người trao, và đeo vào người cho cô”, còn người chồng “yêu cầu chia đôi, hay của nhà ai thì về nhà người đó”. Có thể thấy việc chứng minh tài sản chung, riêng là nữ trang vàng trong ngày cưới rất khó khăn, vì chẳng có một giấy tờ nào để chứng minh, cũng như khi trao chẳng ai rạch ròi, nói rõ cho cô dâu hoặc cho chú rể.

    Theo Điều 43 Luật HNGĐ 2014 thì: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật HNGĐ 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

    Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật HNGĐ 2014.

    Có thể thấy không có 1 quy định rành mạch, rõ ràng về việc tặng cho nữ trang, vàng bạc là tài sản riêng hay chung. Điều này phụ thuộc vào việc xét xử của từng vụ việc và chứng minh của 1 trong 2 bên vợ chồng

    ts thu 3:ts chung. chia đôi nha bạn

     

     

    tất cả chỉ là hình thức, việc chúng ta cần làm chỉ là diễn cho tốt thôi !!!

     
    Báo quản trị |