Nhập tài sản chung trong hôn nhân

Chủ đề   RSS   
  • #11902 16/09/2009

    tranvinh_61

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/08/2008
    Tổng số bài viết (29)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Nhập tài sản chung trong hôn nhân

    Tôi có 1 tình huống sau mong được cho ý kiến :

     -         Chị tôi kết hôn vào năm 1993 . Anh rể tôi đứng tên sở hữu hợp pháp một căn nhà từ năm 1992 ( trước khi kết hôn).

    -         Vào năm 2006 anh rể tôi vướng vào 1 tranh chấp có liên quan đến căn nhà. Người khởi kiện cho rằng anh rể tôi chỉ là “người đứng tên giùm” . Chị tôi được Tòa án xác định là “người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan” ( vì là vợ )

    -         Trước phiên xét xử , chị tôi trình ra một văn bản viết tay có nội dung : anh rể tôi đồng ý nhập tài sản riêng (căn nhà) vào tài sản chung của vợ chồng (cho chị tôi được đồng sở hữu). Văn bản viết tay này có chữ ký của cả hai vợ chồng , ngòai ra còn có hai người hàng xóm (bạn) làm chứng và tất cả được ký vào năm 1995 . Chị tôi có yêu cầu là :  quyền sở hữu ½ căn nhà này là của chị đã được xác lập, vậy trước tiên phải xem xét đến quyền sở hữu thực tế của chủ sở hữu . Về  ½ căn nhà còn lại là của anh rể tôi , Tòa án cứ việc giải quyết tranh chấp theo pháp luật .

    -         Văn bản viết tay này bị Tòa án bác với lý do “ không có chứng thực của chính quyền ”, như vậy, quyền sở hữu của chị tôi bị tước đọat một cách nhẹ nhàng !

     Xin cho hỏi :

    * Nhận định của Tòa án có đúng Pháp luật không ?

    * Chị tôi phải dùng căn cứ pháp luật gì để kháng cáo để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình ?

    * Theo điều 13, Nghị định 70/2001/NĐ-CP :

    Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

    Câu : “Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.” phải được hiểu và vận dụng trong thực tế như thế nào ? Có ứng dụng được cho trường hợp nêu trên không ?

    Rất mong sự góp ý của các bạn.

     
    44545 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

9 Trang <1234567>»
Thảo luận
  • #11943   30/12/2008

    thuongluong306
    thuongluong306
    Top 100


    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2008
    Tổng số bài viết (644)
    Số điểm: 1670
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 36 lần


    Mâý hôm nay không thấy anh tranvinh_61 ở đâu, không biết anh chuẩn bị cho vụ kiện đến đâu rồi, anh Tranvinh_61 à, theo bác Tranvothienthu thì thời hiệu khởi kiện của C vẫn còn đó nhé, bây giờ chỉ còn xem xét đến việc C có những chứng cứ gì thuyết phục toà án mà thôi, nhưng theo tôi anh đừng có đi tìm các căn cứ pháp lý để cho B có được 1/2 căn nhà là xong đâu, mà phải chứng minh căn nhà là của A mới ổn!!
     
    Báo quản trị |  
  • #11944   31/12/2008

    thuongluong306
    thuongluong306
    Top 100


    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2008
    Tổng số bài viết (644)
    Số điểm: 1670
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 36 lần


    Cùng anh ONENIGHTSTAD đi du lịch nước ...Úc

    #ccc" align="center">

    Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu!

    Các bài viết không dấu sẽ bị xem là bài viết vi phạm!
    Bài viết vi phạm sẽ bị xóa!

    Đợi không thấy anh TranVinh_61 xuất hiện, vậy thì chúng ta hãy tạm gác vụ kiện của anh lại, theo chân anh ONENIGHTSTAND sang nước Úc du lịch, Thưa anh ONENIGHTSTAD anh nói rằng anh đi du học và đang hành nghề Luật ở nước ÚC vậy anh có thể cho các TV của lawsoft biết anh đã sang được bao lâu, anh học và hành nghề luật gì? ở Thành phố nào? hoạt động pháp luật ở đó ra sao?....Xin anh hãy chia sẻ.
     Xem trên tivi thấy nước Úc như một thiên đường với những thành phố rất phát triển hiện đại lộng lẫy, những bãi biển rất đẹp và thơ mộng, đặc biệt là những con chuột túi nhảy trên các thảo nguyên....xin anh hãy chia sẻ.
    Còn đây tôi xin sưu tầm mấy cái ảnh trên mạng chụp về nước Úc, không biết anh đã đến những nơi này chưa.

    Nhà hát Opera Sydney*
    Di sản thế giới UNESCO


    Nhà hát opera Sydney về đêm
     
    Thành phố Sydney nhìn từ trên cao với Nhà hát Opera nổi bật

    Bondi Beach

    Bãi biển Bondi

    17 nam di tim bai bien an toan nhat nuoc Uc
    Vivonne Bay - bãi biển số 1 nước Úc
    Giáo sư kiêm vận động viên lướt sóng Andrew

    Ảnh minh hoạ


    Trevor








     
    Báo quản trị |  
  • #11945   31/12/2008

    thuongluong306
    thuongluong306
    Top 100


    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2008
    Tổng số bài viết (644)
    Số điểm: 1670
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 36 lần


    Những hình ảnh đẹp của xứ sở chuột túi (ảnh sưu tầm)

    Tập tin:Kangaroo and joey03.jpg


     

    Kangaroo đỏ




               Mùa phượng tím xứ sở chuột túi



     
    Báo quản trị |  
  • #11946   31/12/2008

    lawyerhien
    lawyerhien
    Top 150
    Lớp 6

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (517)
    Số điểm: 7457
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 38 lần


