Những cách hiểu sai lầm về dấu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

Chủ đề   RSS   
  • #465530 25/08/2017

    shin_butchi
    Top 50
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:18/04/2015
    Tổng số bài viết (1780)
    Số điểm: 80509
    Cảm ơn: 836
    Được cảm ơn 1729 lần


    Những cách hiểu sai lầm về dấu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

    Không chỉ bản thân mình, mà bạn bè, đồng nghiệp, người thân, người quen…đã từng gặp các trường hợp tin tuyệt đối với các loại giấy tờ này dẫn đến những câu chuyện dở khóc dở cười. Thực tế, các loại giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền chỉ là một phần, mọi người cần phải hiểu bản chất của việc xác nhận về dấu của cơ quan có thẩm quyền.

    Vì vậy, để mình list ra cho các bạn thấy những trường hợp sau đây, đồng thời, có căn cứ pháp lý hẳn hoi về tính chịu trách nhiệm thuộc về ai của từng trường hợp đó, để các bạn nắm rõ mà không phạm sai lầm.

    1. Chứng thực sơ yếu lý lịch

    Nhiều người hiện nay vẫn hiểu rằng, chứng thực sơ yếu lý lịch là cơ quan chứng thực xác nhận tính đúng, tính hợp pháp của sơ yếu lý lịch, nên phải đến UBND cấp xã nơi cư trú để thực hiện chứng thực.

    Nhưng thực tế, chứng thực sơ yếu lý lịch là chứng thực chữ ký, nó có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản.

    Do vậy, việc chứng thực sơ yếu lý lịch được thực hiện tại UBND cấp xã, không phụ thuộc vào nơi cư trú của người yêu cầu chứng thực.

    (Căn cứ Khoản 3 Điều 3, Khoản 5 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP)

    2. Nội dung đăng ký doanh nghiệp

    Nhiều người vẫn nghĩ rằng, đăng ký doanh nghiệp thành công tức là được cơ quan có thẩm quyền cho phép kinh doanh, việc kinh doanh đó là hợp pháp.

    Sai rồi nhé, cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ có trách nhiệm trong việc xét đến tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (tức về mặt hình thức, đã điền đủ thông tin hay đủ hồ sơ chưa) còn về những sai phạm trước và sau khi đăng ký doanh nghiệp thì bản thân doanh nghiệp đó tự chịu trách nhiệm (ví dụ kê khai sai, khai gian thông tin đăng ký doanh nghiệp chẳng hạn)

    (Căn cứ Khoản 1 Điều 209 Luật doanh nghiệp 2014)

    3. Thông báo mẫu con dấu của doanh nghiệp

    Lầm tưởng rằng cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục thông báo mẫu con dấu cho doanh nghiệp thì họ đã công nhận hợp pháp mẫu con dấu đó.

    Đó là một sai lầm, vì tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định 96/2015/NĐ-CP có quy định rằng “Cơ quan đăng ký kinh doanh không chịu trách nhiệm thẩm tra nội dung mẫu con dấu của doanh nghiệp khi giải quyết thủ tục thông báo mẫu con dấu cho doanh nghiệp.”

    4. Lập vi bằng trong trường hợp mua bán nhà đất bằng giấy tờ tay

    Mua bán nhà đất bằng giấy tờ tay được xem là một trong những giao dịch nguy hiểm và gặp nhiều rủi ro nhất vì không được pháp luật thừa nhận, (nói đúng hơn ở giai đoạn hiện nay là được thừa nhận trong một số trường hợp), và đã không đựơc thừa nhận thì các bên trong giao dịch mua bán này, đặc biệt là người mua khó có thể được pháp luật bảo vệ.

    Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác (theo Nghị định 61/2009/NĐ-CP)

    Đồng thời, vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

    Do vậy, trong giao dịch mua bán nhà đất bằng giấy tờ tay, khi có yêu cầu lập vi bằng thì phía Thừa phát lại chỉ công nhận có việc giao nhận tiền trong giao dịch mua bán, còn thừa nhận tính hợp pháp của giao dịch này họ hoàn toàn không chịu trách nhiệm.