    - Về thời hiệu khởi kiện, đúng như quan điểm của anh TranVoThienThu.
    - Về việc áp dụng văn bản pháp luật trong vấn đế nhập tài sản chung của vợ chồng: Trong trường hợp này áp dụng Nghị định 70/2001/NĐ-CP là đúng vì những lẽ sau:
    + Mục 4 điểm b Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định: "Đối với những vụ việc mà Tòa án thụ lý từ ngày 1-1-2001 thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết". Bạn ONENIGHTSTAND lưu ý rằng cả Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và 2000 đều là Luật nội dung. Qui định pháp luật đã chỉ rõ như vậy, bạn lấy cơ sở nào để áp dụng Luật năm 1986.
    + Nếu tôi giả định rằng Luật năm 1986 buộc việc nhập tài sản chung phải qua công chứng, chứng thực thì đến thời điểm xảy ra tranh chấp Luật năm 1986 cũng đã hết hiệu lực. Và Luật 2000 chấp nhận thỏa thuận trên thì bạn không có lý gì bác bỏ. Bạn cũng biết rằng do Luật năm 1986 không còn phù hợp với thực tế nên mới bị thay đổi và không có lý gì những vấn đề không phù hợp vói qui định cũ nhưng lại phù hợp với qui định mới nay lại bị bác bỏ.
    Tôi lấy một ví dụ: trước đây Luật hôn nhân và gia đình của nước ta công nhận hôn nhân thực tế, nhưng kể từ sau ngày 1/1/2003 nếu không đăng kí kết hôn thì dù họ có sống với nhau cả mấy chục năm thì pháp luật vẫn không công nhận họ là vợ chồng. Lúc này bạn không thể lập luận rằng theo Luật trước đó họ là vợ chồng hợp pháp.
    - Về tranh chấp của bạn Tranvinh-61 tôi có ý kiến như sau:
    + Ở đây bạn khoan bàn đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng vì nếu ông C chứng minh được đó là tài sản của ông C mọi thỏa thuận nhập tài sản chung của vợ chồng đều không được chấp nhận.
    + Về tranh chấp giữa ông A và ông C bạn lưu ý một số chứng cứ sau:
    1. Hợp đồng chuyển nhượng căn nhà trước đó.
    2. Giấy tờ thanh toán tiền chuyển nhượng.
    3. Lời khai của các nhân chứng (quan trọng nhất là người chủ bán nhà cho anh A - vì biết đâu anh C nhờ anh A đứng tên là có thật và khi đi thanh toán tiền thì anh C là người thanh toán trực tiếp).
    4. Có sự thỏa thuận nào giữa anh A và anh C trong việc mua bán này không. (Trước đây, do hạn chế trong các qui định của pháp luật, đất đai chưa có giá trị lắm, bên cạnh đó do phong tục tập quán của người việt nam mình hồi đó tin tưởng nhau là chính nên việc nhờ người khác đứng tên trên giấy tờ nhà đất tương đối phổ biến).
    5. Lời khai của anh A (Có thể trong một biên bản ghi lời khai nào đó anh A thừa nhận đại loại như: trước đây anh C có nhờ tôi đứng tên giùm nhưng sau đó anh C đã bán lại cho tôi và tôi đã trả đủ tiền cho anh C - giống như anh TranVoThienThu) đã nêu ở trên).
    Để nắm rõ nội tình sự việc bạn nên khách quan hơn một chút và lưu ý trọng chứng hơn trọng cung. Bạn cố gắng tìm hiểu kĩ lời khai của cả hai phía để trên cơ sở đó biết đâu bạn tìm được manh mói có giá trị cho mình.
    Lưu ý: Bạn đứng mất thời gian vào việc xác định tài sản của bà B, mà trước mắt bạn phải tập trung toàn bộ vào việc chứng minh tài sản trên là của ông A.
    Chúc bạn may mắn

    Luật s­ư L­ưu Thị Thu Hiền

    Tr­ưởng VP Luật s­ư Hiền và Liên danh

    374 Phan Bội Châu - Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk.

     
    Báo quản trị |  
  • #11947   03/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 75
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Cảm ơn bạn lethigam đã chuyển chủ đề này về Càfe Quán! Không có tranh luận thì không thể gọi là diễn đàn! Tại LawSoft không có nhiều chủ đề được tranh luận sôi nổi như tại chủ đề ở đây! Tôi đang mong ngóng tiếp tục cuộc tranh luận! Ăn tết xong chưa hả anh ONENIGHTSTAND?   
    Vấn đề về cái Nghị quyết của HĐTP TATC nên hiểu thế nào nhỉ?
    Theo lệnh của Cô chủ, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để phục vụ miễn phí những ai tham gia tranh luận tại chủ đề này!!!! 
    Kính mời!
     
    Báo quản trị |  
  • #11948   05/01/2009

    thuongluong306
    thuongluong306
    Top 100


    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2008
    Tổng số bài viết (644)
    Số điểm: 1670
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 36 lần


    Sức mạnh của Hùng biện

     Kính gửi chị lawyerhien, tôi thấy chị và Bác Tranvothienthu rất bất đồng (sắp dẫn đến "xung đột') với anh ONENIGHTSTAND, nhưng theo tôi có lẽ anh ONENIGHTSTAND tiếp cận vẫn đề theo luật pháp tư bản nên có điều gì đó khác khác chăng? Xem TiVi thấy bên tư bản hùng biện có sức mạnh ghê gớm, đôi khi không thấy luật sư đưa ra một căn cứ pháp lý nào vẫn thuyết phục được HĐXX.
            Để dẫn chứng cho luận điểm này tôi xin copy Bài bào chữa của luật sư Georges Graham Vest tại một phiên tòa xử kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Salle của the New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài bào chữa trên thế giới trong khoảng 100 năm qua.
         Bài bài bào chữa này không thấy  dẫn chứng một căn cứ pháp lý nào cả?

    Thưa quý ngài hội thẩm!

    Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra là kẻ thù chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu hết mực rồi có thể là một lũ vô ơn.

    Những người gần gũi thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được, rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần đến nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phúc chốc bởi hành động một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận. Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ ta đi, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.

    Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như trong lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi ta va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân bại danh liệt thì vẫn là con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, được làm kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù. Và một khi trò đời hạ màn, thần chết rước linh hồn ta đi để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ; Thì khi ấy còn bên nấm mồ con chó cao thượng của ta nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở ra cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã mất rồi.

     
    Báo quản trị |  
  • #11949   05/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    1/- Thuongluong306 đừng vội kết luận Luật sư Georges Graham Vest hùng biện không có căn cứ pháp luật. Những gì ông ta nói về con chó - một vật nuôi mà ai ai cũng quá hiểu, quá biết - theo qui định của Pháp luật Việt Nam tại điểm a khoản 1 điều 80 Bộ luật tố tụng dân sự gọi là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh vì nó quá rõ ràng mà mọi người đều biết và được Toà án thừa nhận. Có thể Pháp luật của quốc gia nơi Georges Graham Vest bào chữa cũng qui định như thế nên Luật sư này mới sử dụng kỷ năng bào chữa căn cứ vào tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Việc này hoàn toàn khác với hùng biện không căn cứ pháp luật.
    2/- Thuongluong306 đừng vội lo ngại "xung đột" xảy ra như bạn dự đoán, bởi ONENIGHTSTAND không phải hùng biện trên cơ sở căn cứ vào những tình tiết, sự kiện mà Pháp luật qui định là không phải chứng minh, mà ONENIGHTSTAND đã hùng biện hoàn toàn không có căn cứ pháp luật, nói nôm na là pháp luật không có điều khoản nào qui định như lời hùng biện của ONENIGHTSTAND, cho nên ONENIGHTSTAND không thể tìm được để tiếp tục tranh luận thì làm sao có chuyện "xung đột" ?
    3/- Vấn đề tiếp cận sự việc theo quan điểm pháp luật phù hợp cũng là một kỷ năng của người tiếp cận. Quan điểm của tôi là "nhập gia tuỳ tục" mới đạt hiệu quả cao nhất. Ở đây vụ việc xảy ra trên đất Việt Nam, do Toà Án Việt Nam xét xử với các đương sự đều là người Việt Nam và nguời ta hỏi là Toà xử đúng hay sai và đương sự cần phải làm gì, nghĩa là đúng hay sai hoặc cần làm gì đều phải căn cứ vào pháp luật Việt Nam, người ta không hỏi vụ việc như thế nếu Pháp luật của Úc thì xử như thế nào thì hà cớ gì mình phải tiếp cận sự việc theo Luật pháp Úc ? Hơn nữa, ONENIGHTSTAND từng nhiều lần cho biết mình được dạy bài học đầu tiên vào nghề Luật ở nước ngoài là phải biết kềm chế cảm xúc cá nhân, vậy nên chắc không có chuyện bạn ấy tiếp cận vấn đề theo Luật pháp tư bản như Thuongluong306 băng khoăng.
              Theo tôi, một Luật sư giỏi  không có nghĩa không có lúc bị dở ! Anh có phải thần thánh đâu mà lúc nào cũng đúng ? Thế cho nên, gỉa sử ONENIGHTSTAND có tự thừa nhận mình đã hùng biện không có căn cứ pháp luật cũng là chuyện bình thường. Ở đây mục đích của chúng ta là tranh luận để tìm ra chân lý được mọi người thừa nhận, cho nên quan điểm pháp lý của ai bị bác hay được ủng hộ cũng không có gì phải ngại hay hãnh diện mà tất cả chúng ta đều nên hài lòng khi đã cùng nhau tìm ra chân lý chung, có ích cho mọi người.

     
    Báo quản trị |  
  • #11950   07/01/2009

    tranvinh_61
    tranvinh_61

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/08/2008
    Tổng số bài viết (29)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Chúc mừng năm mói 2009 !

    #ccc" align="center">Chúc mừng năm mới ! Chúc các bạn một năm mới hạnh phúc , vạn sự như ý !
     
    Báo quản trị |  
  • #11951   07/01/2009

    tranvinh_61
    tranvinh_61

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/08/2008
    Tổng số bài viết (29)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    #ccc" align="left">  Sau  thời gian “ngâm cứu“, trở lại diển đàn thì thấy “là lạ“. Không biết việc đổi địa chỉ đến quán cà phê có làm “nhạt” tranh luận không ? Tôi hy vọng có cà phê đắng , thuốc thơm , bánh ngọt sẽ làm các bạn “mặn” thảo luận hơn . Bây giờ , tôi xin phép trở lại chủ đề.

    Như các trình bày trước : theo tôi đây là vụ án “2 trong 1” nên nếu xét về bản chất của tranh chấp thì “hồn ai nấy giữ”. Tôi trình bày tiếp về quyền hợp pháp của B :

     Quyền sở hữu của B trong khối tài sản chung vợ chồng ( với A ) được xác lập hợp pháp căn cứ vào các cơ sở pháp lý sau : 

                     +  Hợp đồng (thỏa thuận) nhập tài sản chung trong hôn nhân này được lập vào năm 1995 nên bị điều chỉnh theo Luật HN&GĐ 1986 và Pháp lệnh HĐDS 1991 ( có hiệu lực trước ngày 1/7/96)

                     + Theo Điều 16 Luật HN và GĐ năm 1986  : “ Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.”

                      + Theo Điều 13 Pháp lệnh HĐDS :

                                         " 1- Các bên có thể giao kết hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản.

                                          2- Đối với các loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản, đăng ký, hoặc có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước, thì các bên phải tuân theo các quy định đó."

                       + Theo Điều 14 Pháp lệnh HĐDS :

                                          " 1- Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác.

                                           2- Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên thoả thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng.

                                                    Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm các bên ký vào văn bản.

                                                     Nếu hợp đồng phải có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cơ quan công chứng Nhà nước chứng thực."

                           + Pháp luật trong thời kỳ này (1995) cho phép nhưng không có quy định ràng buộc về hình thức và thủ tục cho việc lập hợp đồng nhập chung tài sản trong hôn nhân và do đó không có quy định phải có chứng thực cho hợp đồng loại này (  thời điểm này Pháp luật chấp thuận rộng rãi mọi hình thức giao kết , kể cả giao kết miệng !)

                              + A (người chồng ) là chủ sở hữu tài sản hợp pháp ( có đầy đủ mọi giấy tờ sở hữu theo quy định Pháp luật – có đủ quyền năng của chủ sở hữu ) và hơn nữa ngay tại thời điểm sát nhập tài sản (1995) không có bất kỳ tranh chấp hoặc quyết định hợp pháp nào hạn chế đến quyền định đọat tài sản này ( tranh chấp “ hợp pháp” chỉ bắt đầu xuất hiện vào năm 2006 ).

         =>>  Quyền sở hữu của B trong khối tài sản chung vợ chồng đã được xác lập đúng pháp luật vào năm 1995. Như vậy , từ thời điểm đó về sau mọi xem xét về QSH tài sản của B ( tài sản hợp pháp của công dân) phải căn cứ vào quy định pháp luật dân sự vào thời điểm xác lập ( hoặc các quy định hồi tố , nếu có ).  Xử dụng mọi lý do , lý lẽ chủ quan  không có căn cứ pháp luật trong việc xem xét về tài sản của công dân là trái luật !

        Theo đó , nếu ngày nay B có “thiếu hiểu biết” hoặc vì lý do chủ quan mà nôm na cho rằng mình có ½ (hoặc 50%) trong khối tài sản chung đó để yêu cầu pháp luật xem xét , bào vệ thì cũng không có gì sai với tinh thần chung của pháp luật dân sự và tất nhiên điều này không phải là căn cứ pháp lý để xem xét hoặc suy diễn nhằm phủ quyết quyền sở hữu về tài sản cá nhân .

     Quyền sở hữu tài sản của B trong khối tài sản chung đã được xác lập, vậy nếu xuất hiện một người thứ 3 tranh chấp toàn bộ khối tài sản chung đó thì phải xử lý ra sao về quyền sở hữu tài sản này của B ? Xin các bạn cũng chú ý là B đang là “người thứ 3 ngay tình” và không có lỗi !!

    Ngày nay,  giả thiết rằng nếu vì “lý do chủ quan nào đó” mà phải xử dụng Pháp luật hiện hành để xem xét các sự việc đã qua thì truờng hợp cụ thể của vụ việc này cũng phù hợp  : đủ điều kiện vể hình thức lẩn nội dung cho việc xác lập tài sản chung (có giá trị lớn, tài sản phải đăng ký, . . . ) trong hôn nhân . Pháp luật hiện hành cho phép vợ chồng được chủ động thực hiện các giao dịch , thỏa thuận về tài sản chung , riêng ( theo nguyên tắc tự nguyện , tự thỏa thuận , không ràng buộc phải chứng thực ,công chứng, ... ) và nếu có tranh chấp xảy ra thì theo Khoản 3 Điều 5 nghị định 70/2001 /NĐ-CP quy định :

    Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng đã đăng ký quyền sở hữu trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng, thì vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên của cả vợ và chồng ; nếu vợ chồng không yêu cầu cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng ; nếu có tranh chấp, bên nào cho đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, thì có nghĩa vụ chứng minh.”

        == >> Tôi đang muốn tham khảo ở đây : ngày nay, văn bản pháp luật nào hoặc thậm chí là tinh thần của Điều Luật nào quy định hồi tố , cho phép bỏ qua quyền lợi hợp pháp ( hoặc xâm phạm đến QSH hợp pháp ) này của B mà chỉ cần xem xét đến quyền sở hữu của A ( chồng ) ?

     Nếu có , xin các bạn cho biết để tôi tham khảo ( cho khỏi ấm ức !! ) .  

     Nếu không có , cũng xin nhận xét , phản biện cho lập luận , dẩn chứng của tôi .

    Cũng để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật trong trường hợp này , tôi tạm đưa ra 2 giả định sau:

    Giả định 1:  Vào khoản năm 2005, A,B tranh chấp tài sản chung (ly hôn , . . .) và nhờ Tòa án giải quyết thì thỏa thuận nhập chung tài sản và các căn cứ pháp lý kèm theo có được xem xét theo pháp luật không ? Nói nôm na là B có được chia ½ tài sản trong khối tài sản chung không ? và tại sao ?

    Giả định 2:  Vào khoản năm 2005, A,B không có tranh chấp tài sản chung . Nhưng A bị chủ nợ kiện và bị quyết định kê biên tài sản để trả nợ . Theo các bạn, như vậy B buộc phải bán toàn bộ căn nhà ( là tài sản sở hữu chung hợp nhất ) hoặc vì tài sản riêng của A lúc này chỉ là ½ căn nhà trong khối tài sản chung hợp nhất đó nên chỉ có quyền bán ½ ( hoặc phát mãi ) để thi hành nghĩa vụ trả nợ cho người thứ 3 ?

                Mong nhận được nhiều ý kiến chia sẻ .

     
    Báo quản trị |  
  • #11952   07/01/2009

    tranvinh_61
    tranvinh_61

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/08/2008
    Tổng số bài viết (29)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện ?

    #ccc" align="center">Tôi cảm ơn sự tham gia nhiệt tình và những góp ý chân tình của các bạn . Lập luận của các bạn rất thuyết phục , tuy vậy tôi cũng xin có một số ý kiến như sau về thời hiệu , thời hiệu khởi kiện .

    Để có cái nhìn tổng quát, tôi xin dẩn chứng các quy định của pháp luật trước đây ( theo trình tự thời gian ) trong cách tính thời hiệu và thời điểm bắt đầu tính thời hiệu :

       * Quy định tại Điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 :  thời hiệu khởi kiện là 3 năm, kể từ thời điểm xảy ra vi phạm hợp đồng và  “ Đối với hợp đồng bị vi phạm trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày Pháp lệnh này có hiệu lực.”

       * Quy định tại Điểm b khoản 6 Nghị quyết Quốc hội ngày 28.10.1995 về thi hành BLDS 1995 : “Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây không quy định về thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện, thì áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu và thời điểm bắt đầu thời hiệu được tính từ ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực.”

      >>  Như vậy , trước ngày 01.01.2005 (ngày BLTTDS có hiệu lực) tranh chấp của giao dịch dân sự tính theo quy định của pháp luật đang có hiệu lực , tại thời điểm giao dịch xác lập, và nếu tranh chấp xảy ra trước khi Luật (hoặc Pháp lệnh) có hiệu lực mà các văn bản trước đó không quy định về thời hiệu , thì thời điểm bắt đầu thời hiệu được tính từ ngày Luật ( hoặc Pháp lệnh ) có hiệu lực. Nói nôm na là “kéo” thời điểm bắt đầu thời hiệu về ngày có hiệu lực của Luật ( hoặc Pháp lệnh ) để tính .

       Ngày nay , BLTTDS ( đang có hiệu lực thi hành hiện nay) không quy định cách tính thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện như các văn bản Pháp luật trước đây mà được quy định rất chặt chẻ , cụ thể như sau :

      ** Quy định tại Điểm 5 Nghị quyết số 32/2004/QH11 về thi hành BLTTDS : “Các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động phát sinh trước ngày Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây không quy định thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 159 của Bộ luật tố tụng dân sự.”

       ** Quy định tại  Điều 159 BLTTDS :
    " 1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
      2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan , tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
      3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:
       a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan , tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;
       b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu."

      >> Như vậy , ngày nay quy định về thời hiệu khởi kịện cho các tranh chấp dân sự bao gồm trong đó hai yếu tố : thời hạn (2 năm ) và thời điểm bắt đầu tính thời hiệu (kể từ ngày . . . bị xâm phạm).

      Trong Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31.3.2005 , tại Mục 2 Phần IV có hướng dẩn cụ thể cách tình thời hiệu (thời hạn) và thời điểm bắt đầu tính cho thời hiệu khởi kiện. Theo tôi, hướng dẩn ở Mục 2 Phần IV Nghị Quyết 01/2005 là phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 32/2004/QH11 và  Khoản 3 Điều 159 BLTTDS .  Mục 2 có hai mục nhỏ là 2.12.2 hướng dẩn về áp dụng Khoản 3 điều 159 BLTTDS.

     Mục 2.1 hướng dẩn :

    “  b)  Đối với vụ việc dân sự mà trong văn bản quy phạm pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 159 của BLTTDS về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu. Tuy nhiên, cần phân biệt như sau :

     b1) Nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2005, thì thời hạn hai năm, kể từ ngày 01/01/2005;

     b2) Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 01/01/2005, thì thời hạn hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

     b3) Nếu quyền yêu cầu phát sinh trước ngày 01/01/2005, thì thời hạn một năm, kể từ ngày 01/01/2005;

     b4) Nếu quyền yêu cầu phát sinh từ ngày 01/01/2005, thì thời hạn một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.”

    Mục 2.2 hướng dẩn :

    Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm và được xác định như sau :  . . .  ”

       Như vậy, nếu chỉ chọn riêng Mục 2.1 để nhận định là “đối với các tranh chấp trước đây , thời hiệu khởi kiện là 2 năm và được tính từ 01.01.2005, ngày BLTTDS có hiệu lực”, theo tôi là chưa đầy đủ , mâu thuẩn với Mục 2.2 và hơn nữa cũng không đúng với tinh thần của Pháp luật hiện hành.

      Có lẽ lời văn của câu b1) và b2) đã gây ra các cách hiểu khác nhau về thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện, nhưng nếu đọc kỹ thì thấy rằng Mục 2.1 đang hướng dẩn về “ thời hạn" và Mục 2.2 hướng dẩn cách tính “ thời điểm bắt đầu thời hiệu”  . Nói chung là :  thời điểm phát sinh tranh chấp là thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện và quy định này không phụ thuộc vào xảy ra trước hoặc từ ngày 01.01.2005 .    =>  theo đúng tinh thần quy định tại Điều 159 BLTTDS đã nêu ở đầu mục của Nghị Quyết 01/2005.

      => Theo quy định Pháp luật, vụ việc đang thảo luận này ( giao kết năm 1989 , phát sinh tranh chấp 1995 và khởi kiện 2006 ) có thời hiệu khởi kiện là 2 năm và thời điểm để tính thời hiệu là vào năm 1995 .  Do vậy , đây là 1 vụ việc (vụ án) dân sự đã hết thời hiệu khởi kiện .

    Mong nhận được phản biện , phân tích, góp ý của các bạn về nhận định này .

     
    Báo quản trị |  
  • #11953   08/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    Tôi sẽ tuần tự trao đổi với các bạn nói chung và tranvinh_61 nói riêng, từng vấn đề như sau :
    Vấn đề thứ nhất : Căn cứ pháp luật để Toà không xem xét tới quyền sỡ hữu 1/2 căn nhà của B :
     B đang là vợ trong thời kỳ hôn nhân với A, cho nên việc đưa B tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật. Trước Toà, cả A và B đều thừa nhận khi A còn độc thân thì A đã có 1 căn nhà là tài sản riêng, sau đó, khi có vợ thì A và vợ đã thoả thuận nhập căn nhà tài sản riêng của A vào khối tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, B đã thừa nhận căn nhà tài sản chung không phải do vợ chồng tạo lập mà là tài sản riêng của A nhập vào và vì là tài sản riêng lúc A chưa kết hôn với B nên B có thể không biết nguồn gốc căn nhà từ đâu mà A có. Nay C cho rằng căn nhà đó là của mình và chỉ nhờ A đứng tên hộ nên khởi kiện đòi lại. Toà đã tuyên A thua kiện, tức nhà đó đúng là của C, nghĩa là A đã lấy tài sản của C để nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng mình ! Đó là hành vi trái pháp luật, bởi khoản 2 điều 32 Luật HNGĐ 2000 ( kể cả điều 16 Luật HNGĐ 1986 ) chỉ qui định cho phép nhập tài sản riêng của mình ( chứ không phải của người khác ) vào khối tài sản chung của vợ chồng. A đã không chứng minh được căn nhà là tài sản riêng của mình lúc còn độc thân, do đó pháp luật phủ nhận quyền sỡ hữu của A đối với căn nhà này ngay từ thời điểm anh ta còn độc thân thì anh ta không có căn nhà nào để nhập vào tài sản chung với vợ, từ đó suy ra B cũng không có căn nhà nào được A nhập vào để có quyền sỡ hữu 1/2, việc B chiếm hữu căn nhà này ngay tình, liên tục, công khai là đúng nhưng thời gian chiếm hữa chưa đủ 30 năm để được công nhận là chủ sỡ hữu như qui định tại khoản 1 điều 247 Bộ luật dân sự 2005. Vì những lẻ và những căn cứ pháp luật vừa nêu, Toà không xem xét đến quyền sỡ hữu 1/2 căn nhà của B trong trường hợp này là đúng pháp luật.
    Trường hợp này B chỉ có thể đề nghị Toà xem xét tới công lao, chi phí của mình bỏ ra để tôn tạo, sửa chửa làm tăng giá trị sử dụng nhà, đất trong mười mấy năm chiếm hữu ngay tình của mình. Ngoài ra B còn có thể khởi kiện đòi A phải bồi thường do anh ta đã gian dối lấy tài sản người khác nhập vào tài sản chung của vợ chồng khiến B bị thiệt hại do bỏ công lao, chi phí tôn tạo, tu bổ làm tăng giá trị sử dụng "của gian" nay phải trả về đúng chủ của nó !

     
    Báo quản trị |  
  • #11954   08/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    Vấn đề thứ 2 : Thời hiệu khởi kiện của C còn hay hết ? :
    Trước tiên chúng ta phải thống nhất với nhau rằng Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP là để hướng dẫn thi hành một số qui định trong phần thứ nhất của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 ( có hiệu lực 01/01/2005 ), tức nội dung chủ yếu để áp dụng cho những trường hợp tranh chấp phát sinh kể từ ngày Luật này có hiệu lực và có qui định riêng cho những trường hợp tranh chấp xảy ra trước ngày Luật có hiệu lực.
    Mục 2.1, tiết b1 là qui định riêng cho những trường hợp phát sinh tranh chấp trước ngày Bộ LTTDS có hiệu lực, ghi rõ :"...... thời hạn 2 năm, kể từ ngày 01/01/2005". Như vậy chúng ta không thể có cách hiểu nào khác là Căn cứ pháp luật này đã qui định thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ 01/01/2005 và ngày 01/01/2005 chính là thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện mà pháp luật qui định cho những trường hợp phát sinh tranh chấp trước ngày BLTTDS có hiệu lực. . Nói nôm na là tất cả các trường hợp này, pháp luật đã xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện là ngày 01/01/2005.
    Mục 2.2 qui định :" Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm và được xác định như sau :  . . .  ” Như vậy qui định này chỉ áp dụng cho những trường hợp chưa xác định được thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện => chỉ áp dụng cho những trường hợp phát sinh tranh chấp từ ngày BLTTDS có hiệu lực theo qui định tại tiết b2 mục 2.1 ( bởi tất cả các trường hợp phát sinh tranh chấp trước ngày BLTTDS có hiệu lực đã được xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện là ngày 01/01/2005 ).
    Qua trình bày vừa nêu, cho thấy tiết b1 mục 2.1 hoàn toàn không mâu thuẩn với mục 2.2, cũng không "chỏi" với điều 159 BLTTDS hay Điểm b khoản 6 Nghị quyết Quốc hội ngày 28.10.1995. Vì vậy căn cứ vào tiết b1 mục 2.1 để khẳng định năm 2006 C còn thời hiệu khởi kiện là có cơ sở.

     
    Báo quản trị |  
  • #11955   08/01/2009

    thuongluong306
    thuongluong306
    Top 100


    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2008
    Tổng số bài viết (644)
    Số điểm: 1670
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 36 lần


    Bác TranVoThienthu đã giải đáp

         Anh TranVinh _61 thân mến, sau một thời gian dài không thấy anh xuất hiện, hoá ra anh đóng cửa dùi mài kinh sử. Khi tái xuất anh dẫn ra hàng loạt các quy định pháp luật tự cổ chí kim, cuối cùng cũng chốt lại những nhận định ban đầu là đòi 1/2 căn nhà cho chị B.
    Những phân tích và các căn cứ Pl của Bác Tranvothienthu đưa ra không biết có làm anh tâm phục khẩu phục không.?
     Xin bác Tranvothienthu đưa ra nhận định về 2 giả định mà anh TranVinh_61 đưa ra được không ạ?