    Còn nữa không nhỉ? Anh/chị/bạn nào nếu biết thì bổ sung giúp em với nhé! :'(

     
    23773 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

3 Trang <123
Thảo luận
  • #538626   10/02/2020

    Nhờ bài viết của bạn mà mình mới biết được ý nghĩa của các con dấu cũng như thẩm quyền đóng dấu của các cơ quan thẩm quyền. Điều này giúp ích cho minh rất nhiều trong việc đi xử lý xác giấy tờ pháp lý hằng ngày để tránh đi sai trong quá trình xử lý giấy tờ.

     
    Báo quản trị |  
  • #538931   17/02/2020

    Cảm ơn bài viết của bạn nhiều. Ngày xưa khi còn đi học cần những giấy tờ nào cần phải công chứng thức thực thì mình chỉ nghĩ đến UBND thôi mà tại cơ quan này thì thường đông dân và chờ đợi cũng khá lâu. Nếu muốn nhanh chóng hơn và kiểm tra kỹ hơn thì giờ mình lại đi ra các Văn phòng công chứng tại quận của mình luôn. Ra văn bản để áp dụng là tốt nhưng sẽ tốt hơn nếu hướng dẫn người dân hiểu rõ các quy định này. 

     
    Báo quản trị |  
  • #539197   23/02/2020

    datthinh3110
    datthinh3110

    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/02/2020
    Tổng số bài viết (83)
    Số điểm: 550
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 6 lần


    Vậy đối với các trường hợp mua bán nhà đất bằng giấy tờ tay thì người mua có những quyền lợi gì không? Trong trường hợp mua bán bằng vi bằng thì có được làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không và làm bằng cách nào?

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn datthinh3110 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (24/02/2020)
  • #539222   24/02/2020

     

    datthinh3110 viết:

     

    Vậy đối với các trường hợp mua bán nhà đất bằng giấy tờ tay thì người mua có những quyền lợi gì không? Trong trường hợp mua bán bằng vi bằng thì có được làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không và làm bằng cách nào?

    1. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013, thì: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”;

    “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên”.

    =>Theo đó, việc chuyển nhượng hay còn gọi là mua bán đất phải có hợp đồng và đuợc công chứng theo quy định nêu trên.

    Việc mua bán bằng giấy tờ viết tay sẽ không đựoc pháp luật công nhận và người mua hẳn sẽ gặp nhiều rủi ro khi có tranh chấp và không có đủ thành phần hồ sơ để đăng ký biến động đất đai.

    2. Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định 08/2020/NĐ-CP.

    => Vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi và không ghi nhận nội dung trong hợp đồng do Thừa phát lại lập và không đủ điều kiện về hồ sơ để cấp giấy chứng nhận.

    Gửi thông tin tham khảo.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phuongdung003 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (24/02/2020)
  • #539726   28/02/2020

    Mình thấy cách nhớ chung nhất cho các văn bản có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nêu trên là nhằm xác nhận tính xác thực, thông tin đăng kí, kê khai có bị trùng lặp hay chưa, tên gọi có phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam hay không? Và việc đăng ký sao thì người dân cần tiến hành hoạt động như vậy.

    Trong trường hợp sử dụng các giấy tờ không đúng với nội dung đã đăng ký, thì dựa vào đó và xác nhận việc sử dụng sai, không đúng pháp luật, có tìm ẩn hành vi không tốt đối với xã hội, biểu hiện sự gian dối.

     
     
    Báo quản trị |  
  • #542354   30/03/2020

    datthinh3110
    datthinh3110

    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/02/2020
    Tổng số bài viết (83)
    Số điểm: 550
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 6 lần


    theo như quy định mới hiện nay thì Văn phòng Thừa phát lại không đượcgGhi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy đnh của pháp luật. Vì thế việc mua bán bất động sản cũng sẽ giảm được rủi ro cao.

     
    Báo quản trị |