     
    Báo quản trị |  
  • #11956   08/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    Vấn đề thứ 3 : Trao đổi thêm về vụ án :
    1/- Đây là vụ án C kiện A để đòi nhà và C thắng kiện tức nhà đúng là của C ( căn cứ vào phán quyết có hiệu lực pháp luật của Toà ), không phải là vụ án B kiện C đòi chia tài sản chung cho nên chúng ta không cần thiết phải bàn sâu về tính hợp pháp của việc nhập tài sản riêng của A vào khối tài sản chung của họ. Thế nhưng, tranvinh_61 đã không tập trung vào việc chính là phải chứng minh A là người có quyền sỡ hữu căn nhà đó lúc còn độc thân, lại cứ chú tâm tìm các căn cứ pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho B, trong khi thực tế nói nôm na thì B là người đang quản lý, sử dụng "nhà gian". Điều đó khiến tôi suy luận : phải chăng tranvinh_61 thừa biết nhà không phải của A lúc độc thân nên cố tìm và hy vọng có những căn cứ pháp luật nào đó để bảo vệ B nhằm "cứu vãn" cho vợ chồng A+B chí ít cũng được 1/2 căn nhà ?
    2/- Tôi nói tranvinh_61 thừa biết nhà không phải của A lúc độc thân là có 2 trường hợp : thật sự A chỉ đứng tên dùm cho C và đúng là nhà của A nhưng A không có chứng cứ thuyết phục để chứng minh, hoặc có chứng cứ nhưng bị toà bỏ ra ngoài không xem xét hay đánh giá chứng cứ không phù hợp qui định của pháp luật,  nên bị toà tuyên 50% là của C ( theo cách nói của tranvinh_61 ). Nếu rơi vào trường hợp thứ 2 thì tranvinh_61 nên giúp A, B bằng cách hướng dẫn họ khiếu nại xin kháng nghị GĐT với lý do là các cấp toà sơ, phúc thẩm không xem xét chứng cứ của A hoặc đánh giá chứng cứ của A không đúng qui định của pháp luật. Riêng việc Toà không xem xét tới quyền sỡ hữu 1/2 căn nhà của B và việc C khởi kiện năm 2006 và được Toà thụ lý thì ở vấn đề thứ 1 và thứ 2 tôi đã chứng minh là Toà làm đúng pháp luật nên đó không phải là lý do để xin kháng nghị GĐT. Khi nhận đơn khởi kiện của đương sự, việc đầu tiên là Toà xem xét rất kỷ lưỡng vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và đương sự có còn thời hiệu khởi kiện hay không. Bởi đó là những tình tiết dễ phát hiện nhất, nếu vi phạm sẽ dễ dàng bị huỷ án kéo theo nhiều hệ luỵ cho Thẩm phán.

     
    Báo quản trị |  
  • #11957   09/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    Theo đề nghị của thuongluong306, tôi lại đăng đàn !

    Nhưng trước khi có ý kiến về hai giả định của tranvinh_61, tôi có hai đề nghị :
    1/- Đề nghị tranvinh_61 nói rõ vài chi tiết sau đây :
    a/- Ở giả định 1 :
    - Tài sản tranh chấp là căn nhà ?
    - Nội dung tranh chấp : A cho rằng căn nhà là tài sản riêng của mình từ lúc chưa kết hôn ( chứng cứ là giấy tờ A đứng tên sỡ hữu hợp pháp ) cho tới lúc khởi kiện, còn B cho rằng đó là tài chung của hai vợ chồng từ 1995 ( chứng cứ là giấy thoả thuận nhập tài sản chung lập năm 1995 ) ?
    b/- Ở giả định 2 :
    - Tài sản không tranh chấp là căn nhà ?
    - Không tranh chấp vì đồng thoả thuận căn nhà là tài sản chung của vợ chồng hay không tranh chấp vì không thoả thuận đó là tài sản chung nhưng chưa khởi kiện nhờ Toà xét xử ?
    2/- Đề nghị các bạn khác cùng tham gia thảo luận, chứ chỉ mỗi mình tranvinh_61 đặt vấn đề, mình tôi giải đáp và mình thuongluong306 chứng kiến thì giống như tôi là 1 học trò phải "trả bài" cho "thầy tranvinh_61" trước sự giám sát của "giám thị thuongluong306", đâu còn ý nghĩa đây là một diễn đàn hả các bạn ? Tôi sẽ im lặng vài ngày ( sau khi có trình bày của tranvinh_61 theo đề nghị 1 của tôi ) để các bạn khác trả lời trước nhằm làm cho diễn đàn của chúng ta thêm phong phú, sinh động. Nào, xin mời các bạn............

     
    Báo quản trị |  
  • #11958   09/01/2009

    thuongluong306
    thuongluong306
    Top 100


    Cao Bằng, Việt Nam
    Tham gia:17/10/2008
    Tổng số bài viết (644)
    Số điểm: 1670
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 36 lần


       Hôm nay đọc lại những gì anh TranVinh_61 viết, tôi bất chợt giật mình, diễn đàn này có hàng mấy chục nghìn thành viên, lỡ đâu người của TA xét xử vụ này đọc được thì sẽ ra sao?
       Thứ nhất: khi đọc những gì anh Tranvinh đã viết chắc chắn sẽ chạm lòng họ.
       Thứ 2: Những giải đáp của bác Tranvothienthu không những không giúp được những mong muốn của anh Tranvinh mà còn giúp Toà án "chặn hết đường đi" của anh TranVinh rùi, có lẽ lần này anh TranVinh còn gặp khó khăn hơn nhiều để chứng minh 1/2 căn nhà là của B. Anh cứ đến nhà Bác Tranvothienthu nhé.

     
    Báo quản trị |  
  • #11959   10/01/2009

    tranvinh_61
    tranvinh_61

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/08/2008
    Tổng số bài viết (29)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    #ccc" align="center">

    #ccc" align="left"> Đọc câu  “ tôi là 1 học trò phải "trả bài" cho "thầy tranvinh_61" trước sự giám sát của "giám thị thuongluong306", đâu còn ý nghĩa đây là một diễn đàn hả các bạn ? ” của bạn TranVoThienThu bỗng dưng tôi này ra một “sáng kiến” để làm cho các tranh luận của chúng ta tại chủ đề này sôi nổi hơn : đề nghị bạn thuongluong306 hoặc một bạn nào có hứng thú với chủ đề “rắc rối” này đóng vai trò là một “thẩm phán trên diển đàn” . Trước mắt , tôi nhận thấy bạn thuongluong306 phù hợp với vai trò này  . Các bạn và bạn thuongluong306 nghỉ sao về đề nghị này ?

    Thêm một “Thẩm phán trên diển đàn” là có thêm các quan điểm , căn cứ pháp lý để chủ đề này có hướng giải quyết chính xác hơn và biết đâu chính nhờ điều này lại giúp cho một ai đó có “trang bị” pháp luật đúng đắn để biết cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và . . . sống tốt hơn . Theo tôi , đây là một mục đích cao đẹp , nên rất mong các bạn bớt chút thời gian nhiệt tình tham gia .  

     
    Báo quản trị |  
  • #11960   10/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    Nhưng tôi nghĩ trước tiên tranvinh_61 nên cho biết rõ những thông tin mà ở đề nghị 1 ngày 8/01/2009 tôi đã nêu thì việc tranh luận mới gọn gàng, cụ thể được.

     
    Báo quản trị |  
  • #11961   11/01/2009

    lawyerhien
    lawyerhien
    Top 150
    Lớp 6

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (517)
    Số điểm: 7457
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 38 lần


    Hình như bạn ONENIGHTSTAND ăn hết tết ở bên nước bạn lại về ăn tết ở Việt Nam hay sao mà vẫn chưa thấy có ý kiến trở lại vậy? Đây chỉ là một diến đàn trao đổi, ai cũng có quyền đưa ra ý kiến và bảo lưu hoặc thay đổi ý kiến trao đổi của mình. Tôi không biết bạn ONENIGHTSTAND thay đổi hay vẫn bảo lưu quan điểm của mình nữa ........
    Bạn Tranvinh61 cũng chưa có ý kiến phản biện lại quan điểm của anh TranVoThienThu .....

    Luật s­ư L­ưu Thị Thu Hiền

    Tr­ưởng VP Luật s­ư Hiền và Liên danh

    374 Phan Bội Châu - Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk.

     
    Báo quản trị |  
  • #11962   12/01/2009

    TranVoThienThu
    TranVoThienThu
    Top 75
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/04/2008
    Tổng số bài viết (727)
    Số điểm: 3910
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 86 lần


    Trong thời gian chờ đợi các bạn có ý kiến về vấn đề của tranvinh_61, tôi xin nêu một số quan điểm của mình đối với nội dung chia tài sản chung theo Nghị quyết 02/2004 để cùng tham khảo :
    - Theo như Nghị quyết 02 qui định thì muốn được Toà thụ lý giải quyết chia tài sản chung, các đương sự phải có đủ 2 điều kiện :
    1- Không có tranh chấp về hàng thừa kế, tức mọi người đều thừa nhận tư cách thừa kế của nhau
    2- Thoả thuận bằng văn bản rằng di sản là tài sản chung chưa chia.
         * Thông thường, di sản là bất động sản của Cha, Mẹ để lại không khi nào "bỏ không", trái lại từ lúc cha, mẹ còn sống, bất động sản này đã do người con cùng ở chung với cha, mẹ quản lý, sử dụng. Cho nên, muốn có đủ 2 điều kiện như trên là vô cùng khó, người ta không chối bỏ tư cách đồng thừa kế của những anh, chị, em ruột, nhưng người đang quản lý, sử dụng di sản thì không dễ gì thoả thuận đó là tài sản chung chưa chia, mà họ sẽ cho rằng khi còn sống, cha mẹ đã "cho riêng" mình bằng "miệng", chứng cứ chính là việc họ công khai sử dụng, quản lý di sản đó từ lúc cha mẹ còn sống cho tới lúc đặt vấn đề chia tài sản chung ( tức hết thời hiệu yêu cầu về thừa kế ) mà không ai khiếu nại ! Đừng tưởng họ nói vậy là trái pháp luật ! Họ nói đúng pháp luật đấy ! Bởi nếu có ai cho rằng đó là di sản của Cha, Mẹ thì tại sao không khởi kiện đòi chia thừa kế trong thời hiệu qui định của Pháp luật những tới 10 năm ? Kết luận : Nếu 1 đồng thừa kế đang quản lý, sử dụng tài sản mà những người đồng thừa kế khác cho rằng là tài sản chung chưa chia, không chịu ký tên vào bản thoả thuận đó là tài sản chung chưa chia của các đồng thừa kế thì coi như Toà không thụ lý để giải quyết theo pháp luật chia tài sản chung !
           Như vậy, thực chất Nghị quyết 02/2004 được ra đời chỉ để "vớt vát" cho những trường hợp " hiếm hoi" là đã hết thời hiệu yêu cầu về thừa kế nhưng người trong cuộc vẫn còn ý chí san sẻ cho người cùng hàng thừa kế với mình, hoặc tài sản chung được xác định là đang cho người khác thuê, mướn, mượn và chưa thuộc QSD của bất kỳ người nào trong các đồng thừa kế.

     
    Báo quản trị